Tổ Bịp
- 4436 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 64. Kế điệu hổ ly sơn
Đến buổi trưa, chúng tôi nhìn thấy phía bắc là dãy Trường Thành cổ uốn lượn trùng điệp. Dưới chân thành có một quan đạo, bước chân người đời nối tiếp nhau qua bao năm tháng đã biến con đường đất vàng ấy thành nền đường rắn chắc, phẳng bóng như gương. Trên đường còn in rõ dấu chân lạc đà to bằng miệng bát xen lẫn vết móng trâu bò như những cánh hoa hằn trên mặt đất.
Chúng tôi đi men theo Trường Thành, hai ngày sau thì đến một nơi gọi là Diêm Trì. Trong tên có chữ “diêm”, song nơi này chẳng có muối, mà lại chủ yếu trồng cam thảo. Cam thảo là vị thuốc quý, năm nào cũng có thương nhân từ nội địa vượt đường xa đến Diêm Trì thu mua.
Chiều đó, trời nổi một trận hoàng phong. Ở vùng Tây Bắc, người ta gọi cơn lốc xoáy là “hoàng phong”. Bởi mỗi khi nó kéo đến, cát bụi bay mịt mù, đất trời tối sầm, khắp nơi nhuộm một màu vàng đục, đứng đối diện cũng chẳng thấy rõ người. Quang Đầu ngẩng lên nhìn sắc trời, bảo chúng tôi tối nay nghỉ lại trong huyện thành Diêm Trì.
Chúng tôi thuê trọ trong một tòa đại viện giữa huyện thành. Nơi này rất rộng, có tường bao quanh xây bằng gạch, trên tường còn có một vọng gác để tiện quan sát. Một tòa nhà bề thế như thế này, quả là hiếm thấy ở Tây Bắc. Có lẽ chủ nhân là người làm ăn lớn, hơn nữa buôn bán cũng phát đạt.
Chủ nhà sai đầu bếp nấu cho chúng tôi một nồi hồ bột tử. Món ăn đặc trưng vùng biên ải này làm tôi nhớ đến món bánh canh hội bính mà tôi từng ăn lúc còn theo chân sư phụ Lăng Quang Tổ ở dãy Đại Biệt Sơn, Hà Nam. Khác ở chỗ nguyên liệu dùng trong món Hội Bính là thịt heo, còn Hồ Bột Tử lại dùng thịt cừu. Tây Bắc đất đai rộng mênh mông, cừu nhiều không đếm xuể, số lượng gấp mấy lần heo.
Ăn xong hồ bột tử, mọi người đều nằm dài lên kháng nghỉ ngơi. Nhưng trận gió lốc kia đã tan, đất trời trở nên trong sáng. Trận gió ấy không chỉ cuốn sạch rác rưởi trên mặt đất mà cả mây đen trên trời cũng bị thổi bay đi hết. Nhìn bầu trời quang đãng ấy, trong lòng tôi cũng cảm thấy thư thái lạ thường.
Có vẻ như tâm trạng của Mắt Híp cũng khá hơn, dường như trận hoàng phong kia đã cuốn đi cả mấy ngày u ám trong lòng anh ấy.
Anh nói: “Tụi mình dạo một vòng quanh huyện thành đi, chú em có đi không?”
Tôi đáp: “Một cái huyện thành nhỏ thế này thì có gì vui?”
Mắt Híp cười, nói: “Thế thì chú em lại không biết rồi. Các cô gái ở nơi này trông khác hẳn với các cô gái ở chỗ tụi mình. Con gái ở đây ai cũng cao ráo, dáng người đầy đặn, hai mắt to tròn và sáng, mí mắt hơi sưng nhẹ, sống mũi thẳng tắp, phải nói là đẹp tuyệt trần luôn!”
Tôi tỏ vẻ nghi ngờ: “Mí mắt sưng mà cũng gọi là đẹp à?”
Mắt Híp vội giải thích: “Đẹp chứ sao không! Con gái ở đây mí sưng mà là sưng kiểu khác cơ, đều là hai mí, mắt tròn như mắt bò, sáng lấp lánh, chú bảo thế có đẹp không nào?”
Tôi bèn chọc anh ấy: “Mắt anh nhỏ tí, thấy đôi mắt nào to hơn mình cũng khen đẹp hết!”
Mắt Híp xị mặt, đáp cộc lốc: “Thế chú có đi hay không? Không đi thì anh đi một mình vậy!”
Trong lòng tôi cũng thấy ngứa ngáy, muốn xem thử con gái ở đây trông như thế nào. Nghe Mắt Híp tả hay quá, tôi cũng động lòng, thế là theo chân anh ấy bước ra khỏi sân.
Ngoài phố người đi lại đông nghịt, dường như sau trận hoàng phong, cả huyện huyện đều đổ ra đường để tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ. Mắt chúng tôi cứ nhìn chung quanh, thèm thuồng ngắm nghía từng cô gái đi ngang qua, nhưng chỉ thấy thất vọng vô cùng. Các cô gái ấy đều khoác áo dài màu đen, chẳng để lộ dáng người gì cả, mà mặt lại che kín bằng tấm khăn mỏng, người quấn khăn xanh, người quấn khăn đen, người lại quấn khăn trắng, thành ra chẳng biết là họ mũi cao hay mũi tẹt, mắt to hay mắt nhỏ.
Cả hai chúng tôi đều thấy hụt hẫng.
Tôi còn thấy lạ lùng nữa. Tại sao có người dùng khăn che mặt màu xanh, có người lại dùng màu đen và màu trắng?
Chúng tôi cứ thế lang thang trên phố, giống như hai con chó không nhà. Đi hết nửa cái huyện thành mà vẫn chưa nhìn rõ mặt mũi một người phụ nữ nào. Tôi thấy một người phụ nữ bước vào trong một gian phòng nhỏ được ghép từ những tấm phên sậy, một lát sau thì lại đi ra, ngay sau đó lại có một người phụ nữ khác bước vào.
Tôi hỏi: “Chỗ đó làm gì vậy?”
Mắt Híp đáp: “Chỗ để tắm gội đấy.”
Tôi ngạc nhiên: “Cái chỗ bé tẹo như thế, thì tắm thế nào được?”
Mắt Híp bảo: "Vùng này cực kỳ khô hạn, thiếu nước trầm trọng. Cái gọi là tắm rửa của người dân ở đây không phải là cởi hết quần áo, rồi nhảy vào tắm như mình đâu, mà họ chỉ dùng tay vốc một vốc nước, lau ướt mắt với miệng, thế là coi như đã tắm xong rồi. Tắm xong, họ sẽ đi thẳng vào trong giáo đường để làm lễ."
Tôi bỗng nảy ra một ý, liền nói: "Họ phải lau ướt miệng và mắt, như thế chẳng phải sẽ nhìn được mặt mũi họ sao?"
Mắt Híp đáp: “Đi xem thử nào!”
Chúng tôi lặng lẽ vòng ra sau gian phòng đó, tìm được một cành gậy nhỏ, rồi luồn vào khe hở giữa những thân sậy. Còn chưa kịp nhìn rõ, phía sau bỗng vang lên một tiếng quát rất to, nghe chẳng hiểu gì.
Ngay sau tiếng quát đó, từ sau lưng hắn lập tức xuất hiện ba người, ai nấy đều cao to vạm vỡ, da đen nhẻm, râu ria rậm rì, trông vừa dữ vừa khỏe. Thấy chúng tôi đang nhìn trộm người bên trong, bọn họ không nói không rằng, đồng loạt xông tới.
Tôi sợ quá lùi lại mấy bước, còn Mắt Híp thì không tránh. Anh ấy rùn người xuống, quét ngang chân, người vừa hét lúc nãy lập tức ngã lăn quay ra đất.
Vừa với chạm mặt, Mắt Híp đã hạ gục ngay gã đầu tiên. Gã thứ hai thoáng chút do dự, thì Mắt Híp đã như con mèo rừng lao tới tung một cú đấm vào mặt hắn. Gã loạng choạng lùi mấy bước rồi ngã ngửa xuống đất.
Gã thứ ba và thứ tư không còn dám xông lên nữa, miệng la hét ầm ĩ. Từ xa từ xa chừng hơn chục người đang chạy tới. Mắt Híp siết chặt nắm đấm, khí thế bừng bừng như còn muốn đánh tiếp, tôi vội nói:
“Chạy mau! Bị vây rồi thì chẳng thoát nổi đâu!”
Cả hai chúng tôi quay đầu bỏ chạy. Đám người phía sau không chịu buông tha, vừa đuổi vừa la hét om sòm. Lát sau, số người đuổi theo đã lên đến mấy chục người.
Không còn đường thoát thân, chúng tôi đành chui vào một con ngõ nhỏ. Con ngõ quanh co ngoằn ngoèo, vừa hẹp vừa dài, như ruột gà uốn khúc. Tiếng chân truy đuổi rầm rập ở đầu ngõ. Đúng lúc ấy, chúng tôi thấy cánh cổng một ngôi nhà cạnh đó đang mở, liền cắm đầu chạy vào.
Khi vào bên trong mới biết, thì ra đây là một căn nhà bỏ hoang. Cỏ dại trong sân mọc um tùm đã nhiều năm, mấy gian nhà đắp bằng đất vàng đã đổ sập, chỉ còn một con chó hoang đang sục sạo tìm thức ăn trong sân. Nó bất chợt nhìn thấy chúng tôi thì hốt hoảng lao vụt đi như tên bắn.
Trước căn nhà đổ nát có một hầm củ cải. Ở vùng nông thôn Tây Bắc, nhà nào cũng có hầm như thế, dùng để trữ củ cải qua mùa đông. Khí hậu nơi này khắc nghiệt, mùa đông lại kéo dài, rau xanh trong nhà đều dựa vào số củ cải đỏ và củ cải trắng tích trữ từ mùa thu. Nhà nào mà hầm chứa nhiều củ cải, nhà ấy đã được xem là phú hộ rồi.
Chúng tôi chui vào trốn trong hầm củ cải, lấy cỏ dại phủ kín miệng hầm. Từng nhịp chân “thình thịch” vang lên trước cổng viện, cứ như dùi trống gõ vào màng nhĩ chúng tôi. Tiếng bước chân mỗi lúc một xa, chúng tôi vừa định trồi lên thì lại nghe tiếng bước chân quay trở lại. Bọn họ đang tản ra bốn phía lùng sục, có người còn dùng chân đá mạnh vào những cục đất quanh sân.
Trời dần nhá nhem tối, hầm củ cải đã hoàn toàn chìm vào bóng đêm. Tôi cảm thấy một con côn trùng đang bò lên cổ mình. Những chiếc chân nhỏ xíu của nó cứ nhúc nhích trên cổ, nhưng tôi chẳng dám động đậy, sợ chọc tức nó. May sao, qua một lúc, có lẽ cảm thấy không hứng thú, nó lại bò đi mất.
Đêm đã về khuya, những tiếng chân lục soát bên ngoài hầm củ cải mỗi lúc một thưa rồi xa hẳn. Tôi với Mắt Híp thấy không còn nguy hiểm nữa mới rón rén thò đầu ra xem xét, rồi cứ nơm nớp lo sợ mà lần mò trở lại khu sân trong nơi đoàn vận tiêu đang trú ngụ.
Trong sân, mọi người đều đang đợi chúng tôi.
Vừa trông thấy chúng tôi, Quang Đầu đã nổi trận lôi đình. Tuy vậy, ông ta không trút giận lên tôi mà dồn hết sang Mắt Híp. Giọng ông vang như sấm, hệt như tiếng sư tử đang gào thét, còn Mắt Híp thì cứ chớp chớp mắt liên hồi, chẳng khác gì gà mổ thóc.
Quang Đầu quát: “Hai đứa đi đâu thế?”
Mắt Híp vừa chớp mắt vừa đáp: “Chỉ... chỉ ra ngoài dạo chơi một vòng thôi.”
Quang Đầu đi vòng quanh anh ấy, rồi kéo mạng nhện dính trên người Mắt Híp xuống, gầm lên: “Dạo một vòng? Dạo ở chỗ nào mà áo đầy mạng nhện thế này? Có phải đã làm chuyện gì mờ ám không?”
Mắt Híp vội nói: “Không mà!”
Tôi cũng lập tức phụ họa: “Không có chuyện ấy đâu!”
Quang Đầu bắt Mắt Híp phải nói rõ hôm nay đã đi đâu, nhưng Mắt Híp một mực khẳng định chỉ ra ngoài đi dạo loanh quanh. Tôi cũng đồng thanh khẳng định chắc nịch rằng mình chỉ ra ngoài đi dạo thôi. Cái chuyện lén lút nhìn trộm phụ nữ nhà người ta rửa mặt, suýt nữa bị người ta vây đánh, rồi phải chui vào trốn trong hầm củ cải, là vô cùng nhục nhã, tuyệt đối không thể nào nói ra được, cho nên chúng tôi giữ kín như bưng.
Quang Đầu thấy không moi thêm được thông tin nào nữa, bèn gọi hai người đang canh gác đi vào rồi bảo bọn tôi tối nay thay phiên họ gác đêm.
Thế là hai chúng tôi bước ra khỏi phòng, trèo lên chiếc chòi nhỏ ở góc tường viện. Đứng trên đó, tôi có thể nhìn rõ mọi động tĩnh bên trong lẫn bên ngoài sân.
Đèn đuốc trong huyện thành Diêm Trì cũng dần tắt hết, đèn trong sân cũng đã tắt, ánh trăng xuyên qua những tầng mây, lúc tỏ lúc mờ. Đêm nay thật yên tĩnh và thanh bình biết bao!
Tôi chợt nhớ tới những tấm mạng che mặt đủ màu sắc đã thấy trong thành vào ban ngày, bèn quay sang hỏi thằng Mắt Híp: “Anh này, sao những người phụ nữ ấy lại đeo khăn che mặt màu khác nhau vậy? Có phải có ý nghĩa gì không?”
Thằng Mắt Híp giải thích: “Phụ nữ chưa kết hôn thì đeo khăn màu xanh; người đã kết hôn thì đeo khăn màu đen; còn người đã có cháu nội rồi thì đeo khăn màu trắng.”
À, hóa ra là như vậy!
Để xua tan quãng thời gian tẻ nhạt, tôi lại hỏi: “Võ công của anh là học từ ai thế? Có phải người học võ ai cũng thích đánh nhau không?”
Mắt Híp kể rằng quê anh ấy ở Thương Châu, tỉnh Hà Bắc. Ở đó, con trai đều luyện võ từ nhỏ. Năm bảy tuổi, anh theo cha tới Trương Gia Khẩu, rồi sống luôn ở đó. Sang năm sau, cha đưa anh đến tiêu cục. Trong tiêu cục có nhiều tiêu sư giống anh, từ khi gia nhập đã bắt đầu luyện tập những bài căn bản. Sau khi luyện thành công phu, họ làm tiêu sư trong Tiêu Cục để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Sư phụ của Mắt Híp chính là Quang Đầu
À, hèn gì Quang Đầu cứ mắng Mắt Híp xối xả, chẳng nể nang gì, hóa ra Mắt Híp là đệ tử của ông ấy.
Mắt Híp nói tiếp, rằng người mới học võ thường nhìn ai cũng ánh lên vẻ hằn học, trong mắt luôn có sát khí, hễ không vừa ý là muốn đụng tay đụng chân. Nhưng thời gian lâu dần, cái vẻ hung hăng ấy dần được mài mòn, ánh mắt nhìn người khác cũng trở nên ôn hòa hơn.
Mắt Híp hỏi tôi: “Chú em không biết võ à?”
Tôi đáp: “Em không biết.”
Mắt Híp nói: “Lăn lộn giang hồ mà không có chút bản lĩnh thì sao được? Có võ công thì như có bùa hộ mệnh, đi đến đâu cũng chẳng phải sợ ai.”
Tôi nói: “Trước đây không có sư phụ chỉ dạy, giờ mà học chắc là muộn mất rồi.”
Mắt Híp cười: “Muộn gì mà muộn, học võ thì tuổi nào cũng được. Anh từng gặp một người, sáu mươi tuổi mới bắt đầu tập võ, thế mà giờ vẫn đánh ra trò, thanh niên bình thường cũng khó địch nổi. Luyện quyền mà không luyện công, cuối cùng cũng uổng phí vô ích. Mấy bài quyền hoa lá cành, dù đẹp mắt đến đâu chăng nữa thì cũng chẳng có tác dụng, vẫn cần phải có chân công phu!”
Tôi hỏi: “Thế nào mới gọi là có chân công phu?”
Mắt Híp nói: “Công phu thực sự gói gọn trong hai chữ: nhanh và chuẩn. Khi đánh nhau, ra tay phải nhanh, đối phương còn chưa động, quyền cước của mình đã vung tới rồi. Còn chữ chuẩn, là muốn đánh chỗ nào, thì phải đánh trúng chỗ ấy. Còn những bài quyền, chiêu thức hoa mỹ gì đó, đều vô dụng cả, lúc thực chiến chẳng dùng được đâu. Đánh nhau không giống như trong truyện, đấu tận mấy trăm hiệp mới phân thắng bại. Thường chỉ một hai chiêu là phải có kết quả, phải hạ gục đối phương ngay lập tức.”
Tôi nói: “Nhanh thì dễ hiểu, ra đòn nhanh là được; nhưng chuẩn thì không chắc, vì đối phương cứ di chuyển liên tục mà.”
Mắt Híp nói: “Muốn chuẩn, trước hết tâm lý phải vững vàng. Không được hoảng loạn, không được sợ, cũng đừng nóng vội. Chỉ cần mình sợ hãi hay căng thẳng, chắc chắn sẽ không đánh lại đối phương, những cú đấm đá cũng không trúng đích. Phải đoán được bước tiếp theo của đối thủ, cứ nhìn thẳng vào mắt hắn là sẽ nhìn ra được ý đồ của hắn. Khi đó mới ứng biến theo, bảo đảm ra chiêu nào trúng chiêu nấy."
Chúng tôi đang trò chuyện, bỗng nghe phía ngoài vọng đến tiếng người, là giọng hai người phụ nữ. Hai người ấy vừa đi ngang qua bên ngoài tường viện. Họ đang bàn chuyện dụ dỗ đàn ông, vừa nói vừa cười khúc khích.
Hai mắt Mắt Híp chợt sáng rực, ghé tai tôi nói nhỏ: hai con Ngoạn phiếu khách xuyến tử đấy.”
“Ngoạn phiếu khách xuyến tử là ám ngữ giang hồ, chỉ những người đàn bà lẳng lơ, phóng đãng.
Chúng tôi nằm rạp trên tường viện, không dám nói một lời nào, im lặng lắng nghe hai con ngoạn phiếu khách xuyến tử trò chuyện. Hai con này dường như không biết trên tường có người, thản nhiên ngồi xuống phiến đá dưới chân tường, trao đổi kinh nghiệm phòng the của mình.
Trong hai người họ, một người có giọng khàn khàn, một người có giọng trong trẻo. Dưới ánh trăng mờ ảo, tôi không nhìn rõ được dung mạo, nhưng qua giọng nói, đoán chừng một người là thiếu phụ, còn người kia có lẽ là thiếu nữ.
Thiếu nữ kể: “Hôm ấy em đi đường vắng một mình giữa đêm, phía sau xuất hiện một gã đàn ông, hắn ôm chặt lấy em rồi toan cởi quần. Em mới bảo hắn, đều là người lớn cả, muốn chơi thì chơi cho đáng cần gì phải làm chuyện ép buộc như vậy. Hắn chỉ cười, rồi cởi áo trải xuống dưới đất.”
Thiếu phụ cười khúc khích: “Rồi hai đứa có làm không?”
Thiếu nữ đáp: “Đến lúc ấy rồi thì còn nhịn làm sao được?”
Thiếu phụ nói: “Phải đấy, đàn bà mình có cái ấy, đã không dùng để đi nặng thì để làm gì, chẳng phải để được sướng hay sao”
Thiếu nữ gật gù: “Chị nói đúng lắm.”
Thiếu phụ tiếp: Chị mà thiếu đàn ông chừng hai ngày là người nó cứ bứt rứt thế nào ấy, không thể chịu nổi”
Thiếu nữ hỏi: “Thế lần này chị chưa gần đàn ông mấy ngày rồi”
Thiếu phụ đáp: Ba ngày rồi đấy, người cứ như có kiến bò, thèm chết đi được”
Thiếu nữ nói: “Em cũng thế. Mấy bữa nay có ai chạm tới đâu, người cứ như lửa đốt ấy, đứng ngồi chẳng yên”
Thiếu phụ hỏi: "Những lúc không có đàn ông, em có cách nào để giải quyết không?"
Thiếu nữ đáp: “Em thì kẹp chặt đùi, nhún nhảy mấy cái, có lúc cũng đỡ, có lúc chẳng ăn thua gì, trong người cứ như có chảo lửa ấy. Còn chị, có mẹo gì hay để hạ hỏa không?”
Thiếu phụ nói: “Chị toàn dùng cà dái dê thôi”"
Rồi hai ả cười lại hinh hích với nhau.
Mắt Híp giục: “Mau lên nào. Để lỡ mất dịp này là không còn cơ hội nào nữa đâu. Chú em không nghe hai ả đó nói à. Người chúng nó đang bốc hỏa đấy. Chúng ta xuống giúp dập lửa đi. Cứu một mạng người bằng xây bảy tháp phù đồ”
Tôi chẳng kịp suy nghĩ gì, bất giác đi theo Mắt Híp, bước xuống bậc thang dọc theo tường viện, rồi đi ra khỏi sân.
Dưới chân tường, hai con ngoạn phiếu khách xuyến tử thấy chúng tôi đột ngột xuất hiện thì giật nảy mình, vội xoay người bỏ đi. Mắt Híp liền đuổi theo, cất tiếng hỏi: “Hai vị nương tử ơi, trời tối mò mò thế này, hai người định đi đâu thế?”
Hai ả kia đáp lại: “Bọn tôi đi đường đêm, đang trên đường về nhà.”
Mắt Híp bèn hỏi: “Nhà hai người ở đâu?”
Hai ả đáp: “Ở ngay ngôi làng phía trước”
Mắt Híp cười: “Thế để bọn tôi đưa về một đoạn nhé.”
Hai người đàn bà liếc nhìn nhau, rồi nói: “Thế thì hay quá, chúng tôi đi đêm thế này cũng thấy hơi sợ”
Mắt Híp nói: “Có tôi đây thì còn sợ gì nữa.” Vừa nói, anh ấy vừa đưa tay lần mò lên người họ. Hai người đàn bà né tránh, song lại cố tình để ngón tay Mắt Híp chạm vào vào thân thể mình. Thiếu phụ khẽ nói: “Chỗ này không được, lỡ có người đến thì sao, hay là chúng ta đến rừng cây phía trước đi.”
Hai ả đi trước, lắc lư cái mông tròn trịa như hai con gà mái đang tìm ổ đẻ. Mắt Híp theo sau, nghênh ngang ưỡn ngực, y như một con gà trống oai vệ. Còn tôi cứ lầm lũi nối gót Mắt Híp mà trong lòng thấp thỏm chẳng yên, y như con gà con lén trốn ra khỏi chuồng.
Chúng tôi cứ thế rời khỏi đại viện. Trong lòng tôi dấy lên một nỗi bất an mơ hồ: không biết Quang Đầu và Báo Tử có biết chuyện này không? Nếu biết, họ sẽ mắng chửi chúng tôi thậm tệ đến mức nào đây? Càng đi, tôi lại càng thấy sợ hãi vô cùng, vô tình quay đầu nhìn lại, tôi chợt phát hiện ra một cảnh tượng hết sức kinh hoàng:
Dưới ánh trăng mờ, mười mấy người mặc y phục dạ hành đang ném móc sắt lên tường viện. Những chiếc móc câu bám chặt vào mép tường, rồi bọn họ bắt đầu men theo sợi dây thừng để leo lên trên.
Tôi hoảng hốt gọi to tên Mắt Híp. Anh ấy quay đầu nhìn lại, cũng chết lặng như tôi. Hóa ra, đối phương đã dùng kế “điệu hổ ly sơn”. Chúng tôi đã trúng kế rồi.
Mắt Híp và Tam sư thúc giống nhau ở chỗ đều ham mê nữ sắc. Nhưng Tam sư thúc chẳng bao giờ thất bại, đàn bà đã lên giường với ông, đều mê mẩn chẳng rời. Còn Mắt Híp thì lần nào cũng rơi tọt vào cái bẫy do đàn bà giăng sẵn. Lần trước, cũng vì cái tật mê gái mà anh ấy phải đào mộ suốt đêm giúp người ta; lần này lại trúng kế “điệu hổ ly sơn” của mấy ả này.
Thấy tình thế nguy hiểm, Mắt Híp vội rút trong túi ra một vật hình trụ, định châm lửa. Nhưng trong lúc vội vã, anh ấy cứ quẹt mãi mà diêm không cháy. Khi Mắt Híp còn đang cuống quýt đánh lửa, hai ả kia đã quay phắt lại, cùng lao tới tấn công.
Tôi hét lên một tiếng: “Cẩn thận!”
Mắt Híp vốn giỏi võ nghệ, đầu óc lại linh hoạt. Vừa rồi anh ấy chỉ vì dục vọng che mờ lý trí mà quên mất nguy hiểm đang rình rập. Giờ đã nhận ra hai ả đàn bà kia chỉ giăng bẫy mình, anh lập tức đề phòng gấp bội. Khi nắm đấm của hai ả còn chưa kịp vung tới, Mắt Híp đã rùn người né tránh dễ dàng, rồi trong chớp mắt, chỉ bằng một cú đấm, một cú đá, anh đã đánh hai ả ngã lăn quay xuống đất.
Đòn này của Mắt Híp nặng tựa ngàn cân, hai ả ngoạn phiếu khách xuyến tử không sao gượng dậy nổi, e là đã bị đánh trúng chỗ hiểm. Nhân lúc đó, Mắt Híp rút diêm quẹt cháy, châm lửa đốt vật hình trụ tròn kia. Vật đó phát ra một tiếng nổ chát chúa, kéo theo tiếng rít sắc lạnh, bay vút lên bầu trời đêm, hóa thành muôn ánh sao lấp lánh.
Đó là tín hiệu báo động khẩn cấp mà tiêu cục vẫn dùng khi gặp nguy hiểm. Nguyên lý của nó cũng giống như loại pháo nổ hai lần “nhị thích cước” ngày nay.
Tiếng nổ xé tan đêm tĩnh, đánh thức lạc đà khách trong đại viện. Bọn họ la hét, gọi nhau ầm ĩ. Mấy kẻ đang leo tường, thấy bên trong đã có phòng bị, thì vội vàng trượt xuống, quát một tiếng “Gió mạnh, rút mau!”, rồi chỉ trong chốc lát đã biến mất vào màn đêm.
Hai ả gái ngoạn phiếu khách xuyến tử kia cũng không thấy tung tích đâu nữa.
Trong đại viện, đèn đuốc sáng trưng, đám lạc đà khách người nào người nấy tay lăm lăm đao thương côn bổng, ánh mắt sáng quắc, sẵn sàng nghênh địch.
Tôi tưởng Quang Đầu sẽ hỏi vì sao chúng tôi lại ra ngoài nhưng ông chỉ hỏi: “Bọn này là hạng nào?”
Mắt Híp lắc đầu, tôi cũng ngập ngừng lắc đầu theo.
Quang Đầu lại hỏi: “Có phải đám ở huyện Định Biên không?”
Tôi đáp: “Không phải.”
Bọn ở Định Biên là tai mắt của bọn Hưởng Mã, giọng nói đều mang âm mũi nặng, thuộc khẩu âm vùng Thiểm–Cam. Còn đám đêm nay thì tiếng nói nhẹ nhàng, đầu lưỡi cuộn tròn, đặc biệt là hai ả kia, một giọng khàn, một giọng trong, đều rất êm tai, mang vẻ mềm mại của phụ nữ, nghe giống khẩu âm vùng Kinh–Tân. Gã trèo lên tường lúc bỏ chạy còn hét một tiếng “Gió mạnh, rút mau!”, nghe cũng nặng giọng Kinh–Tân.
Tôi nói ra nghi ngờ của mình, mọi người đều trầm tư suy nghĩ.
Chuyến đi này quả thật không suôn sẻ chút nào. Đám tai mắt của bọn Hưởng Mã ở Định Biên đoán chừng đã cho chim ưng đi báo tin rồi, phía trước nhất định sẽ có toán Hưởng Mã chặn đường; còn một nhóm Hưởng Mã khác theo dõi từ Kinh Tân thì đang bám sát phía sau.
Cả hai nhóm này đều bỏ nhiều công sức như vậy để cướp hàng của chúng tôi, chứng tỏ chuyến hàng này có vấn đề rồi. Lúc mới khởi hành, Quang Đầu nói đây chỉ là trà và muối ăn, nhưng giờ xem ra, tuyệt đối không đơn giản chỉ là trà và muối. Trên lưng lạc đà chắc chắn còn chở theo những món đồ quý giá không muốn người khác biết.
Bọn Hưởng Mã truy đuổi nghìn dặm, chắc chắn không phải chỉ để cướp mấy bao trà và muối.
Rõ ràng, Quang Đầu đang giấu chúng tôi một bí mật gì đó.