Tổ Bịp
- 5409 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 97. Tiêu cục đến hồi cáo chung
Chúng tôi dắt díu gã Tam chưởng quỹ, lảo đảo bước khỏi thung lũng, tìm đến một ngôi chùa ngay cửa vực.
Ngôi chùa này khá lớn, bên trong thờ một pho tượng Di Lặc, trước Phật đài thắp ngọn trường minh đăng rạng tỏ. Trong chùa có hai thầy trò hòa thượng, nghe thấy tiếng động ngoài cửa liền lăm lăm gậy gộc chạy ra xem xét. Thấy nhóm chúng tôi người nào người nấy đuốc rực trên tay, lại còn áp giải theo gã Tam chưởng quỹ đang bị trói nghiến như bó giò, lão hòa thượng vội ngăn chú tiểu lại, cả hai lủi nhanh vào hậu viện, cài chặt then cửa.
Bước vào đại điện, ánh đèn dầu soi rọi một nhóm người ướt lướt thướt, nước mưa chảy ròng ròng trên lớp áo tạo thành một màn sáng nhạt nhòa. Ánh mắt Tam chưởng quỹ đảo qua gương mặt từng người, cuối cùng dừng lại chỗ tôi, y cất tiếng hỏi: “Tiểu huynh đệ, ta với cậu xưa nay không thù, gần đây không oán, cớ sao lại làm thế này?”
Tôi chưa kịp đáp lời, Tam sư thúc đã cười lên ha hả. Gã tiến lên hai bước, ghé sát mặt Tam chưởng quỹ mà rằng: “Ngài còn nhớ gã thầy bói nửa mùa này không?”
Chân mày Tam chưởng quỹ nhíu chặt như nút thắt, rồi chợt giãn ra, y thốt lên: “À, là ngươi, Nhạc Gia Nguyên...”
“Tam chưởng quỹ trí nhớ tốt thật đấy.” Tam sư thúc mỉm cười.
“Sao ngươi lại ở đây? Rốt cuộc ngươi là kẻ nào?”
Tam sư thúc thủng thỉnh: “Ta là ai chẳng quan trọng, quan trọng là, ngài đã làm những chuyện khuất tất gì, còn nhớ chăng?”
Tam chưởng quỹ lắc đầu nguầy nguậy.
Tam sư thúc tiếp lời: “Xem ra phải để ta nhắc cho ngài nhớ. Đầu thôn Nhạc Gia có một gốc hòe rỗng ruột, năm đó ngài đã đứng trước gốc hòe ấy mà nói những gì?”
Người Tam chưởng quỹ chợt run bắn lên, y lắp bắp: “Ta nói gì? Ta nói cái gì? Sao ngươi biết được?”
“Khi ngài trút bầu tâm sự với gốc hòe rỗng, cứ ngỡ thiên tri địa tri, chẳng dè bên trong lại ẩn náu một người. Ngai Cẩu, mày nhắc lại lời gã nói hôm đó xem nào.”
Tôi trầm giọng: “Ngài nói rằng mình cùng gã Hắc Than đã bàn mưu giết chết con trai Mã lão đại trong quán trọ, bị một kẻ nghe lén được nên đã đuổi cùng giết tận đến tận Hồng Diêu Bảo, chém nát mặt mũi kẻ đó, rồi để mặc cho lũ dơi hút cạn máu của y. Người đó tên là Niệm Gia Thân.”
Vừa nghe đến ba chữ Niệm Gia Thân, mắt ai nấy đều trợn ngược vì kinh ngạc.
Tam chưởng quỹ run rẩy hỏi: “Sao cậu biết? Ai bảo cho cậu?”
“Ngài không biết đâu, ngày đó tôi nấp ngay trong hốc cây, từng lời ngài nói tôi đều khắc cốt ghi tâm. Ngài có lẽ cũng chẳng hay, Niệm Gia Thân chính là quân sư của Mã lão đại. Các người giết con trai Mã lão đại, lại hạ thủ luôn cả quân sư của ông ấy, nợ máu thế này Mã lão đại lẽ nào lại buông tha!”
Tam chưởng quỹ run cầm cập, giọng lạc đi: “Mã lão đại ở đâu?”
Gã gầy bước lên một bước, lạnh lùng: “Mã lão đại ở đây.”
“Bộp” một tiếng, Tam chưởng quỹ quỳ sụp xuống đất, mếu máo: “Kẻ giết quân sư là ta, nhưng đứa bé không phải do ta giết.”
“Ai giết con ta?” Gã gầy gằn giọng.
“Là Hắc Than.”
“Hắc Than đâu?”
“Hắn trượt xuống trước ta, bị các người hạ gục rồi.”
Gã gầy hừ lạnh: “Các người làm nghề áp tiêu, chúng ta làm nghề hưởng mã, tuy cùng kiếm ăn trên một tuyến đường nhưng xưa nay chưa từng làm khó các người, cớ sao lại ra tay với con trai ta?”
Tam chưởng quỹ sụp đổ: “Đây không phải ý của ta.”
“Thế là ý của ai?”
“Là mọi người cùng nhau bàn bạc.”
Gã gầy quát lớn: “Suýt nữa ta đã trúng kế của các người. Các người lấy đâu ra đầu tên của tiêu cục Long Uy?”
Tam chưởng quỹ khai ra hết thảy: “Tiêu cục Long Uy chạy tuyến Đông sang Tây, tiêu cục Gia Hưng chạy tuyến Tây sang Đông. Long Uy thế lực thâm hậu, tiền bạc trên con đường này họ chén sạch tám phần, chỉ chừa cho chúng ta hai phần ít ỏi. Chúng ta muốn trừ khử họ để độc chiếm chuyện làm ăn. Có lần, gã Đầu Trọc bên Long Uy đến Gia Dục Quan, chúng ta bày tiệc rượu đãi đằng, rồi kết nghĩa huynh đệ với hắn. Đầu Trọc tính vốn thẳng như ruột ngựa, chẳng chút đắn đo mà đồng ý ngay. Chúng ta thề thốt trước bài vị Tổ sư gia, rồi bẻ gãy ba mũi tên của tiêu cục Gia Hưng mà thề: ‘Nếu có lòng hai, sẽ như mũi tên này’. Đầu Trọc cũng lấy ra ba mũi tên của Long Uy, bẻ gãy thề bồi y hệt. Thề xong, Đầu Trọc lên đường áp tiêu, chúng ta nhặt lại mấy đoạn tên gãy, tháo lấy đầu tên, thế là có được vật chứng của Long Uy.”
Nghe Tam chưởng quỹ tự thuật, tôi mới thấy giang hồ thật hiểm ác, lòng người thật khó lường.
Y nói tiếp: “Từ Trương Gia Khẩu đến Gia Dục Quan, dọc đường chẳng mấy bình yên, hưởng mã nhan nhản. Tiêu cục Long Uy gia thế lớn, nhân lực đông, muốn hạ bệ họ chẳng dễ gì, nên chúng ta mới nghĩ đến các người. Bởi trên con đường này, chỉ có thế lực của các người là mạnh nhất, hưởng mã tầm thường chẳng phải đối thủ của họ, chỉ có các người mới nuốt trôi được Long Uy.”
“Chúng ta dò hỏi về Mã lão đại, cuối cùng biết được ông chỉ có một mụn con trai, đang theo học tân học trên huyện. Mã lão đại tuy là thủ lĩnh hưởng mã khét tiếng nhất tuyến đường này, nhưng hành tung cực kỳ kín kẽ, giang hồ chẳng ai hay nhà ông ở cái thôn hẻo lánh tên Hôi Điều Bình, cũng chẳng ai biết vợ con ông trú ngụ nơi đó.”
“Dò ra chuyện này cũng là tình cờ. Tiêu cục Gia Hưng có gã huynh đệ đã bỏ nghề tiêu sư, vì chịu không nổi cực khổ, lại ham mê cờ bạc. Có bận gã thua cháy túi, bèn cùng một tên bạc thủ khác định bắt cóc một đứa trẻ để tống tiền. Chúng tìm mục tiêu trên huyện, thế nào lại nhắm trúng con trai Mã lão đại. Thấy đứa trẻ ăn vận sang trọng, biết ngay là con nhà giàu. Có hôm, chúng bám đuôi đứa bé về tận Hôi Điều Bình, thấy nhà cửa khang trang, gia nhân tấp nập. Chúng chẳng dám manh động, vì có hai hạng gia đình không được đụng vào: một là quan viên, hai là dân giang hồ. Động đến nhà quan thì quan phủ lùng sục, tống ngục; động đến dân giang hồ thì có khi mất mạng như chơi.”
“Chúng chẳng quen biết ai ở Hôi Điều Bình để thăm dò, đang định rút lui thì thấy một gã bán hàng rong vào thôn. Chúng ném cho gã vài đồng bạc trắng, nhờ gã la cà dò xét thực hư. Đôi bên hẹn ngày hôm sau gặp lại trên huyện.”
“Hôm sau, gã bán hàng rong báo tin rằng hộ giàu có kia chính là nhà của Mã lão đại – thủ lĩnh hưởng mã lớn nhất con đường tơ lụa. Chúng bán tín bán nghi, nghĩ bụng đại ca hưởng mã sao lại an trí gia đình ở cái xó xỉnh này. Gã bán hàng khẳng định chắc nịch là đã nghe chính miệng người làm trong nhà kể lại. Cứ cách một hai tháng, Mã lão đại lại cưỡi ngựa về nhà vào lúc hoàng hôn, rồi đi khi trời còn chưa sáng.”
“Biết sự thật, hai tên bạc thủ sợ mất vía, chẳng dám tơ hào gì nữa. Sau này chúng ta đi ngang qua đây, Hắc Than gặp lại gã tiêu sư năm xưa trên phố. Gã khi ấy đã nướng sạch gia sản, chỉ còn mỗi cái quần đùi, than vãn với chúng ta rằng vớ được vụ làm ăn ngon mà đụng phải Mã lão đại nên đành bỏ.”
“Người nói vô tình, kẻ nghe hữu ý. Hắc Than nghe đến Mã lão đại liền về báo cáo ngay. Cả bọn bàn tính, thấy đây là cơ hội lớn để mượn tay Mã lão đại diệt trừ Long Uy.”
“Mã lão đại quý mụn con trai hơn mạng sống, tiêu cục bèn quyết định ra tay với đứa bé. Chúng cầm theo đầu tên của Long Uy đến gần Hôi Điều Bình. Để vở kịch thêm thật, chúng cố ý mài mờ bốn chữ ‘Tiêu cục Long Uy’ trên đầu tên, nhưng nếu nhìn kỹ vẫn có thể nhận ra.”
“Chờ đến cuối tháng, đúng lúc Mã lão đại thường về nhà, tiêu cục liền hành sự. Đầu tiên, chúng bắt cóc rồi giết chết đứa bé trên huyện, ném xác xuống hào thành. Sau đó, trong đêm tối, chúng giả làm thầy giáo ở học đường đến Hôi Điều Bình báo tin dữ. Mã lão đại nghe tin con gặp nạn thì tâm trí loạn xạ, phi ngựa điên cuồng lên huyện. Giữa đường, Hắc Than mai phục trong bóng tối, bắn một mũi tên về phía Mã lão đại. Trên mũi tên ấy chính là đầu tên của Long Uy. Mã lão đại ngoái lại nhìn nhưng chẳng thấy rõ kẻ bắn vì trời nhập nhẹm, lại trúng mai phục nên không dám ham chiến mà quất ngựa tháo chạy. Hắc Than bắn bồi thêm hai phát nhưng đều trượt.”
“Sáng hôm sau, Mã lão đại tìm thấy thi thể con dưới hào thành, đau đớn đến tột cùng. Ông quay lại nơi bị phục kích đêm qua, tìm thấy thêm hai mũi tên nữa. Tổng cộng ba mũi tên đều mang dấu tích của Long Uy. Ai gặp cảnh ấy mà chẳng nghĩ Long Uy là kẻ thủ ác?”
“Chuyện Long Uy ra tay cũng rất hợp lẽ thường. Tiêu cục đi đường phải bỏ bạc ra tiền trạm cho hưởng mã, nếu không thì đừng hòng qua trạm. Khoản chi này không hề nhỏ, nhất là với băng của Mã lão đại. Long Uy muốn tiết kiệm món tiền đó nên giết Mã lão đại để dằn mặt, suy luận ấy chẳng có gì sơ hở.”
“Sau đó, quả nhiên Mã lão đại bắt đầu gây hấn với Long Uy, hễ thấy hàng của Long Uy đi qua là tịch thu, đuổi tiêu sư đi. Chúng ta cứ ngỡ Long Uy sẽ phải ra mặt giải quyết, giao ra hung thủ rồi rút khỏi con đường này. Nào ngờ, sự việc lại dẫn đến nông nỗi hôm nay. Rốt cuộc là sai ở đâu?”
Gã gầy nhìn tôi, bảo: “Ngai Cẩu, mày nói cho y biết, để y có chết cũng được nhắm mắt.”
Tôi hỏi: “Kẻ giết Niệm Gia Thân có phải là ngài không?”
Tam chưởng quỹ ngơ ngác: “Niệm Gia Thân là ai?”
“Chính là người anh em đã chết ở Hồng Diêu Bảo.”
Tam chưởng quỹ im lặng. Im lặng tức là thừa nhận.
Tôi tiếp tục: “Một đêm nọ tại quán trọ Cổ Lãng, tôi, Niệm Gia Thân, ngài và một gã huynh đệ nữa cùng ở đó. Khi ấy tôi đang trên đường sang Tây Vực tìm vợ, bôn ba mấy tháng trời nên người ngợm đen nhẻm, gầy gò, quần áo rách rưới, còn Niệm Gia Thân thì ăn vận chỉnh tề. Thế nên giờ gặp lại, ngài chẳng nhận ra tôi. Đêm đó, ngài ngồi dưới gốc cây lớn trong sân kể chuyện tiếu lâm về lão chủ quán họ ‘Nhật’. Tôi và Niệm Gia Thân ngồi ở góc xa nhất đều nghe thấy hết. Đến nửa đêm, tôi đi ngang qua cửa sổ phòng ngài, nghe thấy ngài cùng đồng bọn dùng tiếng lóng giang hồ bàn về chuyện Long Uy giết con trai Mã lão đại. Chuyện này chẳng mấy ai hay, ngay cả người của Long Uy hay thuộc hạ của Mã lão đại cũng mù tịt. Mã lão đại coi đó là nỗi nhục cả đời, chẳng bao giờ nhắc đến, vậy mà các người lại biết rõ mười mươi?”
Tôi thấy Tam chưởng quỹ nhìn mình trân trân, mắt y dần giãn ra, tràn đầy kinh hãi. Y cuối cùng cũng nhận ra tôi.
“Trời sáng, thấy các người cưỡi ngựa ra khỏi quán hướng về phía Đông, còn tôi phải đi Tây Vực. Vì các người nắm giữ bí mật mà Mã lão đại thèm khát nhất, nên chúng tôi quyết định: tôi tiếp tục đi về hướng Tây, còn Niệm Gia Thân bám đuôi các người về hướng Đông, hẹn gặp lại ở Hồng Diêu Bảo. Tiêu đội của Gia Hưng vốn dĩ phải đang trên đường về Gia Dục Quan, tức là đi hướng Tây mới đúng. Việc hai người quay đầu đi về hướng Đông, rõ ràng là để đón tiêu đội của mình, có phải không?”
Tam chưởng quỹ gật đầu cái rụp.
“Niệm Gia Thân bám theo các người đến quán trọ tiếp theo, đêm khuya nghe lén được cuộc trò chuyện, cuối cùng cũng vỡ lẽ kẻ giết con Mã lão đại là tiêu cục Gia Hưng. Thế nhưng, ánh trăng đêm ấy đã phản chiếu bóng của Niệm Gia Thân lên cửa sổ, khiến các người phát giác. Bí mật động trời này nếu để lọt ra ngoài sẽ là tai họa diệt môn cho Gia Hưng.”
Tam chưởng quỹ kinh ngạc: “Quả thực là như vậy, lẽ nào đêm đó ngươi cũng đứng nghe lén?”
“Đêm đó tôi đã ở Gia Dục Quan, cách các người hàng trăm dặm, nhưng tình cảnh của các người và Niệm Gia Thân tôi đều suy đoán ra được. Đêm đó trăng hạ huyền, trăng nằm ở hướng Tây Nam, cửa sổ phòng các người hướng về phía Nam, ánh trăng rọi xuống vừa khéo in bóng người lên cửa sổ.”
Tam chưởng quỹ thảng thốt: “Đúng là thế, đúng là thế thật, nhưng sao ngươi lại biết?”
“Nhà cửa của người phương Bắc đều xây hướng về phía Nam để đón sáng, giúp phòng ốc khô ráo, ấm áp. Xây thế nào thì bóng đổ thế ấy thôi.”
Mọi người xung quanh đều nhìn tôi với ánh mắt thán phục. Tam sư thúc khẽ mỉm cười, có lẽ gã thấy tôi đã dần khôn lớn, trong lòng không khỏi vui lây.
Tôi nói tiếp: “Thấy có bóng người, các người liền đuổi theo. Niệm Gia Thân nghe động liền tháo chạy. Một người chạy, hai kẻ đuổi, cứ thế đến tận Hồng Diêu Bảo. Niệm Gia Thân mưu trí hơn người, lẽ ra không nên mắc bẫy ở đó, vì đường vào Hồng Diêu Bảo chỉ có một lối duy nhất. Chắc chắn các người đã dùng mưu mẹo gì đó mới lừa được y.”
Tam chưởng quỹ thú nhận: “Trên đường bám đuổi, chúng ta gặp một tiêu sư khác.”
“Hèn chi kẻ thông minh như Niệm Gia Thân lại trúng kế, hóa ra các người dùng thuật bám đuôi nối sức.” Năm xưa khi cùng Nhị sư thúc theo dấu gã đa tình và Thần hành thái bảo, Nhị sư thúc đã dạy tôi đủ loại thuật bám đuôi, trong đó đơn giản mà khó phòng nhất chính là thuật nối sức. Người trước bám đến nửa đường thì bàn giao đặc điểm của mục tiêu cho người sau. Kẻ bị bám đuôi thấy bóng dáng phía sau biến mất, cứ ngỡ đã cắt đuôi thành công, nào ngờ lại lọt vào vòng vây của kẻ khác.
Tam chưởng quỹ gật đầu: “Phải, chúng ta ngừng truy đuổi, để gã tiêu sư kia bám theo.”
“Niệm Gia Thân thấy các người biến mất nên yên tâm vào Hồng Diêu Bảo định hội quân với tôi, gã tiêu sư kia thấy mục tiêu vào hang liền gọi các người tới. Ba người xông vào, Niệm Gia Thân trở tay không kịp, một mình sao địch lại ba? Y chạy đến cửa động thì bị bắt kịp, ngài chém một nhát vào mặt khiến y ngã gục. Lũ dơi trên đỉnh hang đánh hơi thấy mùi máu liền lao xuống hút sạch, các người đặt vào tay y một mũi tên của Long Uy. Trong cơn đau đớn, y nắm chặt lấy mũi tên ấy. Nhưng chính lúc đó, y đã dùng hơi tàn viết một chữ dở dang xuống đất. Nét khởi đầu là một chữ ‘Thập’ (十). Tôi đã nghĩ mãi, cứ ngỡ y định viết chữ ‘Long’ (龙), sau này biết hung thủ là các người, tôi mới hiểu y muốn viết chữ ‘Gia’ (嘉). Y muốn dùng cách đó để báo cho tôi biết tiêu cục Gia Hưng mới là kẻ thủ ác.”
Tam chưởng quỹ thở dài: “Niệm Gia Thân cứng cỏi thật, ta chẳng ngờ y còn đủ sức để lại dấu vết.”
“Còn một điều tôi chưa thông. Ngài bảo khi kết nghĩa với Đầu Trọc, hắn bẻ gãy ba mũi tên, những đầu tên đó đã vứt lại trên đường về Hôi Điều Bình, vậy sao trong tay Niệm Gia Thân lại có đầu tên tương tự?”
Tam chưởng quỹ không dám giấu giếm: “Đầu Trọc kết nghĩa với Đại chưởng quỹ, rồi lại kết nghĩa với Nhị chưởng quỹ. Mỗi lần kết nghĩa, hắn đều bẻ ba mũi tên làm tin.”
Lòng tôi chợt thắt lại. Gã Đầu Trọc khờ khạo ấy, chẳng chút tâm cơ, hết lần này đến lần khác bị người ta lợi dụng mà chẳng hề hay biết.
Tôi nói tiếp: “Các người giết chết Niệm Gia Thân, nhét mũi tên vào tay y để đánh lừa kẻ đến hội quân. Mặt y bị dơi hút máu đến biến dạng, tay cầm mũi tên Long Uy, ai nhìn vào chẳng tưởng Long Uy giết người diệt khẩu? Tôi cũng suýt chút nữa đã lầm. Thế nhưng, trên đường quay về, tôi lại tình cờ gặp lại ngài.”
“Gặp ta? Ở đâu?” Tam chưởng quỹ ngơ ngác.
“Ở nhà lão lang trung.”
Y sực nhớ ra, nhưng vẫn đầy vẻ nghi hoặc: “Hôm đó ta đâu thấy ngươi?”
“Tôi đâu có để ngài thấy. Tôi lẩn trong đám đông đứng xem náo nhiệt, nhìn các người rõ mồn một. Ngài và Hắc Than đều ở đó, hôm ấy những kẻ trú ngụ và ăn uống tại nhà lang trung đều là người của tiêu cục Gia Hưng. Sau khi giết Niệm Gia Thân, các người hội quân với tiêu cục rồi hướng về phía Tây để về Gia Dục Quan. Đến Vĩnh Xương, các người bị tống ngục. Có biết tại sao không?”
Tam chưởng quỹ hậm hực: “Chúng ta trúng kế, có tên trộm nào đó lấy cắp đại ấn của huyện nha rồi nhét vào hành lý của chúng ta để vu oan giá họa.”
“Phải, đó là mưu của chúng tôi. Lạc đà đầu đàn của các người có một chỏm lông đỏ trên bướu, có người đã cố ý nhuộm đỏ bướu của một con lạc đà khác, rồi cưỡi nó đi trộm đại ấn, cố tình để thiên hạ thấy cái dấu hiệu đặc trưng ấy. Sáng hôm sau khi định ra cổng thành, các người bị chặn lại. Cảnh sát thấy lạc đà giống hệt mô tả, lại lục thấy tang vật trong hành lý, các người có nhảy xuống Hoàng Hà cũng chẳng rửa sạch oan khiên.”
Tam chưởng quỹ ấm ức vô cùng: “Đúng thế, chúng ta bị oan mà!”
“Muốn biết ai đã hãm hại các người không?”
“Tất nhiên là muốn!”
Tôi định đáp lời thì Tam sư thúc đã bước lên: “Là ta.”
“Có cả tôi nữa.” Tôi bồi thêm.
Thiết Trụ khen ngợi: “Kế này hay thật, quả là diệu kế.”
Gã gầy cũng gật gù: “Thật là thiên tài, nghĩ ra được chiêu đó cũng tài thật.”
Tam chưởng quỹ chán nản: “Hèn chi, bị nhốt trong ngục mà chúng ta vò đầu bứt tai chẳng hiểu đã đắc tội với phương nào. Chúng ta muốn đi mà cai ngục không cho, bảo tội trộm ấn nặng lắm, ít nhất phải ngồi tù một năm. Tại sao các người phải làm thế?”
Tôi lạnh lùng: “Nếu không tống các người vào ngục, tiêu cục các người người đông thế mạnh, chúng tôi chỉ có hai người, sao địch lại? Đợi các người về đến Gia Dục Quan thì tìm được các người khó như lên trời.”
Tam chưởng quỹ cúi gầm mặt, im bặt.
Tôi nói tiếp: “Nhốt được các người rồi, tôi và Tam sư thúc thúc ngựa tìm đến địa bàn của Mã lão đại để báo tin. Chẳng dè gặp phải đại phái gây hấn, trễ nải mất ít ngày. Lúc gặp được Mã lão đại thì hai bên đã đánh nhau to rồi. Sau khi giải thích rõ ngọn ngành, đôi bên mới xóa bỏ hiềm khích, tìm đến ngục Vĩnh Xương đưa các người ra đây.”
Gương mặt Tam chưởng quỹ đầy vẻ hối lỗi, y im lặng hồi lâu mới ngẩng lên: “Tất cả đều là không, tranh tới tranh lui, cuối cùng cũng chỉ là một con số không tròn trĩnh. Trước khi đến Hồng Diêu Bảo, ta gặp một tiêu sư của Gia Hưng, y bảo đây là chuyến tiêu cuối cùng. Xong chuyến này tiêu cục sẽ giải tán. Tiêu cục ở các thành phố lớn đã dẹp tiệm từ mấy năm trước rồi, chỗ hẻo lánh như chúng ta mới cầm cự được đến nay. Súng ống tràn lan rồi, nghề áp tiêu chẳng còn đất sống. Võ công có giỏi đến mấy cũng chẳng đỡ nổi một viên đạn chì. Tiêu cục giải tán, người thì đi mãi võ bán thuốc, kẻ thì đi làm bảo an. Nghề tiêu sư này sắp tuyệt chủng rồi. Chúng ta tranh giành đến phút cuối cùng, đổi lại chỉ là cái tin tiêu cục giải thể, vậy thì còn tranh giành làm chi nữa?”
Nghe y nói, lòng tôi chợt hoang mang. Tiêu cục Gia Hưng giải tán, vậy Long Uy thì sao? Liệu đây có phải chuyến tiêu cuối cùng của họ? Nếu Long Uy không còn, Yến Tử biết tìm tôi nơi nao?
Nhưng liệu lời y nói có thật không?
Tôi nhìn Hùng ca với ánh mắt dò hỏi, y khẽ gật đầu: “Hai mươi năm qua, thế giới này đã đổi thay chóng mặt. Máy bay xuất hiện rồi, sáng còn ăn bánh cuốn ở Quảng Châu, chiều đã có thể ngồi nhâm nhi thịt cừu ở Tây An. Điện thoại cũng ra đời, cách nhau nghìn trùng vẫn nghe được tiếng nói của nhau. Súng máy ra đời, một khẩu súng có thể đẩy lùi cả vạn người... Thời đại này, học võ còn tác dụng gì? Người Anh chẳng ai biết võ thuật, vậy mà chỉ cần hai nghìn quân đã đánh thẳng vào kinh thành. Nghĩa Hòa Đoàn toàn cao thủ võ lâm, vậy mà bị vài nghìn quân Tây ép Lão Phật gia phải chạy nạn về phương Tây. Trên con đường tơ lụa đã có ô tô, một chiếc xe, một khẩu súng máy có thể vận chuyển khối lượng hàng bằng cả trăm con lạc đà về tận Gia Dục Quan, mà chẳng kẻ nào dám cướp. Đi ô tô từ Trương Gia Khẩu đến Gia Dục Quan chỉ mất sáu ngày, còn lùa lạc đà phải mất tới sáu tháng. Thời thế thay đổi, súng đạn phổ cập, tiêu cục tất yếu phải lụi tàn. Dù là Long Uy hay Gia Hưng, cũng chỉ là những hơi tàn cuối cùng của một thời đại sắp qua. Giờ đây từ đây về Gia Dục Quan mất một tháng, về Trương Gia Khẩu mất năm tháng, nhưng dù về đâu cũng chẳng còn tiêu cục nào nữa đâu.”
Thiết Thuyên hỏi: “Không còn tiêu cục, liệu hưởng mã có biến mất không?”
Hùng ca đáp: “Tiêu cục có hay không không quan trọng, hưởng mã vẫn sẽ tồn tại. Từ trước khi có tiêu cục đã có hưởng mã, và sau khi tiêu cục mất đi, chúng cũng chưa chắc biến mất. Thậm chí có thể khẳng định, hưởng mã sẽ tồn tại mãi mãi. Ở đâu có tài sản, ở đó có tranh đoạt. Thời gậy gộc có cướp bóc, thời súng đạn cũng có cướp bóc. Sau này dù ở thời đại nào, sự tranh giành cũng không bao giờ dứt. Một người cướp không xong thì kết băng kết đảng mà cướp, đó chính là hưởng mã. Thánh nhân bảo ‘Nhân chi sơ tính bản thiện’, thực ra phải nói là ‘Nhân chi sơ tính bản ác’ mới đúng. Con người sinh ra đã mang sẵn lòng tham, sự ích kỷ và dục vọng hơn người, ai cũng vậy thôi, sao có thể bảo là bản tính thiện cho được?”
Chúng tôi chìm trong nỗi ưu tư về tương lai khi lắng nghe những lời lẽ uyên bác của Hùng ca. Nhân lúc ấy, Tam chưởng quỹ lén lút nhích dần ra phía cửa, định thừa cơ tẩu thoát.
Thiết Trụ nhanh như chớp lao đến, tóm gọn gã Tam chưởng quỹ khi một chân y đã bước qua ngưỡng cửa. Y gào lên xin tha mạng, hứa sẽ về quê làm ruộng, vĩnh viễn không bước chân vào giang hồ nữa.
Mã lão đại lạnh lùng: “Ngươi không biết giang hồ hiểm ác sao còn dám dấn thân vào? Muốn rút lui ư, đâu có dễ thế.”
Thiết Thuyên tiếp lời: “Muốn về quê làm ruộng thì phải hỏi xem Niệm Gia Thân có đồng ý không đã. Giờ ngươi đã hiểu trắng đen cả rồi, cứ an tâm mà đi xuống hoàng tuyền. Xuống tới âm phủ thì kể lại cho đám chiến hữu nghe, để chúng nó cũng được nhắm mắt.”
Thiết Thuyên vung đại đao, phầm một nhát, Tam chưởng quỹ chẳng kịp kêu lấy một tiếng. Một dòng máu tươi từ cổ y phun lên như suối, rồi lốm đốm rơi xuống ngưỡng cửa như những cánh hoa rụng.
Sau khe cửa hậu viện, hai thầy trò hòa thượng chứng kiến cảnh tượng hãi hùng ấy mà run lẩy bẩy, không dám hó hé nửa lời. Mã lão đại lấy ra một xấp bạc trắng đặt trước tượng Phật, vọng tiếng nói vào hậu viện: “Làm bẩn nơi cửa Phật, thật ngại quá, phiền sư phụ tìm người dọn dẹp giúp cho.”
Chúng tôi bước ra khỏi chùa, cơn mưa đã dứt hẳn, trời hửng sáng. Đứng trên bậc thềm nhìn ra cánh đồng hoang vắng mênh mông, trời cao đất rộng, cây cối điêu linh, vài chiếc lá úa xoay vần trong gió. Nếu tiêu cục Long Uy không còn, Yến Tử ở đâu, Lệ Mã ở đâu, tôi biết đi về phương nào?
Hướng Đông là Trương Gia Khẩu, nơi Yến Tử và Lệ Mã đang sinh sống. Hướng Tây là Gia Dục Quan, nơi có mười vạn ngân phiếu đang chờ đợi. Tôi nên đi ngả nào đây?
Mã lão đại đã bỏ đi, thù lớn đã báo, gã có thể ngửa mặt lên trời mà trút hết nỗi lòng. Gã nhắn nhủ: “Huynh đệ từ đây biệt tích, sau này có việc gì cần đến cứ gọi một tiếng, dù là nhảy vào dầu sôi lửa bỏng tôi cũng chẳng từ.”
Tôi cùng Thiết Thuyên, Thiết Trụ ôm lấy nhau, lòng tràn đầy quyến luyến. Tuy quen biết chưa lâu, nhưng tôi cảm nhận được họ là những người bạn chí cốt. Thiết Thuyên nóng nảy, Thiết Trụ trầm ổn; Thiết Thuyên dũng mãnh, Thiết Trụ thông minh. Diện mạo hay tính cách ra sao chẳng quan trọng, miễn là trọng nghĩa khinh tài, sống có trước có sau thì đều là bằng hữu tốt.
Nhìn bóng lưng Mã lão đại khuất dần, Hùng ca cảm thán: “Giang hồ là vậy đấy, sống chết trong gang tấc, tụ tán tựa mây bay. Chẳng có bữa tiệc nào không tàn, nếu có duyên ắt sẽ gặp lại.”
Tam sư thúc giục: “Chúng ta cũng đi thôi, mau mau lấy cho được mười vạn ngân phiếu.”
Tôi bần thần: “Tôi muốn về Trương Gia Khẩu, Yến Tử và Lệ Mã đang đợi tôi ở đó.”
Tam sư thúc gạt đi: “Yến Tử ở bên cạnh Hổ Trảo thì cứ yên tâm. Lệ Mã đi cùng Đầu Trọc, gã đó là bậc chính nhân quân tử, không sao đâu. Chúng ta cứ lấy mười vạn ngân phiếu trước đã, có tiền rồi mày dẫn cả hai đứa nó về Nam Kinh mà sống. Chốn ấy là nơi ăn chơi bậc nhất, có tiền là có tất cả. Sau này cứ thế mà hưởng phước thôi.”
Ngẫm lại, tôi thấy lời sư thúc cũng có lý. Nếu đã chẳng đành lòng bỏ Yến Tử, cũng chẳng nỡ xa Lệ Mã, chi bằng đón cả hai về chung sống.
Yêu một người đàn bà thì phải cho họ một cuộc sống đủ đầy. Tôi quyết định làm phi vụ cuối cùng này để lấy mười vạn ngân phiếu. Chia theo tỷ lệ, tôi sẽ được ba vạn. Thời đó, lương cảnh sát một tháng có tám đồng, một năm chưa tới một trăm đồng. Ba vạn đồng bằng lương của ba đời cảnh sát cộng lại. Chừng ấy tiền đủ để tôi cùng Yến Tử và Lệ Mã sống sung túc cả đời.
Làm! Xong vụ này sẽ rửa tay gác kiếm, dẫn hai nàng cao chạy xa bay.
Chúng tôi thúc ngựa phi nhanh, vài ngày sau đã tới Gia Dục Quan.
Gia Dục Quan có hai con phố chính, ngay ngã tư có một tòa đại viện. Trên bức tường chắn bên cổng có khắc một chữ “Tiêu” (镖) thật lớn, trên xà ngang treo tấm biển đề “Tiêu cục Gia Hưng”.
Đối diện tiêu cục là một bưu điện mới mở, mấy chiếc xe tải lớn chất đầy hàng hóa đang lướt ra từ cánh cổng xanh thẫm, lao nhanh về phía xa.
Tiêu cục Gia Hưng giờ đã vườn không nhà trống, trong khoảnh sân rộng chỉ có lũ chim sẻ bay lên đậu xuống, kêu ríu ra ríu rít. Chuồng đất vốn để nuôi lạc đà nay phủ một lớp cỏ khô và bụi bặm. Bên trong chỉ còn lại một lão già đang lúi húi dọn dẹp đồ nghề thợ mộc, tiếng rìu, bào, cưa, ống mực kêu lách cách xáo trộn. Lão bảo tiêu cục đã bán được hai tháng rồi, đám tiêu sư tản mát phương nào chẳng rõ, giờ người ta thuê chỗ này để làm cửa hàng đóng quan tài.
Đứng trước tiêu cục Gia Hưng, tôi có cảm giác như vừa trải qua một kiếp người, chợt thấy đời người chỉ là hư ảo. Gia Hưng tiêu cục dày công tính kế để chèn ép Long Uy, độc chiếm đường làm ăn, cuối cùng tất cả đều tan thành mây khói, chẳng những trắng tay mà còn mất luôn cả mạng sống.
Tôi chợt nhớ năm đó ở đoàn xiếc, Cao Thụ Lâm vắt óc tìm đủ mọi cách trộm tiền, tích trữ chẳng biết bao nhiêu mà kể, vậy mà trong đêm tuyết lạnh thấu xương, khi mạng sống cận kề cái chết, gã chỉ có thể dùng chính những xấp tiền quấn quanh thắt lưng để đốt lửa sưởi ấm.
Trước sự vô thường của sinh mệnh, mỗi chúng ta cũng chẳng khác gì cô bé bán diêm kia là mấy.