Tổ Bịp

  • 5204 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 4. Bí mật của gánh xiếc
Đoàn chúng tôi lên đường.
Gánh xiếc tổng cộng có bảy người. Ngoài Cao Thụ Lâm, Thanh Nhi và Thúy Nhi, còn lại bốn gã đàn ông. Người đánh xe tên Thụ Trang, nghe đâu là anh em với Cao Thụ Lâm, nhưng chẳng rõ có chung dòng máu hay không. Gã dùng gậy gỗ chỉ trỏ tôi hôm qua tên Diêu Tử, nghe nói cũng có chút võ vẽ. Một gã gầy nhom, quắt queo như cái que được gọi là Tuyến Can, thân thủ y rất nhanh nhẹn, có thể leo tót lên những ngọn cây cao vút. Cuối cùng là một gã thanh niên lầm lì, mặt mày lúc nào cũng u ám, chẳng bao giờ mở miệng nửa lời. Mỗi khi nhìn ai, y toàn nhìn lén, tuyệt nhiên không dám đối mắt với người đối diện, tên y là Bồ Đề. Tôi chẳng hiểu sao y lại mang cái tên kỳ quặc đến thế.
Ngoài bảy người này ra, gánh xiếc còn có một con khỉ, hai con ngựa và đủ loại đạo cụ mà tôi chẳng rõ dùng để làm gì. Con khỉ cực kỳ đáng ghét, nó cứ ngọ nguậy không yên, thi thoảng lại nhảy tót lên đầu làm tôi giật bắn mình.
Gánh xiếc đích thị là dân giang hồ. Cứ cách hai ba ngày, họ lại dừng chân biểu diễn tại một ngôi làng khá lớn. Diễn xong là lập tức cuốn gói sang địa điểm tiếp theo. Suốt dọc đường, họ cứ hối hả vội vã, hớt hơ hớt hải như nhà có tang. Tôi cứ thắc mắc mãi, chẳng hiểu vì sao họ phải cuống cuồng rời đi như thế, mãi đến nửa năm sau, bí mật này mới dần được hé lộ.
Trong gánh xiếc, tôi chỉ là kẻ chạy việc vặt, hết dựng đài rồi lại dỡ đài. Ngay ngày đầu làm việc, Cao Thụ Lâm đã dặn dò:
"Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ. Liệu mà chăm chỉ, bằng không đến cứt cũng chẳng có mà ăn đâu."
Thế nên, tôi luôn chân luôn tay, cốt chỉ để họ bố thí cho bát cơm sống qua ngày.
Các tiết mục của gánh xiếc khá đơn điệu, cứ quanh đi quẩn lại mấy trò: khỉ cưỡi ngựa, khỉ leo sào, múa lưu tinh, xiếc ghế, kim thương thích hầu, đi dây... Khỉ cưỡi ngựa và leo sào thì dễ hiểu rồi. Múa lưu tinh là dùng sợi dây nối hai chiếc bát đựng dầu hỏa, châm lửa rồi cầm dây múa vòng tròn. Xiếc ghế là đặt bát sứ lên ghế, rồi lại chồng ghế lên bát, cứ thế xếp thành mấy tầng cao nghất ngưởng để người đứng lên tận đỉnh. Kim thương thích hầu là hai người đứng đối diện, đặt mũi thương sắt nhọn hoắt vào yết hầu rồi dùng sức đẩy nhau. Còn đi dây là căng một sợi thừng thật chặt nối giữa hai đỉnh sào cao, người đi thăng bằng trên đó.
Mỗi người trong gánh đều được phân công rõ ràng. Đánh xe và huấn luyện khỉ, đưa nó đi cưỡi ngựa hay leo cao là việc của Thụ Trang. Gã này rất thạo dạy thú. Dưới ngọn roi da và những bài tập khắc nghiệt, gã chỉ cần giậm chân hay giơ tay là lũ ngựa, khỉ đều hiểu gã muốn chúng làm gì. Múa lưu tinh và kim thương thích hầu là phần của Cao Thụ Lâm và Diêu Tử, hai trò này đòi hỏi phải có nền tảng võ thuật và kỹ xảo. Xiếc ghế dành cho chị em Thanh Nhi, Thúy Nhi. Dáng vẻ hai nàng thanh thoát, khi dang rộng tay chân trên không trung trông chẳng khác nào đôi nhạn xòe cánh giữa tầng không. Đi dây là ngón nghề tủ của Tuyến Can. Gã dang hai tay, lảo đảo trên sợi dây cao vút khiến người xem không khỏi thót tim, kinh hãi.
Tiết mục tuy ít nhưng thời gian biểu diễn lại khá dài. Phần lớn thời gian họ dùng để "múa mép", đặc biệt là Diêu Tử. Cái miệng gã dẻo quẹo, trước mỗi màn diễn đều thổi phồng người biểu diễn thành bậc kỳ tài hiếm có. Gã lại giỏi tấu hài bằng mấy câu vè lẳng lơ, dung tục, khiến đám đông vây quanh cười bò cả ra.
Các buổi diễn đều miễn phí. Trước mỗi suất diễn, đoàn trưởng Cao Thụ Lâm đã liên hệ trước với lý trưởng. Ông ta chỉ cần bỏ ra chút tiền thù lao mọn là chúng tôi lên đài.
Đầu thời Dân quốc, dưới tỉnh có huyện, dưới huyện có lý, dưới lý mới đến thôn, lư, lân. Năm hộ là một lân, hai mươi lăm hộ là một lư, trăm hộ trở lên gọi là thôn.
Thực tế, thu nhập của gánh xiếc này chẳng nằm ở mấy đồng bạc lẻ của lý trưởng. Chuyện này vốn dĩ sâu không thấy đáy.
Trong bảy người, có sáu người lên sân khấu, duy chỉ Bồ Đề là không làm gì. Hơn nữa, lần nào tôi dựng sào dựng đài xong cũng chẳng thấy y đâu nữa. Chỉ đến khi đoàn rời làng, Bồ Đề mới đột ngột xuất hiện.
Bồ Đề là kẻ bí hiểm nhất gánh xiếc. Thuở mới chân ướt chân ráo đến, tôi là kẻ thấp cổ bé họng nhất trong cái tập thể thứ bậc nghiêm ngặt này, nên lúc nào cũng giữ mồm giữ miệng. Thực ra, ở bất cứ hội nhóm nào, vai vế cũng đều rất quan trọng.
Ở đâu có người, ở đó có giang hồ.
Cũng cần phải nói thêm về mấy tiết mục xiếc kia.
Hai trò biểu diễn của Thụ Trang thuần túy là tấu hài. Con khỉ bắt chước điệu bộ con người trông rất buồn cười, lại thêm nó cũng thông minh nên chẳng cần kỹ thuật gì cao siêu cũng đủ khiến khán giả vỗ tay rào rào. Múa lưu tinh nhìn thì đẹp mắt nhưng thực chất cũng chẳng có gì ghê gớm, ai cầm dây tập vài ngày đều có thể múa được. Kim thương thích hầu trông thì nguy hiểm đấy nhưng thực ra lại an toàn tuyệt đối. Đầu thương đã bị mài cùn, cán thương làm bằng gỗ mềm, chỉ cần dùng lực là sẽ cong lại, chưa kể đầu thương không hề đâm vào yết hầu mà tì vào xương quai xanh phía dưới. Xiếc ghế cũng có mánh khóe cả. Toàn bộ bát sứ đều là loại đặc chế, dưới đáy có nam châm, bốn chân ghế bọc sắt, hễ chân ghế chạm vào đáy bát là hít chặt lấy nhau. Bởi thế, người đứng trên đỉnh ghế chẳng gặp nguy hiểm gì.
Trong cả gánh xiếc, chỉ có đi dây là đòi hỏi quá trình khổ luyện lâu dài, cần lòng gan dạ, tính tỉ mỉ và cũng là trò nguy hiểm nhất. Người đảm trách là Tuyến Can.
Tuyến Can trong gánh cũng chẳng có địa vị gì cao sang, cùng lắm là nhỉnh hơn tôi một chút. Nhìn thái độ hách dịch của những người khác đối với gã là đủ hiểu. Những lúc dựng đài hay dỡ rạp, hễ tôi làm không kịp là lại nghe tiếng quát tháo:
"Tuyến Can, mày chết dẫm ở xó nào rồi, mau lại đây đỡ một tay!"
"Tuyến Can, mày chui vào háng mẹ mày hay sao mà chưa vác xác ra giúp hả?"
Tuyến Can chẳng dám cãi nửa lời, cứ hớn hở chạy lại, vẻ mặt như thể rất thích thú lời sai bảo ấy.
Những con người trong gánh xiếc này từ đâu tới, gốc gác thế nào, tôi hoàn toàn mù mờ.
Trong đàn khỉ có khỉ đầu đàn, kẻ nắm quyền giao phối với tất cả khỉ cái. Ở gánh xiếc này, Cao Thụ Lâm cũng nắm quyền chiếm hữu tuyệt đối đối với Thanh Nhi và Thúy Nhi.
Mỗi tối đi ngủ, mọi người đều dồn vào một phòng. Các quán trọ phương Bắc thường có kiểu giường sưởi bằng đất (gọi là kháng) rất lớn, một chiếc có thể chứa được vài người, thậm chí mười mấy người. Nằm trong cùng là Thanh Nhi và Thúy Nhi, kế đến là Cao Thụ Lâm, rồi mới tới những người khác. Vì thân phận thấp hèn, tôi toàn phải nằm ở mép giường hoặc lăn lóc dưới đất. Chỉ khi nào nổi hứng, lão mới thuê riêng một phòng rồi gọi hai chị em sang phục dịch.
Nếu gặp được quán trọ thì cả đoàn cùng ở, bằng không lỡ độ đường thì đành tá túc ngoài đồng không mông quạnh. Những ngôi nhà hoang, hầm đất bỏ trống hay miếu cũ đổ nát, chúng tôi đều đã từng nghỉ qua đêm.
Ngủ ngoài trời, ngày khô ráo còn đỡ, đáng sợ nhất là lúc trời đổ mưa. Gặp cơn mưa rừng, kiếm đâu ra một chỗ khô ráo mà chui vào. Những lúc ấy, mọi người căng tấm vải dầu lên rồi co ro dưới đó. Vì tấm vải hẹp, chẳng còn chỗ trống, tôi đành đứng chịu trận giữa làn mưa.
Vải dầu là loại vải thô được phết một lớp dầu thầu dầu để chống nước. Dù vải dầu cũng từ đó mà ra.
Sau này ngẫm lại, việc mấy gã đàn ông lực lưỡng như Diêu Tử cứ phải nằm chen chúc, cọ sát trên cùng một chiếc giường với hai người đàn bà như Thanh Nhi và Thúy Nhi quả là cực hình. Hai chị em họ chẳng khác nào hai miếng mỡ trước miệng mèo, nhìn lão Cao chén đến sướng miệng mà lũ đàn em chỉ biết thèm rỏ dãi.
Một đêm nọ, khi cả đám đang say giấc trên kháng của quán trọ, tôi nằm ở dưới đất. Sàn nhà có nơi lát gạch, có nơi chỉ là nền đất nện.
Giữa đêm khuya, một tiếng hét thất thanh đột ngột xé toang màn đêm, chui vào màng nhĩ làm tôi giật mình tỉnh giấc. Chẳng rõ đó là tiếng của Thanh Nhi hay Thúy Nhi. Tiếp đó là tiếng quát tháo của Cao Thụ Lâm và giọng phân bua yếu ớt của Diêu Tử. Sự việc ồn ào một chốc rồi im bặt. Tôi lại thiếp đi. Lúc ấy tôi còn nhỏ, mà trẻ con thì lúc nào cũng ham ngủ.
Sáng hôm sau, trên xe ngựa, Cao Thụ Lâm lại gây gổ với Diêu Tử. Lão có vẻ rất hùng hổ, còn Diêu Tử thì hai mắt sưng húp, lộ rõ vẻ mỏi mệt do mất ngủ.
Đêm qua tôi nghe không hiểu gì, giờ thì hiểu rồi. Cao Thụ Lâm trách Diêu Tử định giở trò đồi bại với Thanh Nhi hoặc Thúy Nhi, nhưng gã chối phăng.
"Không à? Thế sao con bé lại hét lên?" Lão gằn giọng.
"Lúc con dậy đi tiểu đêm, vô tình vấp phải chân cô ấy thôi." Diêu Tử chống chế.
"Nó nằm tận phía trong, mày vấp kiểu gì mà tới được đó?"
"Thì... thì tại cô ấy nằm ngủ cứ lăn lộn đấy chứ."
Cao Thụ Lâm nổi giận quát:
"Mày toàn nói nhăng nói cuội!"
Đoạn lão chỉ tay hỏi Thanh Nhi: "Mày nói đi, có phải dây lưng quần mày bị ai cởi ra không?"
Thanh Nhi đỏ mặt tía tai, khẽ gật đầu. Lão quay sang sừng sộ với Diêu Tử:
"Dây lưng nó tự tuột chắc? Không phải mày thì còn thằng nào vào đây nữa?"
Diêu Tử mặt cắt không còn giọt máu, im re không dám hó he. Cao Thụ Lâm còn bồi thêm một câu cay nghiệt:
"Của quý mày mà cứng quá thì tìm lỗ tường mà chọc vào, ăn gan hùm hay sao mà dám đụng đến đàn bà của lão tử?"
"Con không dám, con thực sự không dám." Diêu Tử lí nhí.
Xét về diện mạo lẫn vóc dáng, Diêu Tử đều nhỉnh hơn Cao Thụ Lâm. Thế nhưng Thanh Nhi và Thúy Nhi chỉ phục tùng một mình lão, tuyệt không cho kẻ khác xơ múi. Ngay cả hai gã lừa đảo muốn bắt chuyện, hai nàng cũng tảng lờ đi. Rốt cuộc là vì lẽ gì?
Nghe đồn giới giang hồ có loại thuốc, đàn bà uống vào sẽ một lòng một dạ, chết mê chết mệt người đó cả đời. Loại thuốc ấy giờ đã thất truyền. Giang hồ vốn lắm loại kỳ dược: có thứ khiến người ta héo mòn dần rồi chết; có thứ khiến đàn bà lãnh cảm bỗng chốc trở nên hừng hực lửa dục; có thứ giúp giữ mãi nét thanh xuân; lại có thứ khiến đàn ông liệt dương, mất sạch ham muốn. Giờ đây, Đông y trên mảnh đất này ngày càng mai một trước sự lấn lướt của Tây y suốt cả trăm năm qua, khiến nhiều bí thuật thảo dược cũng theo đó mà tiêu biến.
Lúc ấy tôi thầm nghĩ, rất có thể Cao Thụ Lâm đã cho hai chị em họ uống loại thuốc bí hiểm đó.
Hoàng hôn hôm ấy, khi gánh xiếc tới một thị trấn khác, Cao Thụ Lâm nói với Diêu Tử:
"Đi với tao một lát, có mấy lời quan trọng cần bàn."
Diêu Tử chẳng dám chối từ, lầm lũi bước theo sau lão ra khỏi thị trấn.
Gần nửa đêm, Cao Thụ Lâm lủi thủi trở về một mình. Lúc bước vào, lão giẫm trúng cổ chân làm tôi tỉnh giấc. Giữa bóng đêm đặc quánh, tôi ngửi thấy một mùi máu tanh nồng nặc.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, không còn thấy bóng dáng Diêu Tử đâu nữa.
Cao Thụ Lâm nói với mọi người:
"Tuyến Can, mày thay chỗ của Diêu Tử. Ngai Cẩu, mày thay chỗ của Tuyến Can."
Tôi định mở miệng hỏi Diêu Tử đi đâu, nhưng lời đến môi lại kịp nuốt ngược vào trong.
Cao Thụ Lâm dường như đọc được vẻ nghi hoặc trong mắt mọi người, lão thản nhiên:
"Thằng chó Diêu Tử muốn đánh lẻ một mình, nó bỏ mặc chúng ta rồi."
Khi chưa lên thay vị trí của Diêu Tử, Tuyến Can rất khép nép, gặp ai cũng gật đầu chào hỏi, chưa bao giờ quát nạt tôi lấy một lời. Nhưng vừa mới thăng cấp, gã lập tức lật mặt, học đòi kẻ bề trên mà hạch sách tôi đủ điều.
Có lần, khi đang dỡ đài, tôi chưa kịp cuộn dây thừng cho gọn, Tuyến Can lù lù tiến lại, tặng thẳng một cú đá vào mông làm tôi ngã sấp mặt, mồm ngậm đầy đất. Thanh Nhi đứng bên cạnh cười ngất, còn Thúy Nhi thì mắng gã:
"Cái đồ nhãi ranh, mới có chút chức tước đã tinh tướng à? Dám ra tay đánh người cơ đấy?"
Tuyến Can vội vã cười cầu hòa với Thúy Nhi. Nàng gắt lên:
"Sau này còn dám đánh nó, bà chặt chân của mày nghe chưa."
Gã liền xuống giọng: "Không dám, không dám nữa."
Đợi Thúy Nhi đi khuất, Tuyến Can lườm tôi một cái muốn cháy mặt, rít qua kẽ răng:
"Đừng tưởng có con mụ Thúy Nhi chống lưng mà lão tử sợ nhé."
Tôi lẳng lặng quay đi tiếp tục cuộn dây, trong lòng thầm cảm kích Thúy Nhi.
Tiết mục của Tuyến Can là đi dây, một ngón nghề thuần kỹ thuật. Để trở thành một "Tuyến Can" mới, tôi còn cả một hành trình dài đầy gian nan phía trước.
Tôi căng dây thừng giữa hai thân cây, tay cầm cây sào dài rồi bước lên. Cây sào đóng vai trò như một thanh cân bằng. Cao Thụ Lâm bắt Tuyến Can phải chỉ dạy tôi. Gã cầm một cành liễu đứng dưới dây, hễ chân tôi hơi lảo đảo là gã thẳng tay quất mạnh vào bắp chân. Đau quá, tôi ngã chúi đầu xuống đất, Tuyến Can lại dùng cả hai chân dậm lên lồng ngực gầy giơ xương của tôi.
Tôi căm hận Tuyến Can thấu xương. Đã không ít lần đứng trên đầu gã, tôi chỉ muốn rút "của quý" ra mà tiểu một bãi cho bõ ghét.
Sợi dây ngày càng được nâng cao, kỹ năng của tôi cũng dần hoàn thiện. Sau vô số lần té ngã, có bữa còn ngất xỉu ngay tại chỗ, cuối cùng tôi cũng có thể dang rộng hai tay đi thăng bằng trên dây. Từ lần đầu đặt chân lên dây đến lúc có thể biểu diễn chính thức, tôi chỉ mất vỏn vẹn hai ba tháng.
Và rồi, tôi sớm đắm chìm vào cảm giác đi dây. Đứng trên cao, tôi thấy lũ chim đậu ngay sát tầm mắt, chúng ríu rít như thể coi tôi là đồng loại. Tôi thấy những đám mây bềnh bồng ngay trên đỉnh đầu, trắng muốt và mềm mại như bông, tưởng như chỉ cần với tay là chạm tới. Tôi cảm nhận được làn gió xuyên qua cơ thể, thầm thì những lời mà chỉ riêng mình tôi thấu hiểu. Đứng trên sợi dây ấy, tôi thấy mình thoát tục, thấy mình đã giẫm được bọn Cao Thụ Lâm xuống dưới chân. Chẳng còn ai cao hơn tôi, chẳng còn ai quản được tôi nữa.
Nghe nói để học được đi dây phải mất ít nhất nửa năm, vậy mà tôi chỉ cần hơn hai tháng. Có lẽ, tôi sinh ra đã có thiên phú biểu diễn xiếc.
Đến khi chính thức bước lên đài đi dây, tôi mới vỡ lẽ ra bí mật động trời mà băng nhóm này vẫn luôn che đậy.
Biểu diễn xiếc chỉ là cái cớ, nhân cơ hội để trộm cắp mới là mục đích thực sự.
Cao Thụ Lâm rất uy nghiêm, lão hiếm khi trò chuyện nhưng ai nấy đều run rẩy trước lão.
Khi tôi học đi dây, thái độ của lão đối với tôi thay đổi hẳn. Tôi cảm nhận được ánh mắt lão nhìn tôi đã có tia cười, bởi giờ đây tôi đã trở thành một quân bài trong tay lão. Thi thoảng lão lại vỗ vai khen ngợi vài câu, đại loại như "tiền đồ vô lượng" hay mấy lời sáo rỗng tương tự.
Dẫu vậy, tôi vẫn chẳng thể đoán định lão có thực sự tốt với mình hay không. Ngay lúc tôi tưởng lão quan tâm, thì có lần tôi ngã từ trên dây xuống bụi rậm giữa hai thân cây, lão thản nhiên đứng nhìn Tuyến Can thượng cẳng tay hạ cẳng chân với tôi rồi quay ngoắt đi như không hề hay biết. Nhưng đến khi tôi ngỡ lão bạc bẽo, lão lại gắp miếng đậu phụ trong bát mình bỏ vào bát tôi, nói: "Đang tuổi ăn tuổi lớn, ăn nhiều vào cho có sức."
Tóm lại, trong mắt tôi, Cao Thụ Lâm là một kẻ biến hóa khôn lường.
Đi dây là một kỹ thuật khó, ngoài việc giữ thăng bằng còn phải học cách thổi còi hiệu. Tôi chẳng hiểu đi dây thì liên quan quái gì đến thổi còi, nên học hành chểnh mảng, tiếng còi phát ra cứ phều phào, nghe như người đang bị cảm.
Có lần, Tuyến Can thọc mạnh cái que gỗ vào miệng tôi, ngoáy loạn xạ. Gã gầm lên:
"Đánh cho mày rụng sạch răng đi thì tiếng còi mới to lên được!"
Miệng tôi đầy máu, máu rỉ ra khóe môi. Tôi thấy Cao Thụ Lâm đứng đằng xa, khoanh tay trước ngực nhìn sang. Thúy Nhi chạy tới định can ngăn liền bị lão đưa tay chặn lại.
Khoang miệng tôi chằng chịt vết thương do que gỗ gây ra, đau đến mức không nuốt nổi cơm. Thúy Nhi an ủi:
"Ai đi dây cũng phải biết thổi còi. Em ráng mà học vào, có thế mới không bị đánh nữa."
Để thoát khỏi những trận đòn roi, tôi điên cuồng tập luyện và cuối cùng cũng làm chủ được cả sợi dây lẫn tiếng còi. Đứng trên cao, tôi thổi ra những hồi còi vừa vang vừa lảnh lót, làm kinh động cả lũ chim chóc đậu trên cành.
Lúc ấy, tôi ngỡ mình chính là một cánh chim.
Đêm trước buổi ra mắt đầu tiên tại La Gia Oa, Cao Thụ Lâm hẹn tôi ra ngoài quán trọ. Phía ngoài có một con mương lớn chứa đầy xác súc vật chết, mùi hôi thối nồng nặc bốc lên theo từng cơn gió. Chúng tôi ngồi bệt bên bờ mương.
Lão bắt đầu truyền dạy "mật chỉ".
Lão hỏi: "Mày thích sống cảnh giàu sang hay muốn nghèo hèn cả đời?"
Nghĩ về những ngày còn làm thiếu gia trong phủ, tôi đáp: "Con muốn giàu."
Lão gật gù: "Cái gánh xiếc này lập ra là để sau này chúng ta ai nấy đều được đổi đời."
Tôi im lặng, chẳng biết phải tiếp lời thế nào.
Lão lại bảo: "Chắc mày đang ngờ vực, thấy chúng ta phiêu bạt thế này thì giàu sao nổi, phải không?"
Chưa đợi tôi trả lời, lão đã dặn tiếp: "Ngày mai lúc đi dây, mày phải khắc cốt ghi tâm hai điều: một là quan sát xem nhà nào trong làng giàu nhất; hai là báo vị trí nhà đó cho tao."
Tôi ngây ngô hỏi: "Nhìn thế nào, báo làm sao ạ?"
Lão giải thích: "Mày đứng trên cao, cả làng thu hết vào tầm mắt. Nhà nào sân vườn nuôi nhiều trâu ngựa, nhà nào phơi phóng gấm vóc lụa là thì đích thị là nhà giàu. Mày phải báo cho tao."
"Báo bằng cách nào vậy?"
Lão dặn: "Tao dựng hai cột sào, hướng sợi dây luôn trùng với hướng trục đường chính của làng. Khi mày đi trên dây, tay trái đại diện cho dãy nhà bên trái đường, tay phải là dãy bên phải. Mày giơ tay bên nào, tao khắc biết bên đó có hàng ngon. Hướng mày đi dọc sợi dây cũng là hướng đường làng, tính từ đầu làng vào, nhà giàu nằm ở vị trí thứ mấy thì mày thổi bấy nhiêu hồi còi."
Đến nước này, tôi đã lờ mờ hiểu ra ý đồ của lão. Họ định đi ăn trộm.
Lão gằn giọng hỏi: "Thủng chưa?"
"Con rõ rồi. Nhưng lỡ trong sân có người thì sao?"
Lão cười khẩy: "Cả năm làng mới có một đoàn xiếc ghé qua, hễ có tiếng trống là cả làng kéo nhau đi xem sạch, còn ai ở nhà mà canh với giữ?"
Tôi ngần ngừ một chút rồi đánh bạo hỏi: "Nhỡ bị phát hiện thì tính sao?"
"Chúng nó có biết thì mình cũng đã cao chạy xa bay rồi. Mình cứ đi từ Bắc chí Nam, mỗi làng cả đời chỉ ghé một lần, có biết cũng chẳng làm gì được."
Đoạn lão vỗ vai tôi: "Cấm tuyệt đối không được hé môi với ai đấy nhé. Sau này có tiền, tao sẽ cưới vợ cho mày, mua cho mày một dinh cơ hẳn hoi."
Nghe thế, tôi khấp khởi mừng thầm. Tuổi ấy tôi đã bắt đầu có những rung cảm đầu đời, lờ mờ hiểu được cái "giá trị" to lớn của việc có vợ.
Nơi đầu tiên tôi biểu diễn đi dây là La Gia Oa. Cái tên ấy in đậm trong tâm trí tôi đến tận bây giờ, bởi ở đó tôi đã gặp một cô bé tên là Ni Tử.
Tôi và Ni Tử vốn dĩ chẳng thể có một đoạn kết đẹp, bởi tôi là kẻ giang hồ phiêu bạt, nay đây mai đó, gốc rễ không thành. Tôi như con thuyền nhỏ dập dềnh trên sóng nước, còn cô bé là cái cây bên bờ. Thuyền và cây, làm sao có thể chung lối?
Ni Tử trạc tuổi tôi. Nhà cô bé chắc hẳn rất khá giả, cô bé mặc áo bông lụa, tết hai bím tóc đen nhánh, dày dặn, đôi mắt long lanh trông rất xinh xắn. Dẫu chỉ mới có chút ý thức về phái yếu, tôi cũng đủ biết thế nào là đẹp và nảy sinh lòng mến mộ tự nhiên với nàng.
Lúc tôi đang dựng đài ở sân đập lúa, Ni Tử đứng ngay cạnh quan sát. Cô bé hỏi:
"Anh cũng biểu diễn à?"
Tôi cầm sợi thừng, dõng dạc: "Đúng vậy, ở đây ai cũng có nghề cả."
Cô bé chớp đôi mắt to tròn: "Thế anh diễn trò gì?"
Tôi cố ý úp mở: "Lát nữa em sẽ biết, đảm bảo hay lắm."
Tôi bận rộn lúc khuân ghế, lúc buộc dây, lúc đào hố, Ni Tử cứ như cái đuôi nhỏ bám theo sau, hỏi han đủ thứ vì tò mò: "Các anh từ đâu tới?"
Tôi chỉ tay về phía chân trời xa tắp: "Từ đằng kia lại."
Cô bé nhìn đăm đăm về phía những ngọn núi phía xa rồi hỏi: "Từ bên kia núi à?"
"Còn xa hơn thế nhiều."
Cô bé lại hỏi: "Bên kia núi có gì?"
"Là bình nguyên."
"Bình nguyên là gì thế anh?"
Tôi chẳng biết giải thích khái niệm địa lý ấy thế nào cho Ni Tử hiểu, đành dang rộng hai tay minh họa: "Bình nguyên nó rộng thế này này..."
Thúy Nhi nghe thấy cuộc trò chuyện liền chạy lại, cười bảo cô bé: "Có muốn đi xem bình nguyên không?"
"Muốn ạ." Cô bé đáp.
"Muốn thì cứ đi theo bọn chị."
Ni Tử lắc đầu: "Nhưng các chị đâu phải người nhà em, em mà đi ba mẹ em sẽ buồn lắm."
Thúy Nhi chỉ tay vào tôi, trêu chọc: "Đây là chồng em, là người nhà em rồi còn gì."
Cô bé đỏ bừng mặt, quay người chạy biến, hai bím tóc vung vẩy sau lưng như cái đuôi nhỏ. Tôi cũng ngượng chín mặt. Trong lòng thầm nhủ: "Giá mà cô bé này làm vợ mình thì hay biết mấy!"
Cũng chính vì Ni Tử mà tôi nhớ mãi ngôi làng La Gia Oa ấy.
Tiết mục của gánh xiếc luôn có thứ tự nhất định. Mở màn là hai trò của Thụ Trang: khỉ cưỡi ngựa và khỉ leo sào. Dù ở miền núi hay đồng bằng, người ta cũng hiếm khi thấy khỉ, nên chỉ cần dắt khỉ đánh phèng la một vòng quanh làng là lũ trẻ con sẽ kéo nhau ra sân phơi lúa. Sau đó là màn kim thương thích hầu của Tuyến Can và Cao Thụ Lâm. Ngọn thương bạc sáng loáng tì vào cổ, trò kinh dị này chắc chắn sẽ giữ chân đám người lớn. Tiếp theo là xiếc ghế, màn này ngắn thôi, mục đích là để gom toàn bộ ánh nhìn về một điểm. Cuối cùng mới đến lượt tôi đi dây.
Lúc tôi lên dây, cả làng đã vắng người qua lại. Đứng trên đỉnh sào, tôi nhìn xuống làng, từng nóc nhà, từng khoảnh sân hiện lên rõ mồn một, ngay cả ổ khóa đồng treo trên cổng cũng nằm trong tầm mắt. Tôi thấy phía bên trái, căn nhà thứ ba có cổng cao tường kín, trong sân có cây ngô đồng cao vút che cả mái nhà, trên cây có tổ chim khách, đôi chim đang nháo nhào bay lên lượn xuống. Trong sân có hai hầm đất, cửa sổ lồng cáo, cửa hầm sơn đỏ, mà cửa lại đang mở toang, chẳng thèm chốt khóa. Giữa khoảng sân trống đặt mấy chiếc mẹt tre, trong mẹt phơi đầy bánh màn thầu trắng tinh đã bẻ nhỏ. Đích thị là một nhà giàu có, nhìn cách ăn mặc và nhà cửa là biết ngay.
Tôi giơ tay trái lên, vẫy vẫy vài cái giữa không trung rồi thổi liền ba hồi còi dài. Đám đông bên dưới đồng loạt ồ lên tán thưởng, vỗ tay rào rào, họ cứ ngỡ tôi thổi còi để làm tăng thêm phần kịch tính cho buổi diễn.
Tôi bước chậm rãi trên dây. Những bước chân này đã được rèn giũa hàng nghìn, hàng vạn lần nên tôi chẳng còn chút run sợ, đi trên dây mà như đi trên đất bằng. Tôi tiếp tục đảo mắt nhìn quanh, bỗng thấy từ đâu vọt ra một bóng người gầy nhom, thoăn thoắt lao về phía căn nhà thứ ba bên trái đường. Y rút trong người ra một sợi dây có gắn móc sắt, quăng nhẹ một cái, móc đã ngoắc chặt vào cành ngô đồng vươn ra ngoài tường. Rồi y nhún người, trườn lên tường nhanh như một con thạch sùng, lộn một vòng rồi biến mất sau bức tường cao.
Đó chính là Bồ Đề, gã thanh niên lầm lì, âm hiểm và đáng sợ ấy.
Tôi nhìn xuống dưới chân, thấy mọi người đều ngẩng cổ nhìn, hai mắt mở to, miệng há hốc. Giữa đám đông, tôi bắt gặp Ni Tử, ánh mắt cô bé đầy vẻ lo âu. Tim tôi thắt lại, tôi biết cô bé đang lo lắng cho tính mạng của mình.
Nhưng, liệu cô bé có biết tôi là một tên trộm không? Và biết đâu, nơi Bồ Đề đang hành nghề chính là nhà của Ni Tử.
Tôi đi qua đi lại vài vòng trên dây, hai tay dang rộng, lảo đảo như con gà trống đi trên bờ tường, đến chính tôi cũng thấy mình vụng về, chẳng được nhẹ nhàng như Tuyến Can. Vậy mà phía dưới vẫn không ngớt tiếng trầm trồ, thán phục.
Tôi đi đến mức đầu óc quay cuồng, tưởng chừng sắp ngã, thì cuối cùng cũng thấy Bồ Đề lẻn ra khỏi hầm đất. Trên vai y đeo một chiếc túi vải hoa, loại túi khâu từ đủ loại vải vụn màu sắc của dân quê. Tôi vội vàng đi về phía cột sào, ôm chặt thân cột, thở hắt ra một hơi nhẹ nhõm.
Tôi tuột xuống, Cao Thụ Lâm nhìn tôi bằng ánh mắt dò hỏi, tôi khẽ gật đầu ra hiệu thành công. Lão vẫy tay một cái, mọi người lập tức thu dọn đạo cụ lên xe, nhổ sào, cuộn dây thừng. Khán giả vẫn còn xem chưa đã, lững thững tản đi.
Sân phơi lúa chỉ còn lại chúng tôi và Ni Tử. Cô bé nhìn tôi bằng đôi mắt trong veo, đầy vẻ luyến lưu và ngưỡng mộ.
Chúng tôi lên xe ngựa, Thụ Trang vung roi, một tiếng "chát" giòn giã vang lên, xe ngựa nhẹ nhàng lăn bánh. Ngoảnh đầu lại, tôi vẫn thấy Ni Tử đứng lặng lẽ bên sân đập lúa.
Lòng tôi thắt lại, đau nhói, nhưng tôi chẳng thể xuống xe, cũng chẳng bao giờ quay lại nữa.
Sợi dây mỏng manh nhất trong tâm hồn tôi đã bị Ni Tử khẽ khàng chạm vào.
Nếu đó là tình yêu, thì đó chính là mối tình đầu của tôi.
Cả đời này, tôi chưa từng quên Ni Tử.

(Tổng: 5204 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0