Tổ Bịp
- 5595 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 1. Sống sót trong miệng sói
Tôi năm nay chín mươi sáu tuổi. Sống đến cái tuổi này, sớm đã nhìn thấu mọi sự rồi.
Cuộc đời này tôi đã kinh qua đủ thứ, từ thuở quân phiệt hỗn chiến, kháng chiến chống Nhật, thời Mãn Châu Quốc cho đến ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tôi đã đi mòn gót khắp các tỉnh thành từ Nam chí Bắc, từ Đông sang Tây; từng lẻn qua sông Áp Lục sang Triều Tiên, từng băng biên giới tới Liên Xô, nơi mà bây giờ người ta gọi là Nga. Tôi cũng đã đến mảnh đất Phiến Mã nơi biên thùy Trung - Miến, chỉ cần bước thêm bước nữa là sang Miến Điện; lại từng ghé qua Hữu Nghị Quan giữa biên giới Trung - Việt. Nếu còn sống thêm được vài năm, tôi tính sẽ sang châu Phi xem thử, nghe đâu dân tình bên đó nghèo khổ lắm.
Dạo này rảnh rỗi không có việc gì làm, tôi bèn đem chuyện đời mình kể lại cho thiên hạ nghe, cốt để mọi người nhìn đó mà tránh, đừng để bị mắc lừa.
Tôi vốn là kẻ phiêu bạt giang hồ, lăn lộn đủ mọi ngóc ngách, làm được vài việc to tát nhưng cũng chẳng thiếu những chuyện thất đức. Làm kẻ lừa đảo mấy mươi năm, hạng người nào tôi cũng từng dắt mũi: từ đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ cho đến quan chức, phu xe, kỹ nữ hay đám khách làng chơi... Cả đời đã cưới mấy người vợ, vậy mà chẳng giữ nổi một mụn con, đến giờ vẫn cô độc một mình, bên cạnh chẳng có lấy một người bầu bạn.
Dấn thân vào chốn giang hồ sâu tựa bể, quay đầu lại đã là thân xác trăm năm. Những người lặn ngụp trong giới này, có ai chưa từng nếm mùi đao kiếm?
Đời người ngắn ngủi vài chục năm, thoắt cái đã trôi qua như bóng câu qua cửa sổ. Tôi thường hồi tưởng lại những năm tháng giang hồ, cảm giác mọi chuyện như vừa mới xảy ra ngày hôm qua, hiện lên rõ mồn một ngay trước mắt. Thân ở giang hồ, có những việc chẳng thể tự định đoạt. Giang hồ có quy tắc riêng, có ngôn ngữ riêng và một lối sống mà người ngoài không thể nào hiểu được.
Nếu có thể làm lại cuộc đời, tôi chỉ mong làm một lão nông hiền lành, có ba sào ruộng với một con trâu, tối về có hơi ấm của vợ con trên chiếc giường đất. Đời người, bình an khỏe mạnh mới là hạnh phúc lớn nhất.
Giờ đây, việc mỗi ngày của tôi là sưởi nắng, hai tay đút túi áo, mặt hướng về phương Nam mà hồi tưởng về hành trình dài dằng dặc của mình. Sơn hào hải vị tôi đã nếm đủ, trà thô cơm đạm cũng từng dùng qua; gấm vóc lụa là từng khoác trên vai, mà áo vải rách nát cũng từng mặc trên người. Tiểu thư khuê các đều đã chung chạ, mà hạng kỹ nữ lầu xanh tôi cũng chẳng thiếu phần chơi bời... Chặng đường tôi đi bằng cả mấy đời người khác, nhưng đến lúc già nua ngẫm lại, mọi thứ cũng chỉ là hư không.
Thuở nhỏ nghe hòa thượng nói: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Lúc ấy tôi chẳng hiểu là gì, nay ở tuổi gần đất xa trời, cuối cùng cũng đã ngộ ra.
Nếu kể về những trò lừa lọc tôi từng trải qua, biết phải bắt đầu từ đâu đây? Nhiều lắm, kể sao cho hết được.
Hay là cứ bắt đầu từ cái thuở tôi còn đi học trường tư thục vậy.
Chương 1. Sống sót trong miệng sói
Mọi chuyện bắt đầu vào ngày thứ hai sau sinh nhật tám tuổi của tôi.
Hôm đó, nắng nóng hừng hực, lá cây ngọn cỏ dưới ánh mặt trời đều mệt mỏi rũ xuống, chẳng chút sinh khí. Tôi lững thững bước trên đường về nhà, lòng nặng trĩu nỗi đau khổ và buồn bã. Bạn học đã về hết từ lâu, riêng tôi bị thầy giữ lại lớp vì lỡ đọc sai một câu của Khổng tử. Lão già râu trắng này thật biết cách làm khó lũ trẻ chúng tôi, câu chữ bình thường thì không chịu nói, cứ thích nói mấy lời lắt léo khó hiểu, thế mà lại bảo đó là lời hay lẽ phải. Thầy rõ ràng đang lừa người mà.
Trên đường về nhà có một cây bồ kết. Thường ngày, dưới gốc cây hay có một con chó hoang nằm phủ phục, trông thật thảm hại. Nhưng hôm nay con chó bẩn thỉu đó lại biến đâu mất, thay vào đó là hai gã đàn ông, một cao một lùn. Bóng lá cây loang lổ rơi trên mặt khiến gương mặt hai gã trở nên vỡ vụn, quái gở đến lạ kỳ.
"Ngai Cẩu, tan học rồi à?" Gã cao lên tiếng hỏi. Ngai Cẩu là tên gọi ở nhà của tôi.
Tôi đưa mắt nghi hoặc nhìn từ mặt gã cao sang mặt gã lùn, rồi lại nhìn ngược lại. Hai gã đều nở nụ cười y hệt nhau, để lộ những chiếc răng vàng khè cáu bẩn.
Tôi ngần ngừ chẳng biết có nên trả lời hay không.
Gã lùn bước tới trước một bước, mặt vẫn niềm nở:
"Ba cháu bảo chú tới đón. Ba cháu bị xe đâm trúng, giờ đang nằm trong hiệu thuốc, mẹ cháu cũng ở đấy trông nom rồi. Nhà không còn ai đâu, đều ra hiệu thuốc cả rồi."
Nghe tin ba bị thương đang nằm trong hiệu thuốc, tôi cuống cuồng cả lên, vội hỏi:
"Sao ba cháu lại bị xe đâm phải?"
Gã cao tiếp lời:
"Ba cháu đi thu tô về, có cỗ xe ngựa phía trước lao tới làm ngựa giật mình, thế là đâm trúng ba cháu."
Nghe đến đây, tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Nhà tôi có mấy trăm mẫu đất, cho mấy chục hộ thuê cày cấy, năm nào sau vụ thu hoạch lúa mì ba cũng phải đến từng nhà thu tô. Tôi mếu máo:
"Cháu muốn đến hiệu thuốc, cháu muốn gặp ba."
Gã lùn đưa tay lên bảo:
"Ba cháu cũng đang mong gặp cháu lắm, đi theo các chú, đằng kia có xe ngựa đấy."
Theo hướng tay gã chỉ, cách đó chừng vài chục mét, cạnh cây hòe già có một cỗ xe ngựa đang đậu, ngựa được buộc vào thân cây.
Gã lùn túm lấy cánh tay lôi tôi lên xe, gã cao ngồi phía trước cầm roi đánh xe. Tiếng nhạc ngựa kêu leng keng suốt dọc đường hướng về phía trường học. Trường học nằm trên thị trấn, nơi đó đúng là có một hiệu thuốc, thế nhưng xe ngựa không hề dừng lại mà xuyên qua thị trấn, tiếp tục lao nhanh về phía trước.
Tôi hốt hoảng:
"Không phải ba cháu bị thương sao? Ba ở hiệu thuốc mà?"
Gã lùn đáp:
"Ba cháu ở hiệu thuốc trên huyện, không phải ở cái hiệu thuốc quèn trên trấn này."
Nếu Ba bị thương, ông chỉ có thể đến hiệu thuốc gần nhất trên trấn, lẽ nào lại lặn lội lên tận huyện xa xôi. Tôi bắt đầu nghi ngờ hai gã này là kẻ xấu, bèn gào lên:
"Dừng lại, cháu muốn về nhà!"
Nụ cười trên mặt gã lùn chợt tắt ngúm, gương mặt gã trở nên hung dữ. Gã vung tay vả thẳng vào mặt tôi. Cái tát vang lên khô khốc, gò má tôi nóng ran như lửa đốt. Tôi òa khóc, tiếng khóc vỡ vụn như những mảnh thủy tinh rơi vỡ dọc đường.
Gã cao quay đầu lại quát:
"Khóc cái đéo gì! Bịt mồm thằng ranh này lại cho tao."
Gã lùn móc từ túi ra một miếng vải bẩn thỉu, nhét vào miệng tôi, rồi dùng sợi dây thừng mảnh trói chặt hai tay tôi lại. Miệng không thể thốt ra tiếng, tôi ra sức vùng vẫy, sợi dây thừng cứ thế cứa vào tay đau đớn.
Tôi chẳng thể hiểu nổi, tại sao ban nãy họ còn cười nói thân tình, mà thoắt cái đã trở nên dữ tợn thế này. Lòng tôi vừa tủi thân, vừa hoang mang tột độ.
Khi thị trấn khuất dần sau tầm mắt, gã cao nhảy xuống xe, gỡ bỏ cái chuông treo dưới cổ ngựa. Tiếng roi vun vút xé gió, xe ngựa lặng lẽ lao về phía trước. Tôi chẳng biết họ định đưa mình đi đâu, cũng chẳng biết ba mẹ không thấy tôi về nhà liệu có sốt ruột không.
Sau khi xe ngựa vòng qua một khe núi, tốc độ cũng chậm dần. Đường mỗi lúc một hẹp, dốc mỗi lúc một cao, hai bên đường toàn là những đỉnh núi đá tai mèo lởm chởm. Từ những kẽ đá, mấy cây bách lùn vươn ra kiên cường, trông giống như những quản bút lông. Một đàn quạ đang đậu bên cạnh rặng bách, tiếng kêu khản đặc, trống rỗng của chúng vang vọng trong lũng núi hoang vu, khiến người ta nghe mà không khỏi rùng mình.
Một lúc sau, xe ngựa không thể đi tiếp được nữa, gã lùn đẩy tôi xuống xe rồi cũng nhảy xuống theo. Tôi ngã lên đống đá, những cạnh đá nhọn hoắt đâm vào người đau điếng. Gã cao quay đầu xe, nhẹ nhàng đánh xe xuống núi.
Gã lùn rút từ thắt lưng ra hai đôi giày cỏ, gã xỏ một đôi, đôi còn lại lồng vào chân tôi. Tôi nhìn đôi giày cỏ đặc chế này, phía trước nhỏ, phía sau to, giẫm lên đất vừa vặn tạo ra dấu chân hướng về phía ngược lại. Như vậy, dù có người truy đuổi phía sau, họ cũng sẽ lầm tưởng rằng chúng tôi từ trên núi xuống để lên xe ngựa.
Đầu óc tôi vốn chậm chạp, đến tận lúc này vẫn chưa nghĩ thông suốt được họ mang tôi đến đây để làm gì.
Gã lùn dắt tôi leo mỗi lúc một cao dọc theo đường mòn, cuối cùng dừng lại trước một hang núi. Trong hang âm u đáng sợ, lại bốc lên mùi nước tiểu nồng nặc đến khó chịu. Vừa từ chỗ nắng gắt bước vào hang tối om, tôi cảm giác như mình vừa rơi xuống hầm băng.
Suốt dọc đường bị xóc nảy cộng thêm nỗi sợ hãi tột cùng khiến cơ thể tôi gần như kiệt sức. Một lát sau, vì quá mệt mỏi, tôi lịm đi trong hang đá.
Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mặt trời đã sắp xuống núi, ánh tà dương dát một lớp vàng ròng lên những đỉnh núi trước mắt. Trong hang lúc này ngoài gã lùn còn có thêm một người đàn ông râu quai nón. Thấy tôi tỉnh, gã râu quai nón bảo:
"Đúng là thằng ngốc, đến lúc này rồi mà vẫn còn ngủ được." Giọng gã ồm ồm như tiếng chuông vỡ.
Gã râu quai nón và gã lùn ngồi bệt dưới đất, ở giữa là một tảng đá đặt một con gà quay nguyên con. Gã lùn xé một miếng nhét vào mồm, nhai nhóp nhép; gã râu quai nón cũng xé một miếng, mỡ gà chảy ròng ròng nơi khóe miệng. Cả ngày tôi chưa được ăn gì, bụng đói đến mức ruột gan cồn cào, xoắn lại như cái bánh quẩy, nhưng chẳng dám mở miệng xin.
Ăn xong gà quay, bọn chúng lại mở một hũ rượu trắng, mùi rượu nồng nặc tỏa ra khắp hang, làm tôi cồn cào phát buồn nôn. Tôi nghe thấy gã lùn hỏi gã râu quai nón:
"Gửi thư chưa?"
Gã râu quai nón đáp:
"Gửi rồi, tầm này chắc lão đang xem thư đấy."
Gã lùn lại hỏi:
"Đòi bao nhiêu?"
"Một ngàn đại dương."
Gã lùn chép miệng:
"Lão Vương Tế Quỷ thiếu gì tiền, là tao thì ít nhất cũng phải ba ngàn."
Vương Tế Quỷ là biệt danh của ba tôi. Cả đời ba tôi xem tiền to hơn mạng sống, người ta bảo mỗi đồng tiền đồng của ông đều xâu chặt vào xương sườn cả rồi. Nhà tôi có của ăn của để, vậy mà bữa nào ông cũng chỉ ăn bánh ngô hấp với củ cải muối, không chỉ mình ông mà cả nhà cũng phải ăn theo như thế. Tôi chẳng hiểu vì sao họ lại nhắc đến ba tôi, lại còn chuyện một ngàn hay ba ngàn đại dương gì đó, rồi họ gửi thư cho ba tôi làm gì. Ba tôi tám phần là chẳng quen biết gì hai kẻ này.
Bóng chiều tà vừa tắt, hang núi nhanh chóng chìm vào bóng tối. Gã lùn lại lôi dây thừng ra, trói tôi vào một cột đá. Tôi ra sức vùng vẫy, gã lùn lại vung tay giáng thêm một cái tát, miệng gầm gừ:
"Không ngoan tao quẳng xuống vực cho sói ăn bây giờ!"
Nghe hắn dọa quẳng cho sói ăn, tôi sợ xanh mặt, không dám cựa quậy nữa.
Gã râu quai nón và gã lùn lại bàn tán mấy chuyện tôi chẳng hiểu gì, hình như là về một người đàn bà nào đó, vừa nói vừa cười hô hố với nhau.
Chợt, từ ngoài hang vọng vào một tiếng rú thê lương, trầm đục. Gã râu quai nón thốt lên:
"Có sói!"
Gã lùn lùi về sau mấy bước, tôi thấy cái thân hình một mẩu của gã run rẩy như lá rụng trước gió. Tôi cũng sợ đến mức toàn thân run cầm cập.
Gã râu quai nón chửi thề:
"Mẹ kiếp, có sói thật!"
Sau tiếng sói hú, ngoài hang vang lên tiếng sột soạt, rồi trong bóng tối xuất hiện hai cái lồng đèn nhỏ màu xanh lè. Tôi biết đó là mắt sói. Nhớ đêm nọ năm ngoái, tôi ngồi trên xe ngựa của bác Lương, người làm thuê trong nhà, bỗng thấy trên sườn núi hiện ra hai đốm xanh y hệt. Bác Lương liền lấy cái chũm chọe đồng ra gõ vang trời, tiếng kim loại chói tai xé toạc màn đêm. Tôi thấy hai cái đèn nhỏ tắt ngúm, rồi tiếng chân chạy thình thịch xa dần. Bác Lương bảo: "Đấy là sói, sói nó sợ tiếng chiêng trống."
Gã lùn run rẩy lùi về phía sau tôi. Tôi bị trói vào cột đá, chẳng thể nhúc nhích, nếu không tôi cũng đã lùi lại rồi.
Gã râu quai nón chẳng hề sợ hãi. Nhờ chút ánh sáng mờ ảo nơi cửa hang, tôi thấy trên tay gã xuất hiện một khẩu súng săn. Chắc gã mang theo súng lúc vào hang nhưng tôi không thấy gã để đâu.
Gã râu quai nón chĩa súng ra cửa hang bóp cò, một tia lửa phụt ra, tiếng súng vang dội trong hang đá khiến màng nhĩ tôi kêu ong ong. Sau ánh lửa, đốm xanh biến mất, bầy sói đã chạy xa.
Nhưng tôi vừa thở phào một hơi thì đột nhiên ngoài cửa hang lại xuất hiện thêm cả chục đốm xanh nữa. Một con sói đi, cả bầy sói đã kéo tới.
Gã râu quai nón chửi:
"Quái lạ thật, bắn thế mà không đuổi được chúng nó đi."
Gã lại chĩa súng bắn thêm phát nữa, những đốm xanh tắt ngấm. Nhưng chưa kịp hoàn hồn, đốm xanh ngoài cửa hang lại hiện lên nhiều hơn trước.
Bác Lương từng bảo sói sợ tiếng động, sợ cả súng, thế mà đêm nay bầy sói này như phát điên, đối diện với họng súng của gã râu quai nón mà chẳng tỏ ra sợ hãi.
Bầy sói bên ngoài rú lên từng hồi thê lương như đang gọi đồng loại. Bất chợt, trong hang vang lên tiếng ư ử. Tôi ngoảnh lại nhìn mà suýt gào lên, ngay sâu trong hang cũng hiện ra vài đốm xanh. Gã lùn sợ quá ngã nhào xuống đất, miệng phát ra những tiếng rên rỉ như chuột. Gã râu quai nón mắng:
"Sợ cái đéo gì! Đó chỉ là ba con sói con."
Gã râu quai nón giải thích:
"Trên thảo nguyên không có khe núi, tổ sói thường là hang nhỏ dưới sườn dốc, còn ở đây đồi núi hang hốc đầy rẫy, sói nó chọn hang làm ổ. Ổ sói thường không chỉ có một lối ra, cơ mà ba con sói con này sao lại không chạy ra ngoài nhỉ? Chắc là thấy bọn mình xông vào nên chúng nó sợ."
Giờ thì tôi đã hiểu vì sao bầy sói ngoài kia dù đối mặt với khẩu súng vẫn không chịu rời đi, bởi trong hang còn có ba con sói con. Nhưng bầy sói cũng chẳng dám liều lĩnh xông vào, vì chúng còn sợ khẩu súng kia.
Trong bóng tối, gã râu quai nón cởi trói cho tôi, rồi chúng tôi cùng nhau gom những thứ có thể đốt được quanh đó.
Tôi sờ soạng chung quanh, vơ được cỏ khô, lá rụng, cành táo gai cùng mấy khúc củi mục. Những thứ khô héo tích tụ cả trăm năm, có khi cả ngàn năm này khi bị tay tôi lật lên liền tỏa ra mùi mục nát nồng nặc, làm tôi hắt hơi liên tục.
Một dải ánh trăng rọi vào hang như nhát kiếm xé toạc màn đêm đặc quánh, mọi thứ trong hang bỗng trở nên chập chờn mờ ảo. Tôi nghe tiếng gã râu quai nón quát:
"Lùi lại, lùi lại mau!"
Tôi nép sau lưng gã râu quai nón. Gã giơ súng săn, nhắm thẳng vào đống củi chúng tôi vừa vun lại mà bóp cò. Tiếng nổ còn đang vang vọng thì ngọn lửa đỏ rực đã bùng lên. Bầy sói ngoài hang vội dạt ra xa, ba con sói con bên trong phát ra tiếng kêu kinh hãi.
Thấy lửa đã cháy, gã râu quai nón mới đặt khẩu súng dựa vào vách hang. Gã lùn đứng nép bên cạnh, ánh lửa soi rõ khuôn mặt vẫn còn chưa hết bàng hoàng của gã.
Đống củi cháy lốp đốp, ngọn lửa mỗi lúc một cao, soi sáng trong ngoài hang như ban ngày. Qua ánh lửa, tôi thấy bầy sói trên vách đá đối diện lại tụ tập đông đủ.
Không khí trong hang bỗng căng thẳng trở lại.
Tôi nhìn ra ngoài hang, dưới ánh trăng sáng, một con thú to lớn với hình thù kỳ quái bước lên vách đá đối diện. Thân hình nó to gấp bốn, năm lần một con sói bình thường. Khi nó tiến đến gần bầy sói, tôi mới nhìn rõ cái thứ to xác kỳ quái ấy thực chất là do ba con vật tạo thành. Một con trông rất giống sói nhưng to hơn nhiều, nó đặt hai chân trước lên lưng hai con sói khác, cứ thế từng bước một tiến đến trước mặt bầy sói. Con thú kỳ lạ ấy chụm đầu vào mấy con sói khác như đang bàn bạc điều gì, rồi bầy sói rời đi, con thú kia cũng đặt chân lên lưng hai con sói rồi biến mất dạng.
Gã lùn thấy bầy sói bỏ đi thì reo lên:
"Tao biết ngay bầy sói không trụ được lâu mà, chúng nó sợ súng, sợ cả lửa. Mau về thôi, chỗ này không ở lâu được."
Gã lùn hớn hở bước qua đống lửa lúc này đã nhỏ lại vì hết củi. Gã vừa bước tới cửa hang thì đột nhiên phát ra một tiếng kêu thảm thiết, âm thanh kinh hãi như tiếng dao chẻ tre. Tôi thấy một con sói vồ lấy gã lùn, rồi gã rơi xuống vực sâu như một hòn đá, kéo theo tiếng kêu nhỏ dần.
Tiếp đó, tôi thấy mấy con sói bước vào hang, chúng quay mông về phía đống lửa rồi nhấc chân sau lên tè một bãi. Dòng nước tiểu xối xả bắn vào đống lửa, một làn khói mang theo mùi khai nồng bốc lên khắp hang.
Lửa mỗi lúc một yếu dần, gã râu quai nón lột phăng áo mình ném vào đống lửa, rồi cũng bảo tôi cởi áo ra ném vào. Áo phủ lên lửa, ngọn lửa bùng lên như những đỉnh núi răng cưa. Bầy sói thấy lửa đột nhiên bốc cao thì hốt hoảng tháo chạy ra cửa hang.
Tuy nhiên, chẳng mấy chốc áo quần đã cháy thành tro, ngọn lửa lại nhỏ dần. Một con sói thò đầu vào hang thăm dò, thấy không có động tĩnh gì liền quay người, tiếp tục nhấc chân sau lên.
Gã râu quai nón nổ một phát súng vào con sói đang tè bậy, nó rú lên một tiếng rồi tháo chạy thục mạng, bầy sói còn lại chẳng con nào dám bén mảng tới gần nữa. Gã râu quai nón quát tôi:
"Chạy mau!"
Thế là chúng tôi lao thẳng vào sâu trong hang.
Chạy được một quãng, gã râu quai nón đeo súng lên lưng, dùng hai tay bám vào vách đá dốc đứng mà leo lên, tôi cũng dùng cả tay lẫn chân, bám sát sau gã.
Leo được chừng vài trượng, phía trên có một phiến đá lớn nhô ra, gã râu quai nón leo lên ngồi trên đó rồi đưa tay kéo tôi lên theo. Tôi vừa ngồi vững thì nghe thấy trong hang vang lên những tiếng chân chạy rầm rập, bầy sói đã tràn vào trong hang rồi.
Tôi cuống quýt bảo gã râu quai nón:
"Mau nổ súng đi!"
Gã đáp:
"Hết đạn rồi."
Tôi không dám nhìn xuống bầy sói dưới chân, bèn ngẩng đầu nhìn lên phía trên phiến đá. Nhờ chút ánh sáng yếu ớt, tôi chợt thấy trên vách hang còn có một lối vào hang khác, bèn nói với gã râu quai nón:
"Trên kia còn có hang nữa, phía trên kìa!"
Gã râu quai nón đứng dậy, leo vào cái hang phía trên rồi lại kéo tôi lên. Chúng tôi ngồi nơi cửa hang nằm ngang này, vừa kịp lấy lại hơi thở thì thấy ngọn lửa dưới kia đã tắt ngúm, cái hang bên dưới chìm hẳn vào bóng tối. Sau đó là tiếng bầy sói chạy tán loạn, chúng tôi không nhìn thấy gì, chỉ nghe được những âm thanh khiến người ta phải rợn tóc gáy.
Tôi sợ lắm, níu chặt lấy áo gã râu quai nón. Vốn dĩ tôi rất sợ gã, nhưng so với bầy sói thì tôi còn sợ chúng hơn. Trong bóng tối, gã râu quai nón nói:
"Sợ cái gì? Sói không leo lên được đây đâu."
Tôi thở phào, buông vạt áo gã ra.
Trong màn đêm đen kịt, gã râu quai nón lên tiếng hỏi:
"Ba mày là Vương Tế Quỷ phải không?"
Tôi gật đầu. Vương Tế Quỷ là biệt danh của ba, đám thợ gặt, người làm trong nhà toàn gọi sau lưng ba tôi như thế.
Gã lại hỏi:
"Ba mày có đúng là Vương Tế Quỷ không?"
Lúc này tôi mới sực nhớ là trong bóng tối gã chẳng thấy tôi gật đầu, vội đáp:
"Vâng ạ, mọi người đều gọi ba cháu như thế."
Gã râu quai nón lại hỏi:
"Ba mày chỉ có mình mày là con trai thôi à?"
"Không ạ, cháu còn có ba chị gái nữa."
Gã bảo:
"Thì đúng là chỉ có mình mày là con nối dõi rồi còn gì."
Rồi tôi nghe gã râu quai nón thở dài một tiếng:
"Chuyện nhà cháu, chú biết cả đấy."
Tôi lấy làm lạ, gã đàn ông râu ria xồm xoàm này tôi chẳng hề quen biết, sao gã lại biết rõ chuyện nhà tôi đến thế. Muốn mở miệng hỏi nhưng tôi lại chẳng dám.
Cách đó không xa vọng lại tiếng sói hú làm da đầu tôi tê dại đi vì sợ; bên tai lại là tiếng gã râu quai nón chậm rãi nói:
"Chú có quen ba cháu, ba cháu nổi danh khắp vùng này. Thực ra ngoài cái tính bủn xỉn thì lão cũng chẳng có tật xấu gì lớn."
Ba tôi đúng là bủn xỉn thật. Nhà tôi thiếu gì tiền, nội cái chuồng gia súc cũng nuôi vài chục con ngựa to khỏe, đánh xe đi từ mờ sáng đến tối mịt mới ra khỏi bờ ruộng nhà mình. Thế mà bữa cơm thường ngày chẳng bao giờ có miếng thịt, chỉ đến dịp Tết mới thấy bát cơm có hai miếng mỡ. Áo quần ba mặc cứ rách thì lại vá, vá đi vá lại không biết bao nhiêu lần, mặc lên người suốt mấy chục năm trời, đến hạng ăn mày trông còn tươm tất hơn lão. Mỗi lần ăn xong, ba lại lè lưỡi liếm sạch bát đĩa như mới rửa qua nước vậy. Đã thế ông còn bắt mọi người trong nhà, kể cả người làm, đều phải liếm bát cho sạch. Ba tôi khoái nhất là đi nhặt phân. Sáng sớm nào ông cũng quẩy lồng, vác xẻng ra cửa, lúc về lồng phân đã đầy phân gia súc nhặt được ngoài đường. Những lúc ấy ba tôi cười hớn hở, đó là lúc ông vui sướng nhất trong ngày. Những ngày đông giá rét, gió Bắc thổi hun hút, trời càng lạnh ba lại càng mừng, ông nói: "Tam cửu, tứ cửu, lạnh đến nứt tay, chẳng ai chịu ra nhặt phân, thì đống phân ngoài đường đều là của mình." Thế là ông đội cái mũ da chó, hớn hở bước ra khỏi nhà.
Gã râu quai nón kể:
"Nói ra thì ba cháu còn có ơn với chú. Năm ấy chú có xích mích với nhà hàng xóm, ruộng hai nhà nằm sát nhau, nhà đấy gặt trộm của nhà chú ba hàng lúa mì, chú ra đồng cãi lý thì bị ba anh em nhà nó đè ra đánh một trận thừa sống thiếu chết, gãy cả xương sườn, nằm bẹp dưới đất không dậy nổi. Đánh xong chúng nó bỏ mặc chú giữa cánh đồng trống cho sói ăn. Lúc trời gần tối, ba cháu đánh xe ngựa đi qua thấy thế bèn hỏi chuyện, chú mới kể lại sự tình, ba cháu liền cho chú lên xe đưa về tận nhà. Nếu không có ba cháu, chú đã bị sói tha đi mất rồi."
Nghe gã nhắc đến ơn cứu mạng của ba, tôi biết gã sẽ không hại mình, bèn hỏi:
"Sao họ lại bắt cháu đến đây?"
Gã râu quai nón đáp:
"Cháu còn nhỏ, chưa biết giang hồ hiểm ác thế nào đâu. Đám người này gọi là 'Lão Tra', chuyên đi bắt cóc trẻ con để tống tiền. Lấy được tiền rồi chúng mới thả người. Chú chẳng biết chúng bắt cóc con trai của ân nhân, nếu biết thì có đánh chết chú cũng chẳng để chúng làm thế."
Sau này khi lăn lộn trong giới giang hồ, tôi mới biết "Lão Tra" là tiếng lóng, chỉ những kẻ bắt cóc tống tiền và buôn người.
Nghe gã nói thế, tảng đá đè nặng trong lòng tôi mới nhẹ bớt. Nghĩ đến những chuyện vừa trải qua, tôi thấy tủi thân vô cùng, cứ thế òa lên khóc nức nở:
"Cháu muốn về nhà, cháu nhớ ba mẹ lắm."
Gã râu quai nón bảo:
"Giờ trời đã tối mịt, chúng ta lại chạy bừa vào hang, dưới chân là bầy sói, sao mà ra được? Thế này đi, đợi trời sáng sói bỏ đi hết rồi, chú sẽ đưa cháu về."
"Cháu đói, cháu đói bụng lắm."
"Ráng nhịn đi cháu, đói thì chú cũng chịu, chú chẳng có gì cho cháu ăn cả."
Đêm đó, tôi trải qua trong nỗi sợ hãi và cơn đói cồn cào. Trời sáng, trong hang đã có ánh sáng le lói, nhưng bầy sói vẫn chưa chịu rời đi. Chúng tôi không dám xuống dưới, đành phải theo lối hang nhỏ này đi vào tận bên trong.
Cái hang này sâu hun hút, tôi đi được hơn mười trượng thì không dám bước tiếp vì phía trước tối đen. Từ sâu trong hang, những luồng gió lạnh thổi ra khiến người ta phải rùng mình.
Gã râu quai nón bảo:
"Cháu cứ nắm lấy áo chú, cái hang này chắc chắn thông với bên ngoài, có lối thoát mới có gió thổi, có gió là có lối ra, có lối ra là bọn mình sẽ thoát."
Chúng tôi dò dẫm tiến về phía trước thêm mấy chục trượng. Tâm trạng tôi dần bình tĩnh lại, chợt nhớ tới hình ảnh con quái vật to xác ngoài hang đêm qua đặt chân lên lưng sói, tôi hỏi gã râu quai nón:
"Đó là con gì hả chú? Sao trông nó quái dị thế?"
Gã đáp:
"Đó là con Bái, chân trước ngắn, chân sau dài. Không có sói thì Bái không chạy nhanh được, nên nó lúc nào cũng đi cùng sói, cái câu 'lang bái vi gian' cũng là từ đấy mà ra."
"Thế bầy sói gọi con Bái đến làm gì ạ?"
"Con Bái tinh quái hơn sói nhiều. Bầy sói gặp chuyện gì khó giải quyết đều phải hỏi nó cả."
Tôi chợt nhớ lại cảnh bầy sói tè vào đống lửa, thầm nghĩ chắc chắn là do con Bái dạy cho bầy sói rồi.
Đi thêm được một đoạn, đột nhiên bên tai vang lên tiếng vỗ cánh rào rào như sóng triều. Giữa bóng tối mịt mùng, tôi chẳng biết đó là thứ gì. Gã râu quai nón ấn mạnh tôi xuống đất:
"Đừng động đậy!"
Tiếng vỗ cánh xôn xao ấy kéo dài một lúc lâu rồi mới chấm dứt. Gã râu quai nón dắt tôi tiếp tục bước đi, tôi hỏi:
"Vừa nãy là cái gì thế chú?"
"Dơi đấy."
"Sao mà nhiều dơi thế ạ?"
"Ban đêm dơi ra ngoài ăn muỗi, ngày lại về hang ngủ... Có dơi tức là hang này thông với bên ngoài rồi."
Nghe sắp thoát được ra ngoài, tôi thấy phấn chấn hẳn lên.
Gã râu quai nón hỏi:
"Nãy dơi có cắn cháu không?"
"Dạ không ạ."
"Không cắn là tốt, miệng dơi có độc, bị nó cắn là mất mạng như chơi."
Chúng tôi đi tiếp vài chục mét thì thấy phía trước có ánh sáng, nhỏ như một đốm đom đóm. Gã râu quai nón phấn khởi:
"Sắp thoát ra ngoài rồi!"
Càng đi, ánh sáng càng rõ, mỗi lúc một nhiều. Cuối cùng, chúng tôi cũng bước ra ngoài nắng ấm. Nheo mắt nhìn rặng cây đại thụ trước cửa hang, tôi có cảm giác như mình vừa từ cõi chết trở về.
Cửa hang không một bóng người, gã râu quai nón bảo:
"Đi thôi, chú đưa cháu ra đến ngã ba đường, rồi cháu tự đi bộ về nhà nhé."
Chúng tôi đi xuống sườn núi, băng qua những bụi cỏ. Một con thỏ rừng vụt chạy ngang qua tôi nhanh như mũi tên bắn. Bụng đói cồn cào, tôi thầm nghĩ: Giá mà bắt được con thỏ kia ăn thì hay biết mấy.
Dưới chân núi có một con đường, có lẽ đã nhiều năm không có người qua lại, mặt đường mọc đầy cỏ dại, nào là hoa thanh cúc tím lịm, hoa bìm bìm hồng nhạt, rồi cả đám cỏ đuôi chó chẳng thèm nở hoa. Chúng tôi dọc theo con đường ấy đi chẳng được bao xa thì phía trước đột nhiên xuất hiện một toán người cưỡi ngựa.
Gã râu quai nón bảo:
"Có người tới kìa, để chú xin cho cháu ít đồ ăn."
Chúng tôi hướng về phía toán người mà đi tới, họ cũng nhanh chóng lao về phía chúng tôi. Đến gần mới thấy rõ, đó là một toán lính, vai đeo súng dài, quân phục có những cái túi vuông vức cứng cáp.
Tên đi đầu cưỡi ngựa hỏi:
"Hai người làm gì ở đây?"
Gã râu quai nón khẩn khoản:
"Thưa ông lớn, cho xin ít đồ ăn với ạ, đứa nhỏ đói quá không đi nổi nữa rồi."
Tên cưỡi ngựa không đáp lời, hắn quay đầu lại hô lớn với đám tùy tùng phía sau:
"Bắt thằng to xác, bỏ thằng nhỏ lại."
Hai tên lính nhảy xuống ngựa, rút dây thừng dưới yên ra, thoắt cái đã trói chặt gã râu quai nón. Gã ra sức vùng vẫy, cất giọng van nài:
"Ông lớn ơi, nhà tôi còn mẹ già con dại, tôi không thể đi theo các ông được."
Tên cầm đầu vung roi ngựa quất một phát thật mạnh, mặt gã râu quai nón tóe máu tươi. Rồi bọn chúng thúc ngựa rời đi, kéo theo gã râu quai nón hai tay bị trói đang lảo đảo bước theo sau.
Tôi đứng trơ trọi giữa cánh đồng hoang vu, chẳng biết phải đi đâu, cũng chẳng biết đây là chốn nào. Một lúc sau, tôi cứ thế bước đi trong vô định, đến khi không còn sức nữa thì quỵ xuống giữa đồng mà gào khóc thảm thiết.