Tổ Bịp
- 6079 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 85: Tam sư thúc bày cục
Tiết trời đã chuyển lạnh, vậy mà Lệ Mã vẫn phong phanh manh áo mùa hè. Tôi quyết định phải kiếm ngay cho nàng một bộ đồ ấm áp.
Trên phố có một cửa tiệm bán các loại da thuộc và áo lông thú. Vùng tái ngoại này thú hoang nhiều vô kể, nào dê, sói, chó, chuột, cáo, thỏ... Bộ lông của chúng đều có thể dùng để may áo hoặc chăn nệm. Da mới lột từ xác thú xuống chưa qua xử lý gọi là da sống, vừa khô vừa cứng, chưa thể dùng ngay được; phải đem ngâm trong nước tro thảo mộc suốt ba ngày, vớt ra hong gió cho khô rồi vò thật kỹ, miếng da mới trở nên mềm mại, ấy gọi là da thuộc. Có da thuộc rồi mới cắt may thành áo to, nệm lớn được.
Tôi trèo tường ra ngoài, chạy thẳng đến tiệm bán đồ da.
Cửa tiệm chỉ khép hờ bằng hai cánh cửa gỗ thông thường. Muốn cạy loại cửa này với tôi quả thực dễ như trở bàn tay. Về ngón nghề mở loại cửa gỗ này, phần trước tôi đã mô tả nhiều rồi nên không nhắc lại nữa.
Tôi rón rén lẻn vào trong, thấy góc tường kê một chiếc giường, giữa nhà bắc một cây sào dài vắt đầy áo lông. Tay tôi vừa chạm vào đống áo thì từ dưới gầm giường chui ra hai gã đàn ông, tay lăm lăm gậy gộc, miệng la bai bải: "Hôm qua trộm, hôm nay lại trộm, cái gan thằng trộm này cũng lớn quá đấy!"
Đột nhiên trông thấy người chui từ gầm giường ra, tôi giật mình hoảng hốt, chẳng còn tâm trí nào mà trộm áo quần nữa, quay đầu bỏ chạy thục mạng.
Hai gã kia cầm gậy đuổi theo ra khỏi cửa tiệm. Tôi chạy đằng trước, họ đuổi đằng sau, vừa chạy vừa hô hoán: “Bắt trộm! Bắt trộm bà con ơi!”. Nghe tiếng hô mà tôi tức anh ách. Tôi đã lấy được cái gì của các người đâu mà gào toáng lên thế?
Tôi không thể chạy về khách điếm, làm vậy sẽ mang tai họa đến cho Lệ Mã. Cứ men theo con phố độc đạo này mà chạy mãi, cuối cùng tôi chui tọt vào một con ngõ nhỏ.
Cuối ngõ là thánh đường Hồi giáo, tường cao vây kín, sức tôi không leo nổi. Ngoảnh đầu nhìn lại, thấy đầu ngõ đã lố nhố bảy tám người đuổi tới, lại còn dắt theo một con chó. Đúng là chó cậy gần nhà, nó cứ sủa ông ổng suốt dọc đường.
Trước không có lối thoát, sau lại có truy binh, đang lúc bối rối chưa biết tính sao, tôi chợt thấy bên cạnh có một cây dương rất cao, bèn nhảy tót lên. Thân cây dương thô ráp nhưng tán lại thu gọn, trông chẳng khác nào một cây bút lông dựng ngược. Giá mà là cây hòe hay cây vông thì tốt biết mấy, cành lá vươn rộng, tôi có thể bám cành nhảy sang mái nhà, rồi men theo mái ngói, tường bao mà tẩu thoát. Đằng này lại là cây dương, cành của nó cách bờ tường gần nhất cũng phải đến vài trượng.
Tôi leo lên ngọn cây, thu mình giữa đám cành lá, vừa kịp hoàn hồn thì đám người kia cũng dắt chó đuổi tới gốc cây.
Bọn họ bắt đầu trèo lên. Có kẻ còn mang đến một cây móc sắt, định móc vào người tôi mà lôi xuống. Loại móc này rất phổ biến ở vùng nông thôn Tây Bắc, vốn là nông cụ dùng để hái hồng. Chỉ cần bị cái móc ấy ngoạm trúng, tôi sẽ bị lôi tuột từ trên cây xuống đất.
Hồi nhỏ, tôi từng chứng kiến cảnh chó săn đuổi thỏ. Bầy chó đuổi con thỏ chạy từ sau lò gạch lên tận nóc lò. Nóc lò cao vài trượng, bên dưới là sân phơi khô cứng đanh, thỏ mà nhảy xuống thì chỉ có nước tan xương nát thịt. Con thỏ cùng đường, liền chui vào ống thông gió trên nóc lò. Ai từng thấy lò gạch đều biết đỉnh lò thường xây dốc để thoát nước mưa, tránh thấm dột. Hai bên mái dốc vào giữa, phía trước trổ ra một cái ống sành nung và nhô ra một đoạn để nước không hắt vào người đứng ở cửa lò. Con thỏ không còn chỗ trốn nên rúc vào cái ống đó. Ống thì sâu, thợ săn thò tay vào không bắt được; miệng ống lại hẹp, chó săn chui cũng chẳng lọt. Sau đó, có người mang tới cây móc sắt, luồn từ phía sau móc vào con thỏ rồi lôi mạnh ra ngoài. Con thỏ kêu lên thảm thiết. Thợ săn rút móc ra, thấy đầu móc dính đầy máu và lông thỏ. Gã tiếp tục thọc cây móc vào, lại móc trúng, tiếng kêu thê lương của con thỏ vang lên trong lòng ống tối tăm. Đến khi thợ săn lôi được con thỏ ra ngoài, tôi thấy cái móc sắt đã cắm sâu vào đùi nó, lòi cả khúc xương trắng hếu. Lần ấy lôi được con thỏ ra là nhờ cái móc đã ngoạm chặt vào xương đùi nó.
Gã đàn ông cầm móc sắt đang trèo lên, mỗi lúc một gần. Tôi bỗng nhớ lại con thỏ năm xưa. Chẳng mấy chốc nữa, tôi cũng sẽ biến thành con thỏ ấy.
Đột nhiên, từ xa vang lên một tiếng hú lanh lảnh. Âm thanh bi ai, sầu thảm, như chứa đựng vô vàn oán hận.
Mọi người đều ngơ ngác nhìn về hướng phát ra tiếng hú, chợt thấy một sinh vật đầu quỷ mình người từ trên ngọn cây xa xa từ từ hạ xuống, rồi nhảy tưng tưng tiến về phía này. Toàn thân nó phát ra ánh sáng xanh lét, khiến khuôn mặt dữ tợn kia càng thêm phần kinh dị. Nó mặc trường bào, vạt áo phất phơ; hốc mắt sâu hoắm, hai má hóp lại không chút thịt, mỗi bước đi là xương hàm dưới lại rung lên lập cập, lộ ra hàm răng trắng nhởn nhọn hoắt.
Trong con ngõ nhỏ bỗng nhiên xuất hiện ác quỷ.
Đám người truy đuổi tôi đưa mắt nhìn nhau, muốn chạy về phía trước thì bị tường thánh đường chặn đứng; muốn lùi về sau thì con quỷ đáng sợ kia đang lù lù tiến tới. Bọn họ sợ hãi quỳ rạp xuống đất, hai chân run lẩy bẩy, rúm ró cả người. Ngay cả con chó hung hăng ban nãy giờ cũng nằm bẹp dí, rên ư ử. Con chó này cũng khôn, thấy chủ hung hăng thì nó càn rỡ, thấy chủ khiếp sợ thì nó cũng run rẩy theo.
Chỉ có tôi là không sợ.
Tôi là người của Phái Giang Tướng, đời nào lại tin trên đời có ma quỷ. Tôi thừa biết con quỷ này là do người giả dạng. Nhưng hắn là ai?
Ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua trong đầu, giờ thoát thân là quan trọng nhất. Tôi tuột nhanh xuống dưới, chạy như bay ra phía đầu ngõ. Đám người kia vẫn quỳ mọp dưới đất, sợ đến nhũn cả người, chẳng còn chút sức lực nào mà đứng dậy đuổi theo.
Tôi chạy thoát khỏi ngõ, cắm đầu chạy một quãng xa rồi dừng lại ở ngã tư chờ đợi. Lúc này, ráng bình minh đã nhuộm trắng một đám mây trôi lững lờ trên bầu trời. Con "quỷ" kia cũng đi theo tôi, đến khi cách tôi chừng vài trượng thì lên tiếng: "Ngai Cẩu, thằng bé này, sao lại ở đây?"
Vừa nghe giọng nói, tôi sững sờ. Trời ơi, là Tam sư thúc!
Tôi mừng rỡ reo lên: "Sư thúc, sao người lại ở đây?"
Tam sư thúc kéo tay tôi: "Chỗ này không tiện ở lâu."
Ông xé bỏ toàn bộ lớp ngụy trang trên đầu và người xuống. Tôi thấy đó chẳng qua chỉ là mặt nạ và mớ quần áo rách, nhờ bôi một lớp lão giao dính đầy đom đóm nên mới phát sáng. Lão giao là loại keo cực dính do thợ mộc nấu, đến gỗ còn dính chặt được huống chi là mấy con đom đóm.
Tam sư thúc hướng về phía xa, huýt một tiếng sáo dài. Một con ngựa trắng toát như tuyết, đạp lên tia nắng đầu tiên của buổi bình minh, từ xa phi tới như bay. Tiếng vó ngựa dồn dập, bờm tung bay trong gió, hình ảnh hào hùng ấy bao năm sau vẫn còn in đậm trong ký ức tôi.
Bạch mã phi đến bên cạnh chúng tôi, hí vang một tiếng dài, chồm hai chân trước lên cao, từng thớ thịt rung động, đôi mắt to tròn nhìn chủ nhân. Con ngựa này khiến người ta vừa thấy đã yêu, đã sinh lòng yêu mến, y hệt con ngựa thuần chủng tôi từng cưỡi trước đây.
Tôi và Tam sư thúc nhảy lên lưng ngựa, bạch mã sải vó lao về phía cánh rừng xa. Gió rít bên tai vù vù. Tôi có cảm giác như mình đang cưỡi mây đạp gió.
Trên lưng ngựa, Tam sư thúc hỏi: "Thấy con ngựa này thế nào?"
Tôi đáp: "Tuyệt lắm ạ."
Tam sư thúc đắc ý: "Ngựa thuần chủng đấy. Trên thảo nguyên này, ngàn con vạn con cũng chẳng tìm ra được một con đâu."
Tôi bỗng thấy chạnh lòng ghê gớm, nhớ đến con ngựa thuần chủng của mình, con ngựa đã bị bọn Đại Bài lừa mất, chẳng biết giờ này lưu lạc phương nào.
Tôi nói: "Con cũng từng có một con ngựa thuần chủng."
Tam sư thúc hừ một tiếng, giọng đầy vẻ chế giễu: "Thằng ngốc như mày mà cũng có ngựa thuần chủng? Mày thì biết cái gì gọi là ngựa thuần chủng?"
Bạch mã rất nhanh đã đưa chúng tôi vào sâu trong rừng. Chúng tôi nhảy xuống ngựa. Đã lâu không gặp, tôi thấy Tam sư thúc gầy và đen hơn so với nửa năm trước. Những năm tháng bôn ba giang hồ đã khắc lên khuôn mặt ông những nếp nhăn sâu hoắm. Dẫu vậy, khí chất của Tam sư thúc vẫn ngời ngời, toát lên sức quyến rũ chết người của một người đàn ông từng trải.
Tôi kể lại những chuyện đã trải qua dọc đường, kể về Lệ Mã, về con ngựa của tôi. Tam sư thúc nghe xong thì phán: "Cái thằng này, đi đến đâu cũng vướng nợ tình, mà toàn vớ được tuyệt sắc giai nhân mới hay. Con bé Lệ Mã này nghe chừng cũng là hàng tuyệt phẩm nhân gian. Ta nói thằng ranh nhà ngươi, bộ dạng thì lôi thôi lếch thếch, tài cán thì chẳng có gì, sao lại toàn được gái đẹp để mắt tới thế hả?”
Tôi cười hì hì đáp: "Con là đệ tử của Tam sư thúc mà, toàn học được từ người cả đấy."
Tam sư thúc cười khà khà: "Ta có cả một bụng bản lĩnh, mày không học, lại chăm chăm học cái thói trăng hoa ấy hả? Sư thúc nói cho mà biết, đàn ông muốn đàn bà chết mê chết mệt mình thì phải có chỗ nào đó thật xuất sắc, thật vượt trội. Chỉ cần mày giỏi hơn tất cả mọi người ở một điểm nào đó, thì đàn bà trong thiên hạ này, mày muốn ai được nấy, muốn ngủ với ai thì ngủ."
Tôi hỏi: "Vậy bản lĩnh của Tam sư thúc là gì?"
Tam sư thúc cười ngạo nghễ: "Bản lĩnh của Tam sư thúc này lớn lắm, không phải chỉ xuất sắc một mặt mà là mặt nào cũng xuất sắc hết, thế thì đàn bà sao không xếp hàng dài mà tìm đến? Làm thằng đàn ông, phải để đàn bà tự tìm đến mình mới là bản lĩnh; còn cái loại mặt dày mày dạn chạy theo đàn bà thì tính làm gì?"
Tam sư thúc phong lưu thành tính, cả đời ông vẫn vậy. Báo Tử từng tiên đoán Tam sư thúc sẽ chết trên bụng đàn bà, nhưng giờ xem ra, ông chẳng những chưa chết mà còn sống rất khoái hoạt. Tam sư thúc thích nhất là khoe khoang chiến tích chinh phục phụ nữ, nhưng giờ tôi chẳng còn tâm trí đâu mà nghe, lòng tôi vẫn đang canh cánh về Gia Định tiêu cục, cái tiêu cục đầy rẫy những nghi vấn kia.
Tôi nói: "Trong bảo đang có người của Gia Định tiêu cục tá túc, con muốn điều tra lai lịch bọn họ nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu."
Tam sư thúc trầm ngâm một lát rồi nói: "Chuyện cỏn con ấy có gì mà khó? Đã là người của Giang Tướng, thiên hạ này không có việc gì là không làm được. Mày cứ nhìn sư thúc mà học hỏi.”
Tôi chợt nhớ vẫn chưa hỏi Tam sư thúc sao lại tới đây, vừa định mở miệng thì ông đã nói: "Hồi đó sau khi chúng ta xử lý xong xuôi Lão Đồng, trả thù cho sư tổ mày, ta rời khỏi chùa Lạt Ma, lang thang khắp thảo nguyên. Một hôm, ta bị một toán thổ phỉ bắt lên trên núi, bất ngờ thấy trong ổ chúng nó có một người, mày đoán xem là ai nào?"
Tôi lắc đầu chịu thua.
Tam sư thúc nói: "Là Hòa Thượng mập đấy."
À, thì ra là vị hòa thượng mập tốt đã cùng chúng tôi lập mưu trừ khử Lão Đồng ở chùa Lạt Ma, sao ông ấy lại ở trong ổ thổ phỉ?
Tam sư thúc hỏi: "Mày còn nhớ hôm ở chùa Lạt Ma có hai người mang một túi vàng đến đón hòa thượng mập đi không?"
Tôi đáp: “Con nhớ chứ, đó là hai thương nhân mà.”
Tam sư thúc lắc đầu: "Thương nhân cái nỗi gì. Chúng nó là thổ phỉ đấy. Đại đương gia của chúng nó bị người ta bắn tên độc bị thương, nên mới mời hòa thượng mập về chữa trị."
Tôi buột miệng hỏi: "Mũi tên bắn trúng đại đương gia có phải khắc bốn chữ 'Long Uy tiêu cục' không?"
Tam sư thúc ngạc nhiên: “Đúng là như thế! Sao mày biết hay vậy?"
Tôi nói: "Con đã gặp vị đại đương gia này rồi, còn uống rượu với ông ấy nữa."
Tam sư thúc gật gù: "Vị đại đương gia đó con người khá lắm, rất trọng nghĩa khí giang hồ. Tuy làm thổ phỉ nhưng chẳng bao giờ cướp bóc dân lành, chỉ cướp bọn tham quan ô lại. Hòa thượng mập chữa khỏi vết thương, ông ta bèn giữ hòa thượng ở lại sơn trại. Khổ nỗi hòa thượng mập cũng là kẻ quen chân đi lại giang hồ, ở yên một chỗ không chịu được, cũng giống như Hắc Bạch khất cái vậy."
Ồ, thì ra Hắc Bạch khất cái cũng thế, gia sản bạc vạn, vợ đẹp con khôn, kẻ hầu người hạ như mây, nhưng họ vẫn thích làm “nhã cái”, phiêu bạt giang hồ, ăn gió nằm sương, màn trời chiếu đất. Mỗi người một cách sống, miễn sao được sống đúng ý mình thì con đường đã qua chính là cuộc đời tươi đẹp. Cung nữ cả đời chôn chân trong cung điện vàng son chưa chắc đã vui vẻ, hạnh phúc hơn cô gái chăn cừu bên ngoài bức tường cung cấm.
Tam sư thúc kể tiếp: "Ta đến ổ thổ phỉ, hòa thượng mập như bắt được vàng, nằng nặc đòi đi theo ta. Thế là ta dẫn ông ấy cùng hành tẩu giang hồ."
Tôi hỏi: "Vậy hòa thượng mập giờ đang ở đâu?"
Tam sư thúc đáp: "Được Báo Tử đón đi rồi."
Tôi ngạc nhiên: "Sao lại là được Báo Tử đón đi? Sư thúc gặp chú ấy rồi à?"
Tam sư thúc nói: "Bọn Hưởng Mã sắp động thủ với đám hộ tiêu. Báo Tử biết hòa thượng mập là ân nhân cứu mạng của đại đương gia nên tìm đến, nhờ ông ấy sang nói giúp. Ta vì vướng chút việc riêng không đi ngay được, trễ mất hai ngày, đang định đuổi theo họ thì gặp tiểu tử nhà ngươi ở đây."
Tôi thắc mắc: "Sao chú Báo Tử biết hòa thượng mập đang ở vùng này nhỉ?"
Tam sư thúc cười: "Bản lĩnh của Báo Tử lớn lắm, đi đến đâu hắn cũng kết giao được một đám hảo hán thứ thiệt, mà đám này đều cam tâm tình nguyện nghe hắn sai bảo. Báo Tử là Lão Vinh, hắn chỉ cần tìm đến đầu lĩnh Lão Vinh ở vùng này là muốn gì được nấy ngay. Báo Tử đã gây dựng được tên tuổi lẫy lừng trên giang hồ, hô mưa gọi gió. Ai nghe tiếng cũng nể, cũng muốn lấy lòng hắn, thế mới đúng là phong thái của lão đại giang hồ chứ. Lại thêm cái đầu trọc lốc đặc trưng của hòa thượng mập, đi đến đâu mà người ta chẳng nhận ra."
Tôi trộm nghĩ, làm người thì phải như Báo Tử, chứ không nên như Tam sư thúc. Báo Tử đầy chính khí, còn Tam sư thúc thì tà khí xung thiên. Báo Tử quang minh lỗi lạc, Tam sư thúc lại điêu ngoa xảo quyệt. Báo Tử một lòng trung hiếu lễ nghĩa, trừ gian diệt ác; còn trong đầu Tam sư thúc toàn là trộm cắp, lừa lọc, ăn chơi, gái gú... Nhưng cả hai người họ đều là những bậc trưởng bối mà tôi kính trọng nhất.
Từ đây đi về phía tây là một con đường rộng thênh thang, con đường Tơ Lụa cổ xưa cũng đi qua đây. Bước chân Trương Khiên, Huyền Trang năm xưa cũng từng in dấu nơi này. Đi về phía tây chừng hai ba mươi dặm là một ngôi làng lớn tên là Nhạc Gia Nguyên. Ngôi làng có vài trăm nhân khẩu, đầu làng có một cây hòe rỗng ruột. Người trong làng đều mang họ Nhạc, nghe đâu là hậu duệ của Nhạc Phi năm xưa lánh nạn truy sát của triều đình, từ trung nguyên dạt về đây định cư.
Tam sư thúc quyết định chọn nơi này để giăng một cái bẫy, chờ Gia Định tiêu cục tự chui đầu vào rọ.
Khi mặt trời đứng bóng, đoàn người ngựa của Gia Định tiêu cục cũng đến Nhạc Gia Nguyên. Họ ngạc nhiên thấy dưới hàng bạch dương cách làng chừng nửa dặm, một người đàn ông trung niên dáng người cao gầy, tay cầm gương đồng, đi đi lại lại như đang tìm kiếm thứ gì đó, theo sau là một đám đông hiếu kỳ.
Người của Gia Định tiêu cục thấy lạ, không hiểu đám người kia đang tìm kiếm thứ gì, bèn hỏi một nông dân đứng bên đường. Người nông dân đáp: "Có một thầy bói, tự xưng là Bán Tiên, phán rằng ngoài làng có Phật quang phổ chiếu, dưới đất ắt có Phật châu." Người của tiêu cục thấy chuyện này thật khó tin nhưng cũng tò mò, nên dừng lại xem thực hư thế nào.
Người đàn ông trung niên đi đến dưới một gốc bạch dương, quỳ sụp xuống, rập đầu lia lịa, miệng hô lớn: "Phật tổ phù hộ, phù hộ cho một phương bình an!"
Dân làng thấy hành động kỳ quặc của gã, ai nấy đều ngơ ngác nhìn nhau, chẳng hiểu người này định giở trò gì.
Người đàn ông đứng dậy, chỉ tay vào gốc cây dương, quát: “Mau đào đi! Ngay chỗ này! Trời ban Phật châu, chính tại nơi đây!”
Có mấy kẻ rỗi việc vác cuốc xẻng tới, dọn sạch lớp cỏ hoang dưới gốc cây, đào sâu ba tấc đất, bất chợt lộ ra một viên bảo châu óng ánh. Viên châu toàn thân vàng rực, tỏa ánh sáng lấp lánh.
Người đàn ông trung niên lập tức quỳ xuống trước viên bảo châu, vái lạy liên hồi. Mấy cụ già vây quanh thấy thế cũng quỳ theo, rồi đến thanh niên, cuối cùng là tất cả mọi người đều rập đầu bái lạy.
Người đàn ông nói: "Trời ban phật châu, sẽ mang lại điềm lành cho Nhạc Gia Nguyên. Hãy thỉnh Phật châu về thờ phụng để giữ cho thôn làng mãi mãi bình yên."
Hai vị trưởng lão của làng, vẻ mặt thành kính vô hạn, cẩn thận nâng viên phật châu trên tay, khom người rước đi. Khi họ đi ngang qua đoàn Gia Định tiêu cục, các tiêu sư nhìn thấy viên bảo châu vàng rực kia, quả nhiên là một báu vật hiếm thấy, ai nấy đều kinh ngạc tột độ. Tại sao dưới gốc bạch dương lại có báu vật này? Họ đã đi lại trên con đường này cả chục năm trời, sao chưa từng nghĩ đến việc dưới đất chôn giấu bảo vật? Tam sư thúc cũng lướt qua trước mặt đám tiêu sư, nhưng thần thái ung dung, mắt nhìn xa xăm, chẳng thèm liếc họ lấy một cái.
Gia Định tiêu cục tò mò muốn biết thực hư chuyện Phật châu dưới đất, họ lặng lẽ bám theo sau dân làng Nhạc Gia Nguyên. Họ thấy hai vị trưởng lão cung kính rước Phật châu, đi đứng cẩn trọng từng bước một, cuối cùng đặt nó lên bàn thờ trong miếu Quan Âm.
Tam sư thúc phán: "Phật châu này được luyện từ tinh thạch trên núi Côn Luân ba ngàn năm trước, sau này trở thành vật trang trí trên đai ngọc của Quan Âm Bồ Tát. Vì đã được hấp thụ linh khí điểm hóa của Bồ Tát nên viên châu này cực kỳ linh thiêng, chỉ cần trán chạm vào Phật châu thì cả đời bách bệnh bất xâm."
Dân làng Nhạc Gia Nguyên xếp thành hàng dài, để Tam sư thúc dùng Phật châu chà chà lên trán họ. Vùng Tây Bắc khô hạn thiếu nước, nhiều người cả nửa tháng chẳng rửa mặt, trên trán đóng một lớp ghét dày. Tam sư thúc mới chà được vài người, Phật châu đã dính đầy ghét bẩn
Tam sư thúc nói: “Nhà Phật từ bi hỉ xả, Quan Âm phổ độ chúng sinh, bất kể giàu sang hay nghèo hèn, dù từng làm điều sai trái hay chuyện ngu ngốc, nhà Phật đều coi như nhau, Bồ Tát đều mở lòng tha thứ.”
Người của Gia Định tiêu cục thấy cả làng đều được chà Phật châu, họ cũng chen vào xếp hàng phía sau, mong được Phật châu chạm vào trán để cầu một đời bình an.
Khi Phật châu trên tay Tam sư thúc sắp chạm vào trán một gã tiêu sư, ông bỗng dừng lại, nghiêm giọng nói: "Vị thí chủ này, trên người nồng nặc mùi máu tanh, hãy đi gột sạch sát khí rồi quay lại nhận ân điển."
Gã tiêu sư nọ nhìn quanh, mặt đỏ bừng vì xấu hổ.
Tam sư thúc mặt không đổi sắc, nói: "Hãy ra gốc hòe lớn đầu làng, nhắm mắt lại, tĩnh tâm an thần, thành khẩn kể ra những việc đã làm gần đây, Phật châu sẽ tha thứ cho ngươi, cho phép ngươi quay lại nhận ân điển. Những người khác, cứ đứng đây chờ."
Gã kia lủi thủi đi ra gốc cây hòe lớn, đối diện với thân cây trống rỗng, bắt đầu lầm rầm khấn vái. Lúc đó, tôi đang nấp ngay trong thân cây, nghe rõ mồn một gã kể lại tường tận quá trình sát hại Niệm Gia Thân:
“Hôm ấy, tôi và Hắc Thán đi về phía Đông, định xem bọn Hưởng Mã và Long Uy tiêu cục đã đánh nhau chưa, người của Long Uy tiêu cục đã chết hết chưa. Một tối nọ, chúng con trọ lại ở một khách điếm, buột miệng nhắc lại chuyện năm xưa chúng con giết con của lão đại Hưởng Mã, rồi dùng tên độc của Long Uy tiêu cục bắn bị thương lão đại Hưởng Mã. Chúng con đang tấm tắc khen cái kế 'mượn dao giết người' này thật cao tay, việc làm không để lại dấu vết gì mà lại mượn được tay Hưởng Mã diệt gọn Long Uy tiêu cục, từ nay những chuyến áp tiêu trên con đường này sẽ thuộc về chúng con. Đang nói chuyện thì thấy bóng người vụt qua ngoài cửa. Chuyện giết con của Hưởng Mã là bí mật tày trời, lộ ra thì chúng con đâu còn đường sống? Con định giết ngay kẻ nghe trộm đó để diệt khẩu, nhưng Hắc Thán cản lại, bảo chờ xem hắn thuộc đường nào, thả dây dài câu cá lớn, nhưng kẻ biết bí mật này thì một mống cũng không thể tha. Đêm hôm đó, kẻ kia rời khách điếm đi về phía tây. Chúng con lén bám theo sau. Sau đó, hắn đi vào một cánh rừng, chúng con cũng vào theo. Hắn chui vào Hồng Diêu Bảo, chúng con quan sát thấy bốn bề yên tĩnh nên cũng bám theo vào."
"Vừa vào trong thì chạm mặt hắn, hai bên động thủ. Người trong tiêu cục đều là tay có võ nghệ, hắn một mình không địch lại bọn con, quay đầu bỏ chạy. Con đuổi theo sát gót. Đuổi đến một cửa hang khác thì tóm được hắn, đánh hắn ngã lăn quay. Mặt hắn còn bị con chém cho một nhát."
"Xem tình hình, hình như hắn đang đợi ai đó ở đây. Lúc ấy hắn đã nằm im không cử động được nữa. Để đánh lạc hướng người khác, chúng con nhét mũi tên của Long Uy tiêu cục vào tay hắn. Rồi bắt một con dơi hút máu trên vách hang đặt lên mặt hắn. Con dơi vừa hút máu vừa rít lên sung sướng, chẳng mấy chốc, lũ dơi trên vách hang đều sà xuống, tranh nhau bâu vào mặt hắn hút máu. Hắn gào lên thảm thiết, ngón tay co quắp lại, trong lòng bàn tay vẫn nắm chặt mũi tên của Long Uy tiêu cục."
"Sau đó, hắn tắt thở, máu cũng bị lũ dơi hút cạn, chúng con mới bỏ đi. Giờ con đã kể hết với Bồ Tát rồi, xin Bồ Tát phù hộ cho con sống lâu trăm tuổi."
Gã nói một tràng dài, rồi thở hổn hển quay lại trước miếu Quan Âm. Dưới ánh mắt của bao người, Tam sư thúc vẻ mặt từ bi vô lượng, lăn viên Phật châu mấy vòng trên trán gã. Khuôn mặt gã giãn ra, lộ vẻ mãn nguyện hạnh phúc.
Một lát sau, lại một gã khác đến, lời khai y hệt gã trước. Hai kẻ kể một câu chuyện giống hệt nhau mà không bàn bạc trước, chứng tỏ những gì chúng nó nói là sự thật.
Niệm Gia Thân đã bị bọn chúng hại chết, cái chết vô cùng thê thảm. Kẻ giết Niệm Gia Thân là chúng, kẻ giết con của Gã gầy ốm là chúng, kẻ bắn tên độc vào gã gầy ốm cũng chính là chúng. Mục đích của bao nhiêu âm mưu thâm độc ấy chỉ là cạnh tranh trong nghề, hòng độc chiếm con đường vận tiêu này.
Thật là:
Thế gian độc vật muôn vàn,
Nhện, cóc, bò cạp cũng hàng kém xa.
Lòng người hiểm độc nhất là,
Giết người chẳng thấy máu sa bao giờ.
Đám người của Gia Định tiêu cục sau khi được Tam sư thúc "điểm hóa" bằng Phật châu thì hớn hở lên đường. Đi đầu vẫn là con lạc đà có cái bướu lông đỏ rực ấy.
Tam sư thúc thấy họ đi về phía tây bèn đuổi theo, ân cần dặn dò: “Phương Tây thuộc hành Kim, ẩn chứa tai họa. Các vị tốt nhất nên nghỉ lại đây nửa tháng. Nếu việc gấp bắt buộc phải đi, thì xin hãy ngủ sớm dậy sớm. Mỗi đêm trước khi ngủ hãy chôn vật tùy thân ở vị trí cách nơi ở một trăm bước về phía chính nam, tuyệt đối không được nói cho người khác biết, nếu không sẽ vướng vòng lao lý. Nhớ kỹ, phải chôn liên tục ba ngày."
Người của Gia Định tiêu cục cảm tạ rối rít rồi tiếp tục lên đường. Họ tin chắc rằng chỉ cần làm theo lời Tam sư thúc dặn thì sẽ tai qua nạn khỏi, bách bệnh tiêu trừ, trường thọ trăm năm. Dân làng Nhạc Gia Nguyên cũng tản đi hết. Viên Phật châu được thờ phụng trong miếu Quan Âm, đời đời kiếp kiếp nhận hương khói của người dân nơi đây.
Tôi và Tam sư thúc cũng rời đi. Bí mật mà tôi tốn bao công sức vẫn không tìm ra, lại được Tam sư thúc nhẹ nhàng lôi ra ánh sáng. Tam sư thúc đúng là Tam sư thúc, quả không hổ danh là nguyên lão của phái Giang Tướng.
Tôi nói: "Chân tướng đã rõ rồi, chúng ta mau về báo tin, kẻo Hưởng Mã và các tiêu sư lại đánh nhau to."
Tam sư thúc xua tay: "Không phải lo, chỉ cần Báo Tử và hòa thượng mập đến kịp thì hai bên sẽ không đánh nhau đâu. Việc cấp bách trước mắt là phải xử lý đám hộ tiêu của Gia Định tiêu cục này, không cho chúng nó trốn về sào huyệt ở Gia Dục Quan. Để chúng nó về được đó thì khó đối phó lắm."
Tôi lo lắng: "Chỉ có hai người chúng ta thôi sao? Bọn chúng có hơn chục người, tên nào cũng võ nghệ cao cường, liệu chúng ta có làm được không?"
Tam sư thúc cười khẩy: "Người phái Giang Tướng không bao giờ đấu sức. Đấu sức là việc của kẻ võ biền, Phái Giang Tướng chỉ đấu trí."
Giang Tướng Phái, đúng như tên gọi, là tể tướng của chốn giang hồ. Tể tướng túc trí đa mưu, há lại đi so bì với đám người vai u thịt bắp, động một tí là liều mạng hay sao?
Tôi hỏi: "Sư thúc có cao kiến gì không?"
Tam sư thúc đáp: "Gia Định tiêu cục biết mượn dao giết người, chẳng lẽ chúng ta không biết? Chúng ta sẽ dùng chính kế sách của chúng, gậy ông đập lưng ông."
Tối hôm đó, Gia Định tiêu cục nghỉ lại Vĩnh Xương. Tôi và Tam sư thúc cũng trọ lại Vĩnh Xương. Vĩnh Xương ngày nay gọi là Kim Xương.
Tam sư thúc và tôi mò đến khu chuồng lạc đà. Nơi đây nuôi mấy chục con lạc đà nhưng chỉ có một người trông coi. Tam sư thúc lân la bắt chuyện, rút gói thuốc lá mời hắn. Hắn hớn hở nhận lấy một điếu, quay lưng lại phía cửa chuồng. Tam sư thúc quẹt diêm châm lửa cho gã, nhưng quẹt mãi không cháy. Sư thúc bảo: “Ở đây gió to quá, ra chỗ khuất gió mà châm.” Gã canh chuồng vì thèm thuốc của Tam sư thúc nên lon ton chạy theo ông ra góc tường cách đó vài trượng. Chỉ chờ có thế, tôi lẻn vào chuồng lạc đà, cắt đứt dây cương con lạc đà nằm ngoài cùng. Trong lòng bàn tay tôi có một nắm muối, lạc đà thèm muối cứ muốn liếm mà liếm không được, đành ngoan ngoãn đi theo tôi ra khỏi chuồng.
Đến khi Tam sư thúc châm được thuốc cho gã kia thì tôi đã cưỡi lạc đà đi xa tít.
Tam sư thúc viện cớ có việc rồi cũng chuồn êm
Chúng tôi dắt lạc đà đến góc tường thành. Tam sư thúc lấy trong túi ra một gói phẩm màu, hòa với nước, quấy đều, rồi nhuộm đỏ cái bướu của con lạc đà này. Lạc đà bướu đỏ rất hiếm gặp, chính vì hiếm nên mới dễ gây chú ý.
Tam sư thúc hỏi tôi: "Mày nói xem trong huyện thành Vĩnh Xương này, thứ gì là quan trọng nhất?"
Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp: "Quan ấn của nha môn là quan trọng nhất."
Tam sư thúc gật đầu: "Đúng thế. Nếu chúng ta nẫng mất quan ấn. Sáng mai bọn họ lên công đường không tìm thấy ấn tín, cả cái huyện thành này sẽ loạn cào cào cho xem."
Tôi tiếp lời: “Cưỡi con lạc đà bướu đỏ này đi lấy trộm vàng bạc, rồi cố tình để mọi người nhìn thấy, sáng mai, ngày tàn của Gia Định tiêu cục sẽ đến.”
Tam sư thúc cười khà khà: "Ngai Cẩu lớn thật rồi, nói một cái là hiểu ngay."
Huyện nha thời ấy rất nhỏ, chỉ có vài gian nhà, muốn tìm một cái ấn cũng chẳng khó khăn gì. Tam sư thúc ở ngoài canh chừng, tôi lẻn vào nha môn lục lọi. Vì lần này là để giá họa cho Gia Định tiêu cục nên tôi cầm theo một thanh sắt bọc vải, thấy khóa là cạy. Tôi lục tung ngăn kéo, tủ hòm, cái gì giá trị thì lấy, cái gì không đáng giá thì vứt bừa bãi xuống đất.
Quan ấn thì không tìm thấy, chỉ thấy mấy con dấu bằng gỗ. Thật ra lúc này đã là thời Dân quốc, quan ấn do hoàng đế ban tặng đâu còn dùng nữa, nha môn chỉ dùng con dấu khắc bằng gỗ cây đỗ lê. Gỗ cây đỗ lê cứng, không nứt nẻ, rất hợp để khắc dấu. Chúng tôi hành tẩu giang hồ, xưa nay ít qua lại với quan phủ, nên chẳng biết mấy chuyện chốn quan trường.
Nhân gian có ba loại cuộc sống: cuộc sống giang hồ, cuộc sống quan trường và cuộc sống dân gian. Mỗi loại đều có quy tắc, lề lối riêng. Ai chọn con đường nào thì phải tuân theo luật chơi của con đường đó. "Người trong giang hồ, thân bất do kỷ" chính là nói đến đạo lý này.
Tôi gom những thứ trông có vẻ đáng giá và quan trọng vào một cái túi, rồi mở toang cửa chính, nghênh ngang bỏ đi.
Tam sư thúc bảo tôi vác túi đồ ra chân tường thành đợi trước. Áng chừng tôi đã đi xa, Tam sư thúc mới nhảy lên lưng lạc đà, trùm khăn đen kín mặt rồi hô hoán ầm ĩ: "Có trộm! Bắt trộm!" Tiếng kẻng trong huyện nha vang lên dồn dập. Tam sư thúc cưỡi lạc đà chạy loạn xạ trong sân nha môn, cố tình để ai thò đầu ra cũng nhìn thấy mình. Khi thấy lửa cháy đã đủ to, ông mới thúc lạc đà chạy biến đi.
Khi Tam sư thúc đến chân tường thành, tôi vừa kịp mở gói đồ ra xem. Ông thấy bên trong có con dấu, công văn, túi da bò và cả tiền giấy. Tam sư thúc nhặt những thứ ông cho là hữu dụng nhét vào một cái túi da bò nhỏ, những thứ còn lại thì vứt hết xuống đất.
Sau đó, chúng tôi lặng lẽ quay lại khách điếm nơi Gia Định tiêu cục đang nghỉ trọ.
Tam sư thúc là cao thủ bày cục, nhưng cái “cục” này vẫn chưa hoàn tất. Chúng tôi phải nhét túi tang vật này vào hành lý của Gia Định tiêu cục.
Chiều tối qua, người trong tiêu cục ai nấy đều gói ghém vật dụng tùy thân – bùa hộ mệnh, dây chìa khóa... vào một cái bọc vải lớn, đem chôn ở vị trí cách khách điếm một trăm mét. Bọn chúng làm rất kín đáo nên ban đêm chẳng cắt cử người trông coi. Tôi và Tam sư thúc mò đến đó, đào cái bọc vải của bọn chúng lên, nhét cái túi da bò đựng tang vật của huyện nha vào trong.
Xong xuôi, chúng tôi tìm một nơi vắng vẻ, cắt trụi đám lông đỏ trên mình con lạc đà rồi thả nó đi.