Tổ Bịp

  • 4399 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 28. Tốt thí cũng có ước mơ
Đám người trên vách núi đối diện là một toán tiêu sư.
Vào thời Minh Thanh và Dân quốc, Trung Hoa có hai tỉnh trù phú bậc nhất là Sơn Tây và An Huy. Thương nhân Sơn Tây gọi là Tấn thương, người An Huy gọi là Huy thương, thảy đều là những cái tên lẫy lừng trong thương sử. Sơn Tây lúc bấy giờ giàu có vô cùng. Khách buôn từ đây xuôi ngược vùng Hồ Quảng làm ăn, luôn cần tiêu sư hộ tống. Thêm vào đó, dải đất này chiến sự liên miên, thổ phỉ mọc lên như nấm, nên mỗi chuyến tiêu thường quy tụ tới cả trăm người.
Chúng tôi bám theo đoàn tiêu sư, vượt Hoàng Hà, đặt chân vào đất Sơn Tây.
Tôi và Băng Lưu Tử từng nảy ý định đi theo họ hành nghề. Nhìn đám tiêu sư múa đao luyện bổng, khí thế hiên ngang, chúng tôi thấy oai phong lắm. Ngặt nỗi họ bảo chúng tôi đã quá tuổi luyện võ, xương cốt đã cứng, không thể dãn ra được nữa, chẳng phải hạng có căn cơ.
Tiền ăn ở của tiêu sư đều do chủ gia đài thọ. Đó là một gã trung niên gầy gò, buôn vải vóc, chuyên đánh hàng Tây từ Hồ Quảng về bán tại Sơn Tây. Thuở ấy, dân phương Bắc đa phần mặc vải thô tự dệt, vừa dày vừa cứng, phẩm cấp lẫn chất chạm đều thua xa vải Tây. Bởi vậy, loại vải dệt máy này tiêu thụ rất chạy ở phương Bắc.
Chủ gia làm ăn lớn nhưng tính tình cực kỳ keo kiệt. Thấy chúng tôi chẳng làm nên trò trống gì mà cứ bám theo ăn chực nằm chờ, lão khó chịu ra mặt, cái vẻ hậm hực ấy cứ như thể chúng tôi vừa ngủ với vợ bé của lão vậy.
Chúng tôi quyết định rời đi.
Một tối nọ, lão chủ sắp xếp cho đám tiêu sư vào nghỉ ở khách sạn nhưng cố tình lờ chúng tôi đi, không đăng ký phòng ốc. Cảm thấy bị sỉ nhục ghê gớm, hai đứa dắt nhau ra ngoại thành, tìm tạm một chỗ tá túc chờ trời sáng sẽ hội quân cùng họ sau.
Bên ngoài thành có một đường ray sắt sáng loáng, đâm thẳng tắp về phía xa xăm. Đó là lần đầu tiên chúng tôi thấy đường sắt. Hai đứa sờ tay vào đường ray và thanh tà vẹt, chẳng hiểu thứ này dùng để làm gì, nhưng đã lát ở đây thì hẳn phải có dụng dụng. Chúng tôi cứ men theo đường ray mà đi, muốn tìm xem bí mật của nó nằm ở đâu. Đi được chừng hai ba dặm, đường ray bắt đầu rẽ nhánh. Bên cạnh ngã rẽ có mấy gian nhà sắt đen ngòm đang nằm sừng sững, dưới gầm còn gắn bánh xe sắt. Chúng tôi trèo vào trong một gian rồi nằm lăn ra ngủ.
Tôi hỏi Băng Lưu Tử:
“Cái này dùng để làm gì nhỉ?”
Băng Lưu Tử đáp:
“Chịu thôi.”
“Thì cứ ngủ tạm một đêm đã, gần sáng lại quay về tìm đám tiêu sư.”
“Được.”
Đi bộ ròng rã cả ngày theo đoàn tiêu, vừa nằm xuống là hai đứa đánh một giấc ngon lành. Giữa đêm, một tiếng động ầm ầm kinh thiên động địa khiến chúng tôi choàng tỉnh. Mở mắt ra đã thấy gian nhà sắt đang chuyển động. Tưởng gặp động đất, hai đứa hoảng loạn bám lấy thành nhà định nhảy ra ngoài, nhưng lúc này gian nhà sắt đã lao đi vun vút như phong trì điện chớp. Phía trước có một thùng sắt khổng lồ lôi kéo, miệng phun khói đen, rít lên một tiếng dài "u u" vang vọng cả núi khe, nghe mà rợn tóc gáy.
Sợ không dám nhảy, chúng tôi run lẩy bẩy ngồi thụp xuống góc nhà, phó mặc cho số phận.
Trời sáng, thùng sắt khổng lồ dừng lại trước một dãy nhà. Một gã mặc đồng phục, tay cầm cờ xanh đỏ đứng đợi sẵn. Chẳng biết đây là đâu, chúng tôi vội vàng nhảy khỏi thùng sắt.
Gã cầm cờ vừa thấy bóng người liền thổi còi lanh lảnh, chỉ tay về phía chúng tôi chửi bới om sòm. Mấy người từ trong nhà lao ra, vừa chạy vừa hô hoán:
“Có đứa nhảy tàu! Có đứa nhảy tàu kìa!”
Chúng tôi cắm đầu chạy thục mạng.
Chạy được một quãng xa, ngoái đầu lại không thấy ai đuổi theo nữa, chúng tôi mới nhìn lại con quái vật bằng sắt khổng lồ kia, bấy giờ mới biết nó tên là xe lửa.
Xe lửa nghỉ ngơi một lát rồi rít lên một tiếng, phun ra đám khói trắng xóa, ra chiều giận dữ lắm. Nó chậm rãi rời khỏi dãy nhà, rồi càng chạy càng nhanh, mất hút khỏi tầm mắt.
Băng Lưu Tử trợn tròn mắt kinh ngạc:
“Cái xe lửa này thần kỳ thật đấy, nằm bò mà chạy còn nhanh thế này, nếu nó đứng thẳng dậy mà chạy thì chắc nhanh nữa.”
Chúng tôi theo đường lớn đi tiếp, đến một thị trấn vào lúc giữa trưa. Chợ búa tấp nập, người qua kẻ lại dập dìu, ai nấy trông đều có vẻ đắc ý với cuộc đời, duy chỉ có hai đứa tôi là bụng đói cồn cào.
Giữa dòng người, chúng tôi bắt gặp một đôi nam nữ. Gã đàn ông vóc người cao ráo, dáng vẻ hào hoa; cô gái thì xinh đẹp động lòng người. Họ nhìn nhau cười nồng thắm, ánh mắt đưa tình kín đáo. Nhìn cách ăn mặc, chắc hẳn là công tử tiểu thư nhà giàu. Tôi tuy nhỏ tuổi nhưng cũng thừa hiểu chuyện gì đang xảy ra, ở quê tôi gọi thế là "đúng mắt". Một khi đã đúng mắt nhau thì chuyện gì sau đó cũng làm được hết.
Băng Lưu Tử bảo:
“Mày đi theo cô ả kia, tìm cơ hội mà chạm vào người ả một cái.”
Tôi ngẩn người:
“Để làm gì?”
“Cứ làm theo lời tao là được.”
Tôi lách người ra sau cô gái, thấy Băng Lưu Tử cũng đã tiếp cận phía sau gã đàn ông. Cô gái mặc bộ đồ lụa là, sờ vào mịn mượt vô cùng. Tôi lén chạm vào eo ả một cái, ả không để ý. Tôi lại bồi thêm một cái vào mông, cảm giác tròn lẳn trơn tru. Lần này ả phát giác, mặt đỏ bừng vì thẹn nhưng lại chẳng tiện phát tác giữa thanh thiên bạch nhật. Gã đàn ông nhìn tôi trừng trừng, lửa giận bốc lên mắt nhưng cũng đành nhịn. Thuở ấy, nam nữ lạ mặt ở nơi công cộng không được tùy tiện trò chuyện, ai mở lời trước đều bị coi là hạng lẳng lơ, thiếu giáo dục.
Tôi sợ gã đánh mình, nhưng gã chỉ đứng đó nhìn với vẻ căm phẫn, tôi cũng chẳng dám làm càn thêm nữa.
Phía sau lưng gã, Băng Lưu Tử vẫy tay ra hiệu. Tôi bước tới, theo y ra đầu phố. Y lôi từ trong túi áo ra một bọc vải nhỏ, mở ra xem thì chỉ có mấy tờ giấy bạc.
Băng Lưu Tử thất vọng ném bọc vải xuống đất, nhét mấy đồng tiền vào túi. Chúng tôi tìm một sạp mì đao tiêu, mỗi đứa đánh một bát lớn.
Tôi hỏi:
“Tiền của ai đấy?”
“Của gã kia.”
“Tay nghề anh nhanh thật, em chẳng thấy anh ra tay lúc nào cả.”
Băng Lưu Tử đắc ý:
“Tao bảo mày đánh lạc hướng gã, tao chỉ cần thò tay là dắt túi cái bọc kia ngay, gã còn chẳng hay biết gì. Tiếc là gã kia trông vẻ ngoài bảnh bao mà trong túi chẳng có mấy đồng.”
Tôi biết kỹ thuật này gọi là "di hoa tiếp mộc". Hồi ở huyện Bảo Hưng, khi lấy trộm ví của gã mặc Tây trang, chúng tôi cũng dùng chiêu này.
Ăn xong, Băng Lưu Tử đề nghị tối nay làm thêm một vụ nữa, kiếm con "cá lớn" rồi mới rời đi. Đi đâu thì chưa biết, nhưng cứ phiêu dạt giang hồ thì phải tìm thành phố lớn, dân ở đấy giàu, dễ ra tay hơn.
Đây là một huyện nhỏ, trong thành có một đại gia đình cao tường sâu viện, vài chục gian nhà, chắc chắn là có tiền. Chúng tôi quyết định đêm nay sẽ đột nhập nơi này.
Kế hoạch là lẻn vào ẩn nấp trước, đợi đêm khuya thanh vắng thấy món gì giá trị thì khoắng vài thứ, sáng ra đem bán lấy tiền.
Lúc hoàng hôn, chúng tôi lẻn vào dinh cơ này, trốn trong một gian sương phòng. Phòng không lớn, bài trí đơn giản, chỉ có một giường, một bàn và một ghế. Hai đứa chui tọt xuống gầm giường, chỗ duy nhất có thể ẩn thân.
Khi đèn nhà vừa thắp, một thiếu niên bước vào. Cậu ta mắt sáng, mặt trắng như phấn, đoán chừng là công tử của phủ này. Cậu ta đặt đèn dầu lên bàn, rồi bắt đầu giở sách đọc lầm rầm.
Chúng tôi mừng thầm trong bụng. Bọn trẻ con thường ham ngủ, lười đọc sách, chắc chỉ đọc một lát là lăn ra ngủ thôi. Đợi cậu ta ngủ say, chúng tôi sẽ bò ra hành sự.
Đêm đó, cậu thiếu niên ấy đọc bài "Tĩnh dạ tứ" của Lý Bạch. Bài thơ vỏn vẹn bốn câu: "Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương". Vậy mà gã cứ đọc đi đọc lại, lộn tới lộn lui, từ lúc chập tối đến tận nửa đêm, càng đọc càng tỉnh, thế mà vẫn chẳng thuộc nổi bốn câu thơ ấy.
Tôi chịu hết nổi, bò từ gầm giường ra, giáng cho cậu ta một cái tát cháy má rồi mắng:
“Sao mà mày ngu thế hả? Có bốn câu thơ mà đọc đến nửa đêm vẫn không thuộc!”
Mắng xong, tôi mở cửa bỏ đi luôn.
Băng Lưu Tử cũng bò ra, giáo huấn gã thiếu niên đang ngơ ngác:
“Thầy sai bọn ta nấp trong phòng xem đêm nay mày có dụng công hay không. Tiếp tục đọc đi, cấm bước ra khỏi cửa nửa bước, bọn ta về đây.”
Cậu thiếu niên nọ tiếp tục đọc "Tĩnh dạ tứ", đoán chừng đến sáng cũng chẳng dám ngủ.
Chúng tôi mở cửa viện, hiên ngang rời đi.
Kế hoạch trộm cắp dày công chuẩn bị vậy là tan thành mây khói.
Đường phố về khuya lạnh lẽo vô cùng, thi thoảng có con chó hoang chạy qua, hoặc tiếng phu canh gõ mõ lạch cạch kèm theo tiếng hô: "Thiên can vật táo, tiểu tâm hỏa chúc". Giọng lão phu canh già nua vọng mãi trong con phố trống trải.
Vì không khảo sát kỹ địa bàn từ trước, chúng tôi không thể ra tay chỗ khác được nữa. Nhà đại hộ kia vốn là mồi ngon, ai dè lại có gã con trai đần độn đến thế. Bài "Tĩnh dạ tứ" nông cạn dễ hiểu, tôi nghe ba lần đã thuộc mà gã đọc cả đêm chẳng xong. Cái loại thiếu niên ngu muội ấy, chẳng qua được cái mã ngoài, đúng là gối thêu hoa, phân lừa phủ phấn.
Trong thành không xong, chúng tôi quyết định ra ngoại ô xem sao. Nhà dân quê tường thấp, cửa nẻo đơn sơ, may ra lẻn vào còn kiếm được chút gì.
Trước cửa một ngôi nhà, chúng tôi thấy một sợi dây thừng vắt ngang. Dây rất cứng, giữa các tao thừng còn dính cả lông gà. Loại dây này cực kỳ chắc chắn, thường dùng để kéo xe. Chúng tôi gỡ sợi dây xuống, cuộn lại cầm tay rồi nhảy qua tường bao.
Cổng thành chưa mở, bốn bề tĩnh lặng. Hai đứa leo lên mặt thành, buộc một đầu dây vào cột gỗ trên thành lâu, đầu kia thả xuống dưới. Chúng tôi men theo dây tụt xuống khỏi chân tường thành đất, còn chưa kịp đứng thẳng lưng thì đã thấy hai họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào mình.
Kinh ngạc nhìn quanh, chúng tôi thấy dưới chân thành có một đám người đang nằm ngồi la liệt, trông như một bãi đá lở sau trận mưa rào. Đó là một toán lính. Chiều tối qua khi chúng tôi lẻn vào nhà đại hộ cũng là lúc đơn vị này áp sát huyện thành.
Một gã cầm súng trường dùng nòng súng gẩy gẩy vào người tôi, hỏi:
“Làm gì đấy?”
Gã nói giọng mũi nặng trịch đặc trưng của vùng Sơn Tây này. Tôi chẳng biết trả lời thế nào, đành im lặng.
Một gã khác dùng súng thọc vào người Băng Lưu Tử, cũng hỏi y làm gì. Băng Lưu Tử cũng im hơi lặng tiếng. Gã cứ thọc một cái, Băng Lưu Tử lại lùi một bước. Cuối cùng, y lùi đến sát chân thành, không còn đường lui, gã mới thôi thọc.
Chúng khám xét quần áo hai đứa, chẳng tìm thấy gì, liền hỏi:
“Bọn mày là giặc cỏ à?”
Tôi đáp:
“Không phải.”
Băng Lưu Tử bồi thêm:
“Giặc cỏ mà trên người lại không có tiền sao?”
“Thế bọn mày làm cái gì?”
Băng Lưu Tử nhanh trí:
“Chúng tôi đi chăn bò thuê cho chủ gia. Lão không trả tiền công nên hai đứa trốn ra ngoài.”
Gã kia nghi hoặc:
“Sao giọng bọn mày nghe như người phương khác?”
Tôi bảo:
“Tôi bị bọn buôn người bán đến đây.”
Băng Lưu Tử nói:
“Nhà tôi gặp lụt, phải đi lánh nạn đến chỗ này.”
Gã lính kia nghe vậy liền phán:
“Được, sau này đi theo ông đây mà ăn cơm hoàng lương. Đêm nay đụng phải các ông là phúc phận của bọn mày đấy.”
Đây vốn là một đại đội tân binh vừa mới mộ được ở Tấn Nam, mục tiêu là hành quân về Tấn Bắc. Lúc bấy giờ Tấn Bắc đang có chiến sự, còn ai đánh với ai thì tôi cũng chẳng rõ. Những năm ấy cứ đánh nhau suốt, hôm nay đánh xong mai lại thôi, thôi được hai ngày lại đánh tiếp.
Sau này tôi mới biết đây là quân của Diêm Lão Tây. Trong đám quân phiệt nhiều như lông bò thời ấy, Diêm Lão Tây được coi là hạng khôn ngoan bậc nhất. Để ngăn lính đào ngũ, lão điều người Tấn Nam ra Tấn Bắc chiến đấu, người Tấn Bắc lại đày xuống Tấn Nam. Nhờ thế mà số quân đào tẩu giảm hẳn. Sơn Tây vốn giàu tài nguyên, đặc biệt là than đá. Để làm "thổ hoàng đế", ngăn thế lực bên ngoài tràn vào, Diêm Lão Tây cho làm đường ray sắt hẹp hơn bên ngoài. Than Sơn Tây không chở ra được, mà quân đội bên ngoài cũng chẳng thể hành quân vào. Lão đóng cửa làm vua một cõi.
Sơn Tây lắm núi, Tấn Bắc lại càng trùng điệp hơn. Chúng tôi đi trong rừng sâu núi thẳm suốt mười mấy ngày vẫn chưa tới nơi. Vì là tân binh nên chẳng ai được phát súng, kẻ có súng toàn là đám lính già dầu mỡ làm nhiệm vụ áp tải.
Mười mấy ngày qua, tôi và Băng Lưu Tử luôn tìm cơ hội chuồn êm, nhưng tuyệt không có khe hở. Ban ngày lính già vây quanh hộ tống, ban đêm canh gác luân phiên, chúng tôi có chắp cánh cũng khó bay thoát.
Trong đám lính mới có một thiếu niên người Vận Thành, cả đại đội chỉ có ba đứa tôi là nhỏ tuổi nhất. Cậu ta hào hứng tự giới thiệu tên là Quan Vân Vũ. Cậu ta cứ huyên thuyên mãi rằng mình là hậu duệ của danh tướng Quan Vũ thời Tam Quốc. Cha cậu ta muốn con thành bậc hủ nho nên đặt tên là Quan Giá Hiên, nhưng cậu ta chí hướng làm Quan Vũ nên tự đổi tên thành Vân Vũ.
Cả đại đội chắc chỉ có mỗi Quan Vân Vũ là tự nguyện tòng quân. Khi nói chuyện cậu ta thường dùng tay đập nhịp, mỗi lời nói, mỗi nhịp tay đều tràn đầy khí thế hào hùng muốn lập công danh. Đôi mắt cậu ta lấp lánh, máu trong người sôi sục, gương mặt rạng rỡ hẳn lên. Nhìn cậu ta, tôi thấy bóng dáng mình vài năm trước, cũng ngu muội vô tri như thế. Bây giờ tôi mới biết, hạng người này gọi là "đồ dở người", mà đánh trận thì đúng là cần những kẻ dở người như vậy.
Đại đội tân binh đến Sóc Châu thì dừng lại, chúng tôi được biên chế vào lữ đoàn cảnh bị. Cảnh bị là một công việc béo bở, chịu trách nhiệm tuần tra bảo vệ Sóc Châu.
Tôi nghĩ bụng, ở lữ cảnh bị thế này cũng khá, có ăn có uống, mỗi ngày ra ngoài lượn vài vòng, thấy ai khả nghi thì chặn lại dọa dẫm, tiện tay nhặt vài quả trứng hay mấy trái lê trong giỏ người ta nhét vào túi mình.
Hạnh phúc lớn nhất của đời người là được sống theo cách mình muốn. Cái cuộc sống vơ vét túi riêng của lữ cảnh bị chính là thứ tôi hằng mong ước, nên tôi thấy hạnh phúc lắm, chỉ tiếc là mình không đến đây sớm hơn thôi.
Một ngày nọ, thấy Quan Vân Vũ cầm một tờ giấy, tôi hỏi làm gì, cậu ta đắc ý bảo đi nhận súng ở kho quân nhu. Tôi cầm tờ giấy xem qua, trên đó có đóng dấu của "Lữ đoàn cảnh bị Sóc Châu". Tôi hỏi:
“Chỉ dựa vào cái dấu này mà lĩnh được súng à?”
Quan Vân Vũ đáp:
“Cái dấu này còn có giá hơn cả mặt người ấy chứ.”
Tôi ghi nhớ câu nói đó. Nếu con dấu đã có giá hơn mặt người, thì việc khắc một con dấu với tôi chẳng khó gì.
Tôi định khắc một loạt con dấu, muốn lấy gì ở kho quân nhu thì lấy. Đem mấy thứ đó đi bán lấy tiền chẳng phải nhàn hơn làm quân trộm cướp sao?
Tôi bắt đầu ủ mưu, tính sau này có tiền sẽ đào ngũ, đến một thành phố lớn mua nhà cưới vợ, sống đời vinh hoa.
Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, chúng tôi bị điều ra chiến trường.
Sóc Châu từ xưa đã là cửa ải biên thùy. Phía bắc Sóc Châu là đất của Hung Nô, Đột Quyết. Quân Hán, quân Đường đều từng huyết chiến với các dân tộc du mục tại đây. Giờ đây chiến sự lại nổ ra, quân Diêm Lão Tây liên tục bại trận, buộc phải tung cả lữ đoàn cảnh bị đang giữ Sóc Châu ra tiền tuyến.
Ngày lành của tôi chấm dứt, đành lủi thủi theo lữ đoàn ra trận.
Trái ngược với tôi, Quan Vân Vũ lại tràn đầy kỳ vọng vào cuộc chiến. Cậu ta huyễn hoặc mình sẽ như tổ tiên Quan Vũ, tay cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao, hét vang một tiếng là kẻ thù tan tác. Tôi bảo, thời này không còn là thời vũ khí lạnh của Quan Vũ nữa, dù Quan Vũ có sống lại mà cầm đao xông pha hét lớn thì cũng bị súng máy bắn cho thành cái sàng thôi.
Quả nhiên, lời tôi nói đã vận vào cậu ta.
Lên chiến trường, chúng tôi tấn công trận địa đối phương, đôi bên nã đạn xối xả, tiếng người hò hét huyên náo. Viên liên trưởng đứng phía sau gào lên: "Xông lên cho lão tử!". Quan Vân Vũ thét lớn, là người đầu tiên bật dậy khỏi công sự. Nhưng tiếng hét của cậu ta còn chưa kịp dứt thì đã bị đạn từ phía địch quật ngã xuống hào, ngực thủng mấy lỗ, máu tươi trào ra xối xả.
Những người khác thấy cảnh đó, chẳng ai còn dám nhúc nhích.
Trận ấy chúng tôi đại bại.
Đêm hôm đó khi đóng quân, tôi bàn với Băng Lưu Tử:
“Chắc vài ngày nữa lại đánh tiếp, chúng mình chuồn thôi.”
Băng Lưu Tử lo lắng:
“Bốn phía đều có người giám sát, chuồn thế nào được?”
“Tao sẽ khắc một con dấu, giả làm người đưa tin, thế là ra ngoài được ngay.”
“Ý hay đấy.”
Tôi đi tìm gỗ khắc dấu. Thường người ta dùng gỗ lê rừng cứng cáp, nhưng ở đây tìm đâu ra. Không có lê rừng thì dùng gỗ dương, gỗ thông cũng tạm, nhưng có gỗ rồi lại không có dụng cụ bào phẳng mặt. Mà kể cả khắc xong cũng chẳng lấy đâu ra mực dấu. Không có mực dấu thì coi như bỏ.
Phải làm sao bây giờ?
Băng Lưu Tử bảo:
“Trộm. Trộm con dấu của lữ cảnh bị.”
Tôi run giọng:
“Dám trộm không?”
“Ấn vàng huyện nha mình còn dám lấy, con dấu lữ cảnh bị có là cái gì.”
Cách trận địa về phía sau chừng năm dặm có một đỉnh núi, trên đó có một ngôi cổ tự, bộ tư lệnh lữ đoàn đóng đô tại đấy. Chiến tranh nổ ra, lão hòa thượng trong chùa đã cao chạy xa bay. Cổ tự chỉ có một tòa đại điện, trong đại điện có một gian thiền phòng. Đám quan lại bộ tư lệnh ban ngày ở trong chùa nghiên cứu chiến sự, ban đêm thì xuống núi nghỉ tại nhà dân ở lưng chừng núi. Nơi đó có một ngôi làng, bên ngoài làng có sân phơi thóc và mấy đống rơm lớn.
Muốn vào chùa chỉ có thể chọn đêm khuya. Nhưng cửa chùa treo một ổ khóa đồng to tướng, ngoài tường lại có vệ binh canh gác. Chỉ dựa vào hai đứa tôi mà muốn tránh vệ binh, mở khóa đồng đột nhập vào chùa là chuyện không tưởng.
Muốn vào phải dụ được vệ binh đi, rồi tìm đường khác như đào tường hay leo cửa sổ. Cổ tự lâu đời, tường xây bằng đá tảng, đào tường là không thể; mái chùa lại cao vợi, bên ngoài không có cách nào leo lên cửa sổ, mà dù có leo lên được cũng chẳng mở nổi cánh cửa dày cộp đã cài then bên trong.
Mấy ngày đó chúng tôi cứ lảng vảng quanh chùa đạp thanh, khảo sát địa hình để tìm kế sách. Chúng tôi phát hiện ra cạnh chùa có một cây cổ thụ cành lá xum xuê, tán cây vươn tận lên mái điện. Nếu không vào được bằng cửa, có thể thâm nhập từ mái nhà.
Sau khi quan sát kỹ lưỡng, hai đứa đợi một đêm trăng thanh gió mát để ra tay. Đêm ấy trời tối đen như mực, gió thổi lồng lộng. Chờ lúc mọi người đã say giấc nồng, tôi và Băng Lưu Tử lặng lẽ dậy, hướng về phía ngôi chùa.
Vòng ngoài doanh trại lữ cảnh bị canh phòng cẩn mật, nhưng bên trong lại lỏng lẻo. Chúng tôi đi thẳng tới ngôi làng lưng chừng núi, tôi nấp ở đầu làng, còn Băng Lưu Tử tiếp tục leo lên đỉnh núi.
Lên tới nơi, Băng Lưu Tử phát ra mấy tiếng ếch kêu, đó là ám hiệu đã hẹn trước. Tôi lập tức tiến về phía sân phơi, châm lửa đốt mấy đống rơm. Đêm ấy cuồng gió, lửa gặp rơm bén nhanh như thổi, đỏ rực cả một góc trời.
Đám vệ binh trên núi tưởng làng bị cháy, vội vàng lao xuống cứu hỏa. Nếu để đám quan chức lữ đoàn bị thiêu sống, họ gánh không nổi trách nhiệm thấy chết không cứu.
Vệ binh vừa đi khỏi, Băng Lưu Tử lập tức leo lên cây cổ thụ, men theo cành lớn vươn ra rồi nhảy phóc lên mái chùa. Y dỡ ngói, phá lớp bùn và tấm cói lót, dùng sợi dây thừng mang sẵn buộc vào cành cây rồi tụt thẳng vào trong chùa.
Cũng cần nói qua về cấu trúc nhà cửa thời bấy giờ. Thuở ấy chưa có sàn bê tông, nhà dựng bằng gỗ và gạch ngói. Khi lợp mái, người ta xếp các thanh xà cách nhau chừng nửa thước, đủ để một người chui lọt (kẻ trộm thường phải gầy gò, hạng béo tốt không hành nghề này được). Trên xà là lớp cói đan từ lau sậy, trên cói là lớp bùn để lấp khe hở và cố định ngói, ngoài cùng mới là các lớp ngói xếp chồng lên nhau.
Bởi vậy, muốn đột nhập từ mái chỉ cần dỡ ngói, phá bùn, đâm thủng cói là có thể chui qua khe xà mà xuống.
Tôi chạy ngược lên đỉnh núi, thấy lửa dưới làng vẫn đang bốc cháy dữ dội, bóng người chạy lăng xăng. Họ nằm mơ cũng không ngờ đây là kế "sơn đông kích tây" của chúng tôi.
Gặp lại Băng Lưu Tử trên đỉnh núi, tôi vội hỏi:
“Lấy được con dấu chưa?”
Băng Lưu Tử đáp:
“Không thấy dấu, nhưng tìm được cái này.”
Y móc từ túi ra hai tấm giấy cứng.
“Cái gì đây?”
“Thông hành chứng.”
Lúc tảng sáng, nhờ có thông hành chứng, chúng tôi thuận lợi rời khỏi địa giới của lữ cảnh bị. Trời hửng nắng, hai đứa đến một ngôi làng. Lão nông dậy sớm đi nhặt phân đã bắt đầu xuất hiện trên đường làng, vai đeo lồng, tay cầm xẻng, thấy phân gia súc là xúc vào lồng. Thời ấy, nhặt phân là một cái nghề của các lão già thôn quê.
Chúng tôi hỏi lão:
“Đây là đâu vậy lão?”
Lão đáp:
“Đây là nơi giáp ranh Sóc Châu với Đại Đồng, vượt qua ngọn núi trước mặt là sang đất Đại Đồng rồi.”
Tôi dứt khoát:
“Vượt núi, đi Đại Đồng thôi!”
Băng Lưu Tử gật đầu:
“Đi!”

(Tổng: 4399 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0