Tổ Bịp

  • 4835 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 73: Gặp nạn ở khách điếm
Đến ngày thứ ba, chúng tôi đã tới được khách điếm mà Quang Đầu đã nhắc đến ấy.
Sở dĩ nó nổi tiếng là vì cả rìa sa mạc Đằng Cách Lý chỉ có độc nhất một khách điếm này, dù là người sống trong sa mạc hay kẻ lữ hành xuyên qua biển cát đều biết đến nó.
Chủ khách điếm là một người đàn ông trung niên mặt đỏ gay, trên mặt hằn sâu những vết tích của gió cát. Quang Đầu đi hộ tiêu trên con đường này hai mươi năm thì ông ta cũng mở khách điếm ở đây tròn hai mươi năm, hai người họ quen thân nhau lắm.
Chủ khách điếm bảo:
“Nhóm người Quang Đầu đã đợi các cậu ở đây suốt mấy ngày, còn cho người vào sa mạc tìm kiếm nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu nên đã đi rồi. Trước khi đi ông ấy có nhắn lại, nếu các cậu tới thì phải tiếp đãi cho chu đáo.”
Chủ khách điếm tính tình rất hào sảng. Người có thể sinh tồn lâu dài giữa chốn sa mạc này, tính cách không thể không hào sảng. Nghe nói tôi là bạn của Quang Đầu, ông liền bê vò rượu ra, đòi uống với tôi. Tôi đã chịu đựng khổ sở trong sa mạc suốt nhiều ngày, cụ thể là bao nhiêu cũng chẳng rõ, cứ tưởng cơn nghiện rượu đã bị cái đói làm cho khô kiệt, nào ngờ vừa nhìn thấy rượu, nước miếng đã ứa ra nơi cổ họng.
Chủ khách điếm sai tiểu nhị cắt một đĩa thịt bò lớn, nướng hai cái bánh, lại lấy hai cái bát tô. Ông ôm vò rượu rót đầy tràn hai bát, một bát đặt trước mặt ông, một bát đặt trước mặt tôi.
Chúng tôi bắt đầu chơi trò đoán quyền phạt rượu. Cách ra quyền ở miền Bắc và tửu lệnh đều thông dụng như nhau, phàm là vùng phía Bắc sông Hoàng Hà, khi uống rượu đều hô lệnh kiểu này. Đầu tiên hô “Cao thăng”, đây là câu chúc cát tường, tương đương với hiệu lệnh “chuẩn bị” trong thi đấu. Sau đó hai người cùng hô mười con số từ một đến chín, những câu đi kèm phía sau cũng toàn là lời hay ý đẹp: Nhất chi mai, ca lưỡng hảo, tam tinh chiếu, tứ quý tài, ngũ khôi thủ, lục lục thuận, thất cái xảo, bát thất mã, cửu trường cửu, thập mãn đường. Mỗi khi hô một câu thì phải xòe ngón tay ra, làm thủ thế biểu thị con số. Nếu con số đối phương hô cộng với số mình hô bằng đúng tổng số ngón tay mình ra hiệu thì mình thắng, kẻ thua phải uống rượu.
Người miền Bắc, đặc biệt là người Tây Bắc tính tình phóng khoáng, nói vài câu thấy hợp ý là muốn uống với nhau ngay.
Chủ khách điếm xuất quyền rất giỏi, tửu lượng cũng cao. Tửu lượng của tôi không kém nhưng kỹ thuật xuất quyền lại quá dở. Chưa đầy nửa canh giờ, một mình tôi đã uống hết khoảng nửa vò.
Rượu vào lời ra, tôi không kìm được cái mồm nữa, đứng phắt dậy, khoa tay múa chân, coi trời bằng vung. Tôi bảo đời tôi đã đi khắp Nam Bắc, gặp vô số anh hùng hào kiệt, nhưng kẻ có thể dung hợp mọi kỹ thuật giang hồ, học hỏi sở trường của trăm nhà thì chỉ có một người, người đó chính là tôi, cũng là kẻ tối nay đã nốc cạn nửa vò rượu mạnh.
Giọng tôi rất to rất lớn, thu hút sự chú ý của tất cả mọi người trong quán, tiểu nhị cũng xán lại gần.
Tiểu nhị nói:
“Khách điếm chúng tôi mở hai mươi năm nay, anh hùng hảo hán lai vãng tôi gặp nhiều rồi, còn nhiều hơn cả số lừa tôi từng thấy. Những hảo hán đó đều có tuyệt kỹ hộ thân, còn anh có tuyệt kỹ gì?”
Câu hỏi của tiểu nhị làm tôi nghệt mặt ra. Ngẫm kỹ lại, tuy tôi am hiểu các môn phái giang hồ nhưng chẳng nghề nào tinh thông. Nói về tạp kỹ thì chỉ biết đi dây, mà đi dây trong giang hồ đến hạng bét cũng chẳng được xếp vào, không dám mở miệng khoe khoang; bói toán thì học nghệ không tinh, dựa vào nó kiếm cơm cũng khó; buôn bán đồ cổ thì chưa sờ được đến cái ngưỡng cửa, tôi trong nghề làm giả cổ chỉ là một vai tôm tép; từng làm Lão Dung nhưng sau này bỏ nghề, tay nghề cũng mai một; muốn làm Lão Thiên nhưng tiếc là thiên tư không đủ… Hiện tại chỉ đi theo chú Báo Tử, trà trộn vào tiêu cục đi áp tải. Quả thực, tôi có cái gì đâu? Tôi chẳng có gì cả, tôi có gì đáng để khoe khoang?
Thế nhưng câu hỏi của tiểu nhị đã dồn tôi vào thế bí, tất cả mọi người đều đang nhìn chằm chằm, tôi phải lấy lại cái thể diện này, tôi không thể để mất mặt được. Vừa nhìn thấy Lệ Mã ngồi bên cạnh, tôi nảy ngay ra ý định.
Tôi dương dương tự đắc kéo Lệ Mã đứng dậy cho mọi người xem, tôi bảo:
“Các người đã bao giờ thấy người đàn bà nào đẹp hơn thế này chưa? Nói cho các người biết, đây là vợ tôi.”
Lệ Mã vốn trùm khăn che mặt, tôi nương theo cơn say giật phắt tấm khăn trên mặt cô ấy xuống. Vẻ đẹp của Lệ Mã rực rỡ như ánh mặt trời, chiếu sáng đôi mắt của từng người ở đó. Đám đông ồ lên một tiếng kinh ngạc.
Tiểu nhị thấy tôi say quá bèn trêu chọc:
“Anh lừa vợ người khác cùng nhau đi trốn chứ gì?”
Tôi đáp:
“Nói bậy, vợ tôi là vợ tôi, sao lại là lừa vợ người khác? Các người nhìn đây, tôi ôm hôn cô ấy cho mà xem.”
Tôi ôm lấy Lệ Mã, ghé môi sát lại gần cô ấy. Lệ Mã thấy bao nhiêu người đang nhìn mình thì thẹn đỏ bừng mặt. Tôi hôn cô ấy một cái, cô ấy không phản kháng nhưng ngượng ngùng cúi thấp đầu.
Tôi đắc ý nói:
“Thấy chưa? Đây là vợ tôi. Chúng tôi từ bên kia sa mạc tới, vừa băng qua sa mạc Đằng Cách Lý. Chính tôi đã đưa cô ấy vượt qua sa mạc Đằng Cách Lý, các người nói xem, tôi có phải đấng nam nhi hay không?”
Đám đông ồn ào, kẻ bảo phải, người bảo không.
Ở đầu cầu thang tầng hai có một người đàn ông đứng đó nãy giờ, đầu đội mũ vải trắng, chiếc mũ che khuất nửa khuôn mặt gã. Tất cả mọi người đều hùa theo trêu chọc, duy chỉ gã là im lặng.
Tôi chỉ tay lên cầu thang bảo:
“Người anh em trên lầu, xuống làm vài ly đi.”
Kẻ đó không nói một lời, chỉ phất tay rồi đi thẳng vào phòng.
Tôi tiếp tục đứng dưới lầu khoác lác:
“Đời tôi đi Nam về Bắc, nay đã chán chốn giang hồ. Lần này tôi đến chỗ các người là đi áp tiêu, đi xong chuyến này tôi sẽ cầm mười vạn ngân phiếu, rửa tay gác kiếm, tìm một chốn thế ngoại đào nguyên cùng vợ tôi đẻ một bầy con.”
Lệ Mã không hiểu tôi đang nói gì, cô ấy thấy tôi hào khí ngất trời thì trong mắt tràn ngập vẻ khâm phục; cô ấy thấy tôi cười tươi roi rói thì cũng mỉm cười theo.
Tôi thấy kẻ đứng ở đầu cầu thang ban nãy đang nấp sau cửa sổ nhìn trộm xuống lầu, bèn lớn tiếng quát:
“Người anh em trên lầu kia, xuống đây uống rượu. Nam tử hán đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, lòng dạ phóng khoáng, sao cứ lén lút thụt thò như con chuột thế?”
Kẻ trên lầu lập tức rời khỏi cửa sổ.
Tôi thấy gã nực cười quá, cứ lấm la lấm lét như đàn bà, bèn cười vọng lên:
“Ngươi không phải hảo hán, chẳng phải hảo hán đâu.”
Kẻ đó không đáp lại.
Chủ khách điếm bảo:
“Ngai Cẩu, cậu say rồi, mau đi ngủ đi.”
Tôi còn muốn uống tiếp với Chủ khách điếm nhưng ông không chịu uống nữa, sai hai tiểu nhị dìu tôi vào phòng.
Rượu làm kẻ hèn nhát cũng to gan. Đêm đó, men rượu khiến tôi nói năng lung tung dưới lầu, tự cho mình là kẻ không gì không làm được. Đàn ông khi say đều tự cao tự đại, tưởng mình ghê gớm lắm.
Đêm ấy, tôi và Lệ Mã ngủ trong phòng đến nửa đêm thì bất chợt bị tiếng ồn ào làm tỉnh giấc. Ngoài cửa khách điếm vang lên tiếng đập cửa dồn dập, xen lẫn tiếng la hét:
“Chủ quán, mở cửa, mở cửa mau!”
“Đừng để thằng nhãi say rượu chạy thoát.”
Tôi bò dậy, ghé mắt qua khe cửa sổ nhìn ra ngoài, thấy bên dưới kín đặc những bó đuốc, dưới ánh đuốc là những cái đầu người nhấp nhô.
Lệ Mã cũng đã dậy, nhìn thấy đám người đó, cô ấy sợ hãi ngã ngồi xuống đất.
Đám người này rõ ràng nhắm vào chúng tôi, nhưng họ là ai, tại sao lại muốn làm khó chúng tôi thì tôi mù tịt.
Tôi kéo Lệ Mã chạy ra ngoài, tìm đường thoát thân trong khách điếm, nhưng bên ngoài tường vây toàn người là người, đâu đâu cũng thấy ánh đuốc. Đám đông hò hét ầm ĩ, ánh lửa soi sáng như ban ngày. Lúc này dù tôi có liều mạng đưa Lệ Mã trèo tường ra ngoài cũng sẽ bị tóm gọn.
Tôi dắt Lệ Mã chạy khắp nơi như con ruồi mất đầu, trên lầu bắt đầu có tiếng mở cửa, khách trọ lê bước chân nặng nề ra xem, tôi chẳng còn chỗ nào để trốn.
Đột nhiên, có người túm lấy tôi từ phía sau, theo phản xạ tôi xoay người chộp lấy cổ tay hắn, nhưng không sao lay chuyển nổi, tay hắn rất khỏe.
Người đó nói:
“Ngai Cẩu, mau đi theo tôi.”
Tôi nhìn kỹ, hóa ra là ông chủ khách điếm. Ông dẫn chúng tôi xuống bếp, gạt đống củi ra, bên trong lộ một cái miệng hang tối om. Chủ khách điếm đẩy chúng tôi vào, tôi chẳng kịp suy nghĩ nhiều, vội chui tọt vào trong cùng Lệ Mã.
Phía sau truyền đến tiếng sột soạt, Chủ khách điếm đã xếp củi lại như cũ.
Tôi dắt tay Lệ Mã, dò dẫm từng bước về phía trước, bên trong tối đen như mực, chẳng nhìn thấy gì cả, ngay đến Lệ Mã ở sát bên cạnh cũng không thấy đâu, tôi chỉ có thể cảm nhận được hơi thở và nỗi hoảng sợ của cô ấy. Tôi ôm cô ấy vào lòng, cơ thể cô ấy run lên bần bật như chú chim non trốn dưới tán lá trong cơn giông bão.
Cô ấy đang rất sợ hãi. Đây là lần đầu tiên tôi cảm nhận được nỗi sợ của cô ấy. Trước đây, khi đối mặt với tuyệt cảnh trong sa mạc, tính mạng treo đầu sợi tóc, cô ấy cũng chưa từng sợ hãi đến thế.
Đám người bên ngoài tôi chẳng quen ai. Chắc chắn họ nhắm vào Lệ Mã.
Tôi vỗ vai Lệ Mã trấn an:
“Đừng sợ, đừng sợ, có anh ở đây, em không phải sợ gì cả. Chúng ta đã thoát khỏi sa mạc rồi, chúng ta chẳng sợ gì nữa đâu.”
Lệ Mã không hiểu tôi nói gì, người cô ấy vẫn run lên.
Chúng tôi trốn trong hang rất lâu, sau thấy không còn nguy hiểm gì nữa mới ngủ thiếp đi.
Đến khi tôi tỉnh dậy, trong hang đã có ánh sáng. Chủ khách điếm cầm đuốc đứng trước mặt tôi. Lệ Mã vẫn đang ngủ say. Có lẽ cô ấy đã quá kinh hãi, cần được nghỉ ngơi.
Chủ khách điếm nói:
“Tiểu huynh đệ, đám người đó đi rồi.”
Tôi hỏi:
“Bọn họ là ai vậy?”
Chủ khách điếm đáp:
“Họ sống ở vùng phía Tây sa mạc Đằng Cách Lý, kéo dài đến tận phía Bắc Cam Túc. Thế lực của đám người này rất lớn, ngay cả quan phủ và quân đội cũng không dám dây vào.”
Tôi thắc mắc:
“Họ tìm tôi làm gì? Tôi đâu có đắc tội với họ.”
Chủ khách điếm nói:
“Cậu không đắc tội với họ, nhưng người phụ nữ cậu mang theo đã đắc tội. Thật ra cũng chẳng tính là đắc tội…”
Tôi ngạc nhiên:
“Vợ tôi? Lệ Mã ư? Lệ Mã chỉ là phận nữ nhi yếu đuối, sao có thể chống đối họ được?”
Chủ khách điếm giải thích:
“Tình hình cụ thể thế nào tôi cũng không rõ, chỉ nghe họ nói nhất định phải bắt người phụ nữ này về.”
Tôi thất kinh hỏi:
“Sao họ biết Lệ Mã ở đây?”
Chủ khách điếm trách:
“Đều tại cậu cả. Cậu uống say rồi nói năng lung tung, lại còn giật khăn che mặt của Lệ Mã xuống, để mọi người thấy được dung mạo cô ấy.”
Tôi cãi:
“Nhìn thấy dung mạo Lệ Mã thì đã sao? Chẳng lẽ mặt mũi sinh ra không phải để người khác nhìn à?”
Chủ khách điếm lắc đầu:
“Cậu không hiểu đâu, đó là quy tắc của họ. Phụ nữ không được phép lộ mặt ra ngoài, nếu không sẽ bị coi là dâm đãng, phải chịu trừng phạt.”
Tôi nói:
“Chẳng lẽ chỉ vì mặt Lệ Mã bị người trong quán nhìn thấy mà họ muốn gây phiền phức cho cô ấy?”
Chủ khách điếm trầm ngâm:
“Tuyệt đối không chỉ đơn giản như vậy…Có thể cô ấy có ẩn tình gì đó chưa nói với cậu.”
Tôi bảo:
“Tôi không nói được tiếng của cô ấy, cô ấy cũng chẳng nói được tiếng của tôi.”
Chủ khách điếm hỏi:
“Vậy sao, thế hai người quen nhau thế nào?”
Tôi kể lại chuyện các tiêu sư gặp cô ấy kéo một bộ xương khô ở rìa sa mạc, tôi đưa cô ấy về ngôi nhà đẹp đẽ, xa hoa của làng, rồi cô ấy phóng hỏa đốt nhà, theo chân tôi đuổi theo đoàn vận tiêu…
Chủ khách điếm thốt lên:
“Vợ cậu quả không đơn giản, những việc cô ấy làm đến đàn ông bình thường cũng chẳng làm được.”
Chủ khách điếm ngừng một chút rồi nói tiếp:
“Cậu là bạn của Quang Đầu, tôi cũng là bạn của Quang Đầu, bạn của bằng hữu cũng là bạn. Ở nhà nhờ cha mẹ, ra ngoài nhờ anh em, thêm một người bạn là thêm một con đường, bớt một người bạn là bớt một bức tường che chắn. Vợ cậu là một kỳ nữ, cô ấy không đơn giản đâu. Giờ đám người bên ngoài đã đi rồi, hai người mau rời khỏi đây, bọn họ chắc chắn sẽ quay lại tìm đấy.”
Tôi kéo Lệ Mã đi ra phía cửa hang, Chủ khách điếm nói với theo:
“Dưới gốc cây có buộc một con ngựa, yên cương cũng thắng sẵn rồi, hai người mau cưỡi ngựa chạy về hướng Hạ Gia Nham. Nếu thuận lợi, trong vòng ba ngày sẽ đến được Hạ Gia Nham, đuổi kịp bọn họ. Họ áp tải tiêu nên đi chậm lắm.”
Chúng tôi chui ra khỏi hang, thấy trời đã sáng rõ, trên mái nhà khách điếm có một con gà trống đang đi đi lại lại, có lẽ ban nãy gáy mệt rồi. Giữa sân khách điếm có một cây táo lớn, dưới gốc cây buộc một con ngựa.
Tôi và Lệ Mã nhảy lên ngựa, vừa ra khỏi khách điếm liền quất roi phi nước đại.
Chạy được một quãng xa, ngoảnh lại không thấy truy binh, tảng đá đè nặng trong lòng tôi rốt cuộc cũng được trút bỏ. Tôi ghìm cương cho ngựa đi chậm lại, bụng thấy đói cồn cào. Lệ Mã lấy từ trong túi vải phía sau ra bánh và nước. Không ngờ Chủ khách điếm chu đáo đến thế, chuẩn bị sẵn cả lương khô và nước uống cho chúng tôi. Quả đúng là “ra ngoài nhờ anh em”.
Đến giữa trưa, chúng tôi nhìn thấy một thị trấn phía trước. Đây là thị trấn đầu tiên chúng tôi gặp sau khi ra khỏi sa mạc. Nhìn dòng người đi lại trên phố, bỗng nhiên tôi cảm thấy được sống là điều hạnh phúc biết bao.
Chợ búa người qua kẻ lại tấp nập, các sạp hàng bày tràn cả ra mặt đường, cưỡi ngựa không qua được nên chúng tôi nhảy xuống, dắt ngựa đi bộ.
Phụ nữ trong chợ đều che mặt, Lệ Mã cũng vậy. Chúng tôi chậm rãi đi qua khu chợ, rất nhiều người tò mò nhìn chúng tôi. Tôi không hiểu tại sao họ lại nhìn như thế.
Khi sắp đi đến cuối phố, đột nhiên từ bên đường vọt ra một gã đàn ông, ria mép để hai cái râu vểnh lên như dấu ngoặc, gã xì xà xí xố với tôi một tràng. Tôi chẳng hiểu gã nói gì, cũng không biết phải đáp lại ra sao. Lệ Mã bước vội lên trước, dùng tiếng Ba Tư nói chuyện với gã. Gã kia vừa nói chuyện với Lệ Mã vừa dùng đôi mắt đảo như rang lạc nhìn tôi chằm chằm. Sau đó, Lệ Mã kéo tôi đi, bỏ lại ánh mắt kinh ngạc của gã đàn ông sau lưng.
Gã là ai, gã nói gì với Lệ Mã, tôi hoàn toàn không hay biết.
Lệ Mã đi rất nhanh, bước chân kiên định, trông cô ấy có vẻ đang tức giận.
Chúng tôi cưỡi ngựa đi về phía mặt trời, trời sắp tối thì đến một ngôi làng.
Ngoài làng có một đền thờ. Trên đường làng vắng tanh, mọi người đều đã vào trong đền cả rồi. Lệ Mã đưa dây cương cho tôi, chỉ vào một cây bạch dương thẳng tắp, rồi quay người đi về phía ngôi đền.
Tôi hiểu ý cô ấy, cô ấy bảo tôi đứng đợi dưới gốc cây bạch dương.
Tôi nhìn Lệ Mã bước vào tòa nhà có mái vòm màu trắng vô cùng khí phái đó, rồi dắt ngựa đi dạo quanh đường làng. Tôi thấy nhà nào nhà nấy cửa mở toang nhưng chẳng có một bóng người, đồ đạc trong phòng bày biện bừa bãi, có cả đồ bạc, thực phẩm. Nếu Lão Dung mà mò đến đây thì đúng là như thấy bánh từ trên trời rơi xuống, cứ việc đi thẳng vào nhà mà vơ vét sạch sẽ.
Màn đêm buông xuống, người trong làng đi lễ vẫn chưa về, tôi đến dưới gốc cây bạch dương cao lớn kia, buộc ngựa lại, chờ Lệ Mã.
Trời mỗi lúc một tối, Lệ Mã vẫn chưa quay lại. Phía ngôi đền bỗng vang lên tiếng hát, là tiếng hát của rất nhiều người, âm thanh đều tăm tắp và vang vọng, giống như tiếng hàng vạn con ong đang bay lượn.
Tôi lo Lệ Mã gặp nguy hiểm bèn đi về phía ngôi đền. Bên ngoài đền là những bậc thềm đá, dưới chân thềm xếp đầy giày dép. Bên trong đền đèn đuốc sáng trưng, trên tường treo rất nhiều đèn dầu. Một người phụ nữ đeo khăn che mặt ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế chính giữa, những người còn lại phủ phục dưới chân bà ta. Người phụ nữ ấy dáng người cao ráo, tư thế đoan trang, ngồi bất động như một pho tượng.
Tôi đang thắc mắc người phụ nữ này là ai, tại sao lại có nhiều người sùng bái bà ta đến vậy, còn muốn nhìn thêm vài lần thì buổi lễ kết thúc, mọi người trật tự bước ra khỏi đền. Sợ bị phát hiện nhìn trộm, tôi vội vàng rời đi.
Tôi đợi dưới gốc bạch dương không lâu thì Lệ Mã quay lại. Sau lưng Lệ Mã còn có vài ông lão đi theo, cằm ai cũng để chòm râu bạc trắng. Trong bóng tối tôi không nhìn rõ mặt mũi họ, nhưng những chòm râu bạc thì rất nổi bật.
Lệ Mã che mặt, trông cô ấy chẳng khác gì những người phụ nữ bản địa.
Đêm đó, chúng tôi tá túc tại nhà một ông lão. Nhà ông lão rất ngăn nắp và cũng rất giàu có, có đến hơn mười gian phòng.
Người nhà ông lão làm mì kéo đãi chúng tôi. Dầu ớt đỏ au, tỏi xanh mướt, váng mỡ vàng ươm, sợi mì trắng ngần, thịt bò màu nâu sẫm, tất cả tạo nên một bát mì ngon tuyệt trần gian.
Ăn cơm xong, ông lão và Lệ Mã trò chuyện rất lâu, vẻ mặt ông lão nhìn Lệ Mã rất cung kính, còn Lệ Mã đeo khăn che mặt trông vô cùng đoan trang. Tôi nghe không hiểu họ nói gì nên đi ngủ sớm.
Sáng hôm sau, vị A - hoanh (giáo sĩ) tặng chúng tôi rất nhiều đồ, có đồ ăn, có quần áo. Cả làng kéo ra đầu thôn tiễn chúng tôi.
Chúng tôi cưỡi ngựa tiếp tục lên đườnh. Dọc đường đi, làng mạc dần xuất hiện nhiều hơn, người cũng đông hơn, trên sườn núi đã thấy những đàn cừu, đàn bò. Chúng tôi đã bỏ lại sa mạc Đằng Cách Lý đáng sợ ở phía sau lưng.
Tâm trạng vui vẻ, tôi bỗng muốn hát, nhưng nghĩ mãi chẳng ra bài nào, đành hát vang đoạn “Tướng Lệnh” trong vở Tần Xoang, cũng chỉ có “Tướng Lệnh” mới hợp với khung cảnh bao la bát ngát của vùng Tây Bắc này. Tôi cất giọng:
Tướng lệnh vang rền, động núi sông.
Người khoác y giáp, ngựa thắng yên cương.
Binh tướng lớn nhỏ, khí thế sôi sục.
Thúc giục nhân mã, đến trước trận tiền.
Đầu đội thúc phát quan.
Thân khoác ngọc liên hoàn.
Ngực gài sư tử khấu.
Lưng đeo kiếm Long Tuyền.
Cánh cung như trăng sáng.
Tên răng sói đầy bao.
Thúc giục ngựa bờm xanh.
Hào kiệt dẫn đầu hàng.
Giọng hát của tôi thô kệch mà hùng tráng, vang vọng giữa núi rừng hoang vu như tiếng sấm rền, làm từng đàn chim sẻ giật mình vỗ cánh bay vút lên không trung. Mỗi lần hát khúc “Tướng Lệnh” này, tôi lại thấy nhiệt huyết sôi trào, chỉ mong được thúc ngựa vung thương, xông thẳng vào chiến trường khói lửa mịt mù.
Lệ Mã nghe tôi hát, cô ấy cũng cất tiếng hát theo. Tôi không biết cô ấy hát gì, nhưng giọng hát của cô ấy uyển chuyển êm tai, khiến người nghe lòng dạ xao xuyến, bồi hồi.
Chúng tôi ngồi chung một con ngựa, lúc thì tôi ngồi trước, lúc thì cô ấy ngồi trước, khi thì tôi ôm cô ấy từ phía sau, khi thì cô ấy ôm tôi từ phía sau. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau, cảm giác thế giới này chỉ còn lại hai người, cảm giác đời đời kiếp kiếp sẽ bên nhau, mãi mãi không chia lìa.
Dù không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ, nhưng chỉ cần một ánh mắt, một biểu cảm, một cử chỉ, chúng tôi đều cảm nhận được vị trí của mình trong tim đối phương.
Chúng tôi tiếp tục đi về phía trước, từ xa đã thấy một ngôi làng. Sở dĩ đoán được có làng là vì ở đó có cây cối, và cả những bức tường đất cao một hai thước được đắp lên.
Ngoài làng có một ngọn đồi, trên đồi có một thằng bé chăn cừu ôm roi dài đứng đó, dưới chân là đàn cừu trắng. Thằng bé nhìn chúng tôi, bất ngờ cất tiếng hát điệu “Hoa Nhi”:
“Đàn la đi trước đã xa rồi, đàn la thứ hai cũng theo thôi; Bóng anh chẳng còn thấy đâu nữa, nước mắt em gái chảy tuôn rơi”
Nghe thằng bé hát thế, tôi biết ngay nó cố tình trêu chọc, rõ ràng thấy chúng tôi đang quấn quýt bên nhau mà nó lại hát lời chia ly.
Tôi suy nghĩ một lát, rồi đáp lại bằng điệu “Tín Thiên Du”:
Con la dẫn đường kia ơi, ba ngọn đèn dầu sáng kia ơi; Thằng nhóc ngốc nghếch ôm roi chăn cừu, khóc lóc oa oa tiếng thảm thay.
Thằng bé chăn cừu nghe tôi đáp trả thì cao giọng hát tiếp:
Hoa sơn đan đỏ, hoa tường vi vàng, hoa mã lan nở rộ bên đàng; Anh ở nơi này lòng nhớ em, thân nóng chẳng được kề thịt da.
Nghe nó hát vậy, tôi ứng khẩu đáp:

Nước sôi sùng sục chờ gạo vào nồi, ngựa thắng yên cương còn thiếu người cưỡi. Thằng bé chăn cừu chỉ biết cầm roi, cầm vào cương ngựa là run bần bật.
Thằng bé không chịu thua, tiếp tục hát:
Hạt mưa rơi xuống tảng đá xanh, bông tuyết bay vào giữa dòng nước; Bệnh tương tư lấp kín cửa tim, vảy máu kết dính vào vết xước.
Thằng nhóc này càng hát càng bậy bạ, tôi bèn cố ý chọc tức nó, hát tiếp:
Nước sông đầu làng chảy rì rào, anh đây sướng quá kêu tên vợ; Cánh hoa rơi rụng quả chín mọng, chúng ta đẻ con chạy đầy đồng. Thằng bé chăn cừu nhìn thấy thế, rập đầu lạy con ta sát đất.
Thằng bé nghe xong giận tím mặt, nhặt đá ném về phía chúng tôi.
Tôi quất ngựa phi nhanh qua ngọn đồi. Phía sau chỉ còn lại tiếng la hét tức tối của nó. Tôi ngồi trên ngựa cười ha hả.
Khi ấy, tôi hoàn toàn không ngờ rằng, lời hát của thằng bé chăn cừu lại thành lời sấm truyền.
Ngôi làng có đến cả trăm hộ dân, ở vùng Tây Bắc, một ngôi làng như thế đã coi như có quy mô rất lớn rồi.
Mỗi hộ gia đình trong làng đều đào hầm để ở. Đầu tiên tìm một mảnh đất, khoanh thành một khoảnh vuông vức, đào sâu xuống, đào đến độ sâu hai ba trượng thì bắt đầu đào hang sang các vách bên cạnh làm hầm trú. Hầm đào xong thì dọn vào ở. Vì hầm ở thế đất thấp, sợ trời mưa nước chảy ngược vào nên phía trên sân, người ta dùng đất hoàng thổ đắp thành bức tường thấp cao một hai thước để chắn nước mưa.
Đất hoàng thổ nuôi sống con người, thứ Tây Bắc không thiếu nhất chính là đất hoàng thổ. Tình cảm của người Tây Bắc với đất hoàng thổ sâu nặng hơn hẳn người các vùng khác. Đất hoàng thổ có thể đào hầm, có thể nung gạch ngói, có thể trồng hoa màu, đất hoàng thổ cung cấp nơi an nghỉ cho người chết… Ngàn năm qua, đất hoàng thổ đã nuôi sống bao thế hệ người Tây Bắc, người ta sùng bái đất hoàng thổ, xây miếu thờ phụng nó, vị trí của đất hoàng thổ trong lòng người Tây Bắc là thứ không gì so sánh được.
Trong làng có một khách điếm, gọi là khách điếm nhưng thực chất chỉ là mấy gian hầm đất. Trong hầm có kháng đất. Đây là khách điếm đơn sơ nhất nước, cũng là những căn hầm đơn sơ nhất nước.
Chúng tôi ở trong một gian hầm như thế.
Ánh trăng lọt qua khe cửa, chiếu xuống nền đất, khiến mọi vật trong hầm trở nên mờ ảo. Nghĩ đến việc chỉ còn một ngày nữa là đến được Hạ Gia Nham, gặp lại Báo Tử và Quang Đầu, tôi vô cùng phấn khích.
Lệ Mã cũng chưa ngủ, dưới ánh trăng mông lung, tôi thấy đôi mắt cô ấy ánh lên tia sáng màu xanh nhạt. Có thể thấy cô ấy cũng đang rất vui.
Tôi áp lòng bàn tay lên khuôn mặt cô ấy, gò má cô ấy mềm mại và ấm áp, khiến lòng tôi trào dâng niềm thương cảm và xót xa.
Trong đêm thanh vắng này, tôi chợt nhớ tới một câu chuyện cười nghe được hồi nhỏ. Tôi muốn kể cho người khác nghe quá, dù biết Lệ Mã không hiểu nhưng tôi vẫn cứ kể cho cô ấy nghe.
Lệ Mã nghe mà chẳng hiểu gì, còn tôi kể xong thì cười sặc sụa, thở không ra hơi.

(Tổng: 4835 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0