Tổ Bịp
- 5626 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 53: Truy tìm Sư tổ
Báo Tử nói đến đây thì bỗng nhiên im bặt, chìm sâu vào im lặng. Nước mắt tôi bỗng trào ra, lòng lại nhớ về Tiểu Thất Tử - kẻ mới ngày nào còn đỏ mặt tía tai vì bị mấy gã khách làng chơi trêu chọc trong viện nhà họ Thường. Chuyện ở đó ngỡ như vừa mới hôm qua, vậy mà giờ Tiểu Thất Tử đã chẳng còn nữa, vĩnh viễn không thể gặp lại. Đôi hành khất đen trắng nghe xong cũng không khỏi bùi ngùi, thở dài cảm thán.
Gã tiêu sư cũng đã tỉnh hẳn, nãy giờ nghe đến mê mẩn. Gã hỏi Báo Tử:
• Vùng bãi cát này địa hình lắt léo, nhiều chỗ bước chân vào là chẳng có đường ra, đúng là tuyệt địa hiểm cảnh. Sao Sư tổ lại tìm đến đây? Mà các anh làm thế nào mà tìm được họ?
Báo Tử đáp:
• Sư tổ vốn là người ưa xê dịch, lão sống ở thảo nguyên Tái Bắc bao năm, chắc hẳn đã nhẵn mặt vùng cát này rồi. Sự hiểm nguy nơi đây, lão rõ hơn ai hết. Thế nhưng trong lúc lâm nguy, lão vẫn dắt díu đồ đệ tiến vào chốn này, chứng tỏ lão đã sớm chọn được nơi ẩn thân an toàn trong lòng bãi cát.
Gã tiêu sư tiếp lời:
• Vùng cát này có đồng cỏ, có rừng cây, khe suối chảy xuôi, lại có cả thôn xóm và lều vải của dân du mục. Nhưng phần lớn vẫn là sa mạc mênh mông, lọt vào đó đi mươi mười lăm ngày cũng chẳng thấy lối ra, cuối cùng chỉ có nước chết khát chết đói. Chưa kể những bãi đầm lầy, trông thì rực rỡ hoa dại nhưng chỉ cần sẩy chân một cái là bị hút tuột xuống, bùn đen nhấn chìm rồi rữa nát ra, đến mảnh xương vụn cũng chẳng còn. Sư tổ thâm nhập hiểm cảnh là để dụ kẻ thù vào tròng, điều này tôi đã thông suốt. Có điều, vùng cát này đáng sợ đến mức người bản địa chúng tôi còn phải biến sắc, hai kẻ ngoại lai như các anh sao có thể thâm nhập, lại còn tìm đúng chỗ Sư tổ mà đến?
Báo Tử nói:
• Tôi thì chỉ sành chuyện giang hồ, còn thiên văn địa lý thì mù tịt. Nhưng Tam sư thúc thì khác, lão là bậc thông minh tuyệt đỉnh, mưu mẹo có thừa.
Nhắc đến Tam sư thúc, lòng tôi lại gợn lên nỗi lo âu, tôi liền hỏi:
• Tam sư thúc và Yến Tử đi cũng nhiều ngày rồi mà chưa thấy về, không biết có gặp phải trắc trở gì không.
Báo Tử trấn an:
• Cứ yên tâm đi, Tam sư thúc nhà cậu khôn ngoan chẳng khác gì cáo già, Yến Tử lại lanh lợi, bọn họ không sao đâu. Tôi tin sớm muộn gì họ cũng tìm thấy chúng ta thôi.
Gã tiêu sư lại sốt sắng thúc giục:
• Thế tóm lại các anh tìm Sư tổ bằng cách nào? Địa thế nơi này phức tạp như thế, chắc hẳn phải trầy trật lắm?
Báo Tử cười đáp:
• Bảo không thuận lợi thì cũng đúng, mà bảo thuận lợi thì cũng chẳng sai.
Muốn tìm được Sư tổ giữa vùng cát Hunshandake bao la vạn trạng này chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Báo Tử và Tam sư thúc men theo những dấu chân hỗn loạn dưới gốc liễu vẹo mà tiến bước. Dấu chân in trên cát bị gió vùi nhiều ngày, phải căng mắt ra mới nhận diện được. Cuối bãi cát là một vạt cỏ, những lọn cỏ dại từng bị giẫm nát giờ lại kiên cường đứng thẳng dậy. Đứng giữa đồng cỏ mênh mông bát ngát, hai người nhất thời mất phương hướng, chẳng biết nên đuổi theo ngả nào.
Bóng hoàng hôn dần chìm xuống đường chân trời xa tít tắp, trên cao hiện ra những dải mây lửa rực rỡ. Những đám mây đủ mọi hình thù được nhuộm thắm, khi thì tựa tuấn mã phi nước đại, lúc lại giống lão nông chống gậy, hay đàn cừu tản mát... Nửa bầu trời rực lên sắc đỏ chói lọi, nửa kia lại khoác lên mình màu hồng đào thanh nhã.
Báo Tử tặc lưỡi:
• "Sáng nắng chẳng ra môn, tối hồng đi vạn dặm". Xem chừng mấy ngày tới thời tiết vẫn đẹp.
Tam sư thúc lắc đầu:
• Không đâu, sắp có thiên cẩu ăn mặt trời rồi.
"Thiên cẩu ăn mặt trời" là cách gọi dân gian, còn trong sách vở gọi là nhật thực. Báo Tử lấy làm lạ, không hiểu sao lão lại biết sắp có nhật thực. Thấy vẻ mặt ngờ vực của Báo Tử, Tam sư thúc liền giải thích:
• Người của phái Giang Tướng chúng ta, từ thiên văn địa lý, tinh tướng bát quái cho đến kham dư y dược, đều phải tường tận đôi chút.
Dù biết Tam sư thúc là Thám hoa lang của phái Giang Tướng, thông tuệ hơn người, nhưng Báo Tử vẫn có phần bán tín bán nghi.
Đúng lúc ấy, một con thương ưng lướt qua không trung, sải cánh ung dung. Khi bay đến trên đầu hai người, nó ngừng vỗ cánh, cứ thế lơ lửng như một cánh diều. Đang lúc họ mải miết nhìn theo, nó bỗng lao vút xuống như viên đá rơi, đáp thẳng vào lùm cỏ cách đó trăm mét. Đến khi cất cánh trở lại, bộ móng vuốt của nó đã quắp chặt một con thỏ xám.
Ngay sau đó, phía trước rộ lên tiếng ngựa hí quân reo, chó săn nhảy nhót. Một toán người đi săn lọt vào tầm mắt của họ. Đám người nầy đầu đội mũ gấm, khoác áo lông chồn, khí thế hừng hực. Họ chỉ liếc nhìn hai người một cái rồi hò hét thúc chó săn chạy xa dần.
Tam sư thúc khẽ bảo Báo Tử:
• Theo sát bọn họ, tung tích của Sư tổ nằm cả trên người bọn này đấy.
Báo Tử hỏi:
• Bọn họ là hạng người nào?
Tam sư thúc đáp:
• Vương gia của thảo nguyên.
Đoàn đi săn tiến vào một cụm lều vải lớn. Tam sư thúc và Báo Tử dừng chân bên ngoài, nép mình vào bụi rậm trên một sườn đồi để thu trọn toàn cảnh khu lều vào tầm mắt.
Khi đoàn người tiến vào, họ thấy dân chúng bên đường đều khúm núm cúi đầu trước vị Vương gia. Trên vai lão đậu con thương ưng, bên ngựa có bầy chó săn hộ tống. Gió thổi tà áo bào xanh của lão bay phần phật, dáng vẻ oai vệ vô cùng. Đối với những lời chào hỏi, lão chẳng buồn gật đầu lấy một cái.
Vùng lều vải đó có tên là Cách Nhật Lặc. Trong tiếng Mông Cổ, Cách Nhật Lặc có nghĩa là Quang Minh.
Sáng hôm sau, Cách Nhật Lặc đón tiếp một thầy bói lạ mặt. Lão nhắm nghiền hai mắt, khoác áo dài xanh, bước đi xiêu vẹo. Tay trái lão đặt lên vai kẻ dẫn đường phía trước, tay phải chống cây gậy gỗ lên nước bóng loáng. Kẻ dẫn đường có làn da màu đồng hun, gương mặt hằn học gió sương. Sự xuất hiện của họ lập tức thu hút lũ trẻ trong vùng. Chúng chạy theo sau, cười đùa chí thú, có đứa còn nghịch ngợm ném cỏ khô lên áo hai người. Thầy bói và kẻ dẫn đường vẫn lầm lũi bước đi, tựa hồ không hề hay biết gì về thế giới xung quanh.
Đến giữa khoảng đất trống ở Cách Nhật Lặc, thầy bói ung dung ngồi bệt xuống đất, cất giọng hát trường điệu Mông Cổ. Điệu nhạc thê lương, u uẩn, âm hưởng trầm bổng khiến người nghe không khỏi nao lòng. Lão hát rằng:
Hỡi loài ưng trên cao, sao mi bay cao thế? Bởi tai ương sắp giáng xuống đầu rồi;
Hỡi ngựa quý dưới đất, sao mi chạy nhanh thế? Bởi tai ương sắp giáng xuống đầu rồi;
Hỡi những kẻ u mê, sao còn chưa chạy trốn, bởi tất thảy còn chìm trong mộng mị;
Hỡi Trường Sinh Thiên vĩ đại, xin Ngài hãy chậm bước, mang theo những kiếp người lầm than này.
Tiếng hát của thầy bói như khóc như than, như oán như trách, tựa cơn mưa bụi thấm vào từng ngóc ngách, như loài muỗi vằn len lỏi vào từng tấm lều. Người ta lần lượt bước ra khỏi lều, vây quanh kẻ lạ mặt ăn mặc kỳ quái kia.
Thầy bói vẫn ngồi đó, mặc kệ thế gian, đôi mắt vẫn nhắm nghiền chẳng thèm liếc mắt nhìn ai. Một kẻ mặc áo bào dài, chân đi giày nỉ bước đến trước mặt hai người, dõng dạc bảo:
• Vương gia có lời mời.
Họ được dẫn vào căn lều lớn nhất Cách Nhật Lặc, chính là trướng của Vương gia.
Vừa nghe giới thiệu về Vương gia, thầy bói đã lớn tiếng phán ngay:
• Đại họa giáng xuống đầu rồi! Ma quỷ đã tràn vào thảo nguyên, trời cao chẳng lúc nào yên, ban ngày hóa đêm đen, trâu bò lăn ra chết, xác phơi đầy đồng cỏ, sao Vương gia còn chưa mau mau lánh nạn?
Vương gia nghe vậy thì ngớ người, không hiểu đầu đuôi ra sao, liền hỏi:
• Lời này là có ý gì?
Thầy bói vẫn thản nhiên đáp:
• Một lũ ma quỷ đã đặt chân lên mảnh đất này, mang theo cả tai ương. Chẳng quá ba ngày nữa, lời tiên tri của tôi sẽ ứng nghiệm. Vương gia chỉ có hai con đường: hoặc tống khứ lũ quỷ đi, hoặc chính mình phải mau chóng rời khỏi đây.
Vương gia và đám tùy tùng nhìn nhau trân trối, nửa tin nửa ngờ. Thấy sắc mặt thầy bói trang nghiêm, không giống kẻ nói dối, họ quay sang nhìn kẻ dẫn đường thì gã chỉ chỉ vào miệng rồi xua tay, hóa ra là một kẻ câm.
Suy đi tính lại, Vương gia quyết định để hai kẻ không mời mà đến này ở lại trong một căn lều, xem xem lời chúng nói có thực sự linh nghiệm hay không.
Tam sư thúc lén bảo Báo Tử rằng hai ngày nữa sẽ có thiên cẩu ăn mặt trời. Báo Tử nghe mà toát mồ hôi hột, lão thấy chiêu này quá đỗi mạo hiểm. Nếu mặt trời không bị "ăn", hai người muốn thoát thân khỏi đây chắc chắn là chuyện không tưởng. Huống hồ vùng cát này địa hình hiểm trở, họ lại chân ướt chân ráo, làm sao chạy thoát được những kẻ sinh ra và lớn lên trên lưng ngựa ở mảnh đất này.
Thế nhưng, điều Báo Tử không ngờ tới là đến ngày thứ hai ở Cách Nhật Lặc, thiên cẩu đã thực sự ăn mất mặt trời.
Bầu trời mây đen vần vũ, thảo nguyên gió bụi mù mịt. Vừa nãy nắng còn chang chang, thoắt cái mặt trời đã biến thành chiếc bánh nướng, màu sắc nhạt dần rồi đột nhiên khuyết mất một miếng. Vết khuyết cứ thế rộng ra, bóng tối bao trùm vạn vật, cây cối run rẩy trước lốc cuốn, phía xa vọng lại tiếng sói tru đầy khiếp hãi. Đàn cừu trên đồng cỏ hoảng loạn tan tác, người dân quỳ sụp xuống đất, hướng lên trời cao cầu khẩn.
Vương gia sợ đến mất mật, lão túm chặt lấy tay áo Tam sư thúc như túm được cọc cứu mạng, miệng lảm nhảm:
• Phải làm sao đây? Phải làm sao đây? Thần linh vạn năng ơi, xin hãy hiển linh đuổi loài ác quỷ đi!
Tam sư thúc tay cầm kinh phướn, nhảy lên hụp xuống như một chiếc lò xo không biết mệt, miệng lẩm bẩm quyết chú:
• Ta là sứ giả của Trường Sinh Thiên, tả có Tứ Đại Hộ Pháp, hữu có Bát Đại Kim Cang, ác ma mau lui, mau lui!
Giữa trời đất tối đen như mực, thế gian tĩnh lặng đến rợn người, ngay cả chim muông cũng ngừng tiếng kêu kinh hãi. Chỉ còn giọng nói lúc bổng lúc trầm của Tam sư thúc vang vọng khắp Cách Nhật Lặc.
Sau khi lão hô hoán vài lượt, kỳ tích đã xuất hiện. Trên không trung lộ ra một vành sừng trâu đỏ rực, thế giới được bao phủ bởi sắc hồng thắm. Rồi vành sừng ấy rộng dần, ánh sáng bừng lên, bóng người, lều trại, trâu bò, lùm cây... đều như từ dưới mặt nước nổi lên. Mặt trời cuối cùng đã quay trở lại.
Mọi người đồng loạt quỳ lạy trước Tam sư thúc, hô vang:
• Sứ giả của Trường Sinh Thiên, xin hãy che chở cho thảo nguyên được cát tường!
Cứ như thế, tại Cách Nhật Lặc, Tam sư thúc đã trở thành vị thần thông linh.
Lão nói với Vương gia:
• Ma quỷ đã thâm nhập thảo nguyên, chúng hóa thành hình người, kết bè kết lũ, áo quần rách rưới, đang chạy trốn về phương Bắc. Ta phải bắt bằng được chúng đưa về địa ngục, xin Vương gia hãy trợ giúp ta một tay.
Vương gia lập tức triệu tập người luyện ưng và người luyện chó. Kẻ luyện ưng thì thầm những lời bí hiểm với con thương ưng khổng lồ, nó liền vỗ cánh bay vút lên trời xanh như mũi tên lao về hướng Bắc. Kẻ luyện chó cũng dắt theo mấy con chó Mông Cổ hung dữ chạy theo. Tam sư thúc, Báo Tử và người luyện ưng lẳng lặng bám gót phía sau.
Họ lên đường.
Sư tổ và mọi người cứ thế xuôi ngược phương Bắc. Để cắt đuôi truy binh, họ cố ý xóa sạch dấu vết trên mặt đất. Thế nhưng, thương ưng kích thủy, cả thế giới này đều nằm dưới móng vuốt của nó. Nó chẳng cần nhìn dấu chân, nó dùng đôi mắt tinh anh cực độ để định vị con mồi.
Dù Sư tổ có đi xa đến đâu, cũng chẳng thể thoát khỏi tầm mắt của con chim ưng kia.
Gã tiêu sư nghe đến đây thì kinh ngạc thốt lên:
• Chà, đúng là diệu kế! Có ưng và chó của Vương gia dẫn đường thì tìm Sư tổ dễ như trở bàn tay. Vị Thám hoa lang kia quả thực thông minh, ba cái trò lắt léo này lão đều nghĩ ra được cả.
Gã hành khất đen nãy giờ im lặng lắng nghe, bấy giờ mới lên tiếng:
• Thế cuối cùng có tìm thấy Sư tổ không?
Báo Tử đáp:
• Tìm thấy rất nhanh. Vùng cát này thưa thớt bóng người, con thương ưng chỉ cần thấy có đoàn người đi bộ là bay về báo tin cho chủ. Chó Mông Cổ vốn đã quen hơi người ở Cách Nhật Lặc, còn bọn Sư tổ đi ngang qua thảo nguyên để lại mùi lạ, bọn chó chỉ cần đánh hơi rồi lần theo là ra ngay. Nếu không có con ưng luyện kỹ với mấy con chó săn đó, chúng ta tìm ba năm năm tháng cũng chưa chắc thấy bóng dáng Sư tổ.
Tôi sốt ruột hỏi:
• Sư tổ hiện đang ở đâu?
Báo Tử nói:
• Sâu trong bãi cát có một rừng hồng liễu. Giữa rừng có một ngôi làng, nhà cửa đồ đạc vẫn nguyên đó nhưng tuyệt nhiên không một bóng người. Sư tổ chọn nơi ấy làm chỗ dừng chân.
Gã hành khất đen thắc mắc:
• Nhà cửa đồ đạc còn cả mà lại không có người? Thế làng ấy do ai dựng lên?
Báo Tử thở dài:
• Có lẽ làng này trước đây có người ở, sau bị thổ phỉ cướp bóc hoặc bị bão cát quét qua. Tóm lại là người không còn, nhưng xác nhà thì vẫn vững.
Tôi chợt nhớ lại thuở còn theo gánh xiếc phiêu bạt, cũng từng thấy những ngôi làng hoang vắng như thế. Có lẽ một trận dịch bệnh đột ngột ập đến, chẳng sinh linh nào thoát khỏi, xác họ đổ xuống làm mồi cho lũ sói hoang và chim ưng trên trời.
Báo Tử kể tiếp:
• Lúc gặp Sư tổ, thấy lão gầy sọp hẳn đi. Lão cùng số ít thuộc hạ còn lại đang đào hào, đặt bẫy, dùng những thứ vũ khí thô sơ nhất và mưu kế để chặn đánh giặc Nhật. Bọn quỷ Nhật không ít lần nếm trái đắng của lão.
À, hèn chi lúc từ Xích Phong tới Đa Luân, trên đường thấy nhiều hố bẫy, hóa ra đều là kiệt tác của Sư tổ. Tiếc rằng lúc đó tôi không nhận ra, thành ra lỡ mất cơ hội hội ngộ.
Trời sáng hẳn, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.
Báo Tử dẫn chúng tôi vượt qua một dải cát, băng qua cánh rừng rồi đến bên bờ hồ. Nước hồ trong vắt nhìn thấu tận đáy, thấy cả những đàn cá sắc màu kỳ lạ đang thong dong bơi lội. Chúng tôi đốn cây, dùng dây vải buộc thành một chiếc bè mộc rồi đẩy xuống nước.
Mặt hồ mênh mông nhìn không thấy bờ, giữa lòng hồ mọc lên từng vạt lau sậy xanh rì. Trong bụi rậm, từng đàn sếu cổ trắng đang đậu nghỉ. Có lẽ chúng chưa từng thấy con người bao giờ, nên khi thấy chiếc bè tiến lại gần, chúng cứ ngây ra nhìn mà chẳng chút sợ hãi hay định bay đi.
Khi mặt trời đã ngả bóng, chúng tôi mới thấy được bờ bên kia. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Đột ngột, Báo Tử ngồi ở đầu bè cúi thấp người xuống, thầm thì:
• Mau nằm xuống! Mau nằm xuống!
Tôi cũng vội vàng phủ phục trên bè, hỏi dồn:
• Chuyện gì thế?
Báo Tử đáp:
• Bên bờ có thuyền gỗ, trên thuyền có bọn quỷ Nhật.
Tôi kinh ngạc nhìn về phía trước, quả nhiên thấy mấy con thuyền gỗ neo đậu, trên một chiếc thuyền có hai gã quân phục vàng ngồi đối diện nhau. Sao quân Nhật lại xuất hiện ở đây? Chưa kịp hỏi, Báo Tử đã ra lệnh:
• Chèo khẽ thôi, lách vào bụi lau sậy kia.
Chúng tôi nằm rạp trên bè, dùng lòng bàn tay khỏa nước thận trọng, từ từ tiếp cận vạt lau sậy gần đó. Hai gã người Nhật không hề phát hiện ra, chúng vẫn cười nói hỉ hả, tiếng vang xa trên mặt hồ. Có lẽ vì buồn chán, hai gã đặt súng xuống thuyền rồi bước lên bờ, sục sạo trong lùm cỏ tìm trứng chim.
Báo Tử nhận định:
• Lũ này chắc chắn là đi đánh rừng hồng liễu, để lại hai đứa giữ thuyền. Chúng ta phải tìm cách, không để âm mưu của chúng thành hiện thực.
Hành khất trắng nhìn hành khất đen:
• Chúng ta đều biết bơi, lặn qua kia cuỗm súng của chúng.
Gã tiêu sư gạt đi:
• Lấy súng về cũng có biết dùng đâu, hay là ném phéng xuống nước cho rảnh.
Tôi nói chen vào:
• Tôi biết bắn, tôi từng đi lính mà.
Báo Tử bàn:
• Đám Nhật này đang đánh hồng liễu, dù thắng hay thua rồi chúng cũng sẽ quay lại đây để lấy thuyền về. Chúng ta phải làm gì đó với mấy con thuyền này.
Hành khất trắng dứt khoát:
• Đơn giản thôi. Khử hai đứa kia rồi chất củi đốt thuyền.
Đôi hành khất đen trắng hít một hơi thật sâu rồi lặn ngụp xuống hồ, hướng về phía thuyền gỗ. Qua làn nước trong, tôi thấy ống quần rộng thùng thình của họ dập dềnh như đám thủy thảo.
Khi họ tiếp cận mạn thuyền, hai tên Nhật trên bờ vẫn đang mải mê đuổi theo một con chim non, tiếng la hét cười cợt khàn đặc của chúng vang vọng giữa lau sậy. Đôi hành khất mình mẩy ướt sũng thoắt cái đã leo lên thuyền, vơ lấy hai cây súng trường. Tôi cùng Báo Tử và tiêu sư ra sức chèo bè áp sát.
Tiếng nước khua động làm kinh động hai gã Nhật đang hớn hở. Chúng quay đầu lại, thấy đông người thì mặt cắt không còn giọt máu. Chúng tôi cập bờ, đặt chân lên nền đất cứng. Hai tên Nhật đứng tựa lưng vào nhau, giang tay gầm gừ đầy hung tợn, ra bộ muốn tử chiến đến cùng.
Báo Tử cười nhạt bước tới. Lão từng giao thủ với quân Nhật nên biết rõ thế thủ này là đòn đấu vật của chúng. Chỉ cần phòng bị không để chúng chộp được cánh tay là nắm chắc phần thắng. Hành khất đen thấy Báo Tử xông lên cũng bước dồn mấy bước, bảo:
• Chia đôi, mỗi người một đứa, anh đừng có mà tham.
Báo Tử cười đáp:
• Mấy nay tôi vừa nghĩ ra mấy chiêu phá thế vật của bọn này, định đem ra diễn tập chút.
Hành khất đen gạt đi:
• Không được, cứ mỗi người một tên, anh không được độc chiếm.
Hai gã Nhật ban đầu còn dè chừng, thấy chúng tôi dừng bước rồi Báo Tử với gã đen cứ cãi cọ không thôi, chắc tưởng chúng tôi sợ hãi nên hò hét lao tới. Một tên vươn tay định chộp vai Báo Tử, liền bị lão thấp người xuống, xoay tay bẻ quặt cổ tay gã. Báo Tử thuận thế ngã người, đạp mạnh bàn chân vào bụng đối phương. Tên Nhật như cưỡi mây đạp gió, bị hất văng ra xa mấy trượng. Chiêu này gọi là "Thỏ đá chim ưng", vốn là đòn quen thuộc trong võ thuật. Muốn phá võ Nhật, chẳng cần chiêu thức cao siêu, chỉ cần đúng bệnh bốc thuốc là thắng dễ như chơi.
Tên còn lại lao về phía hành khất đen. Gã này vốn thạo vật Mông Cổ nên hai bên quần thảo kịch liệt. Hành khất trắng chẳng nói chẳng rằng lẳng lặng bước tới, vung tay chém mạnh vào gáy tên Nhật. Hắn đổ rụp xuống không kịp ngáp. Hành khất trắng chép miệng:
• Vật vã với nó làm gì, cứ dùng Amô-tương-tường quyền, một chiêu là xong đời.
Amô-tương-tường quyền là công phu thượng thặng của Cái Bang, chiêu nào cũng nhắm vào tử huyệt đối phương. Nếu lão không nhắc, tôi suýt thì quên mất.
Sau khi khử xong hai tên Nhật, chúng tôi ném xác xuống hồ. Đoạn chất củi lên thuyền gỗ rồi châm lửa. Lửa tàn cũng là lúc thuyền tiêu.
Chúng tôi tiếp tục hướng về rừng hồng liễu. Vượt qua một con dốc, trước mắt hiện ra bãi sa thạch toàn sỏi và đá, viên to như nắm đấm, viên nhỏ như hạt hạnh nhân. Cơn gió khô hanh thổi tới, mang theo mùi máu tanh tao phảng phất.
Báo Tử liếm ướt ngón tay út rồi giơ cao lên. Hạ tay xuống, lão khẳng định:
• Gió thổi từ phía Đông.
Trên bãi sa thạch không cây không cỏ, muốn định hướng gió thì giới lão giang hồ thường dùng cách này.
Đi đến lúc sập tối, cuối cùng cũng băng qua bãi đá để vào vùng bụi rậm. Mặt trời đỏ rực như chiếc bánh xe khổng lồ nghiền nát đường chân trời phía Tây, để lại một màu đỏ máu rợn người. Một trận huyết chiến chắc hẳn đang diễn ra trên đồng cỏ.
Chúng tôi luồn lách giữa bụi rậm, cành lá chằng chịt cản bước, phải dùng tay vạch lối mới đi tiếp được. Trăng lên, ánh bạc xuyên qua tán lá, rắc những vệt sáng li ti xuống đất.
Đi được vài trăm mét, Báo Tử đi cuối cùng bỗng khẽ gọi:
• Dừng lại, dừng lại ngay.
Chúng tôi ngơ ngác nhìn lão, tôi hỏi:
• Có chuyện gì vậy?
Báo Tử hạ giọng:
• Có kẻ bám đuôi.
Gã tiêu sư lập tức nằm phủ phục xuống đất, dùng tay bới một cái hố nhỏ rồi áp tai vào, vẻ mặt đầy nghiêm trọng. Thấy vậy, tôi cũng vội làm theo. Giang hồ gọi đây là thuật "Phục địa thính thanh" (Nằm đất nghe tiếng). Đất mẹ bao la như một mặt trống căng cứng, tiếng bước chân cách đó vài dặm cũng có thể gây ra rung động. Khoa học giải thích rằng "hư không có thể nạp thanh".
Tôi từng nghe Sư tổ kể chuyện cũ, rằng ngày xưa vây thành lâu ngày không hạ được, người ta thường đào địa đạo để tập kích. Người trong thành cứ cách một hai trăm mét dọc chân tường lại đào một cái hố, đặt cái chum lớn bịt da trâu. Nếu có kẻ đào hầm gần đó, mặt da sẽ rung lên bần bật. Khi ấy, họ chỉ cần đào một giếng đứng chứa đầy nước. Kẻ địch đào thông hầm gặp ngay giếng nước, nước sẽ tràn vào dìm chết sạch. Nếu thành có sông chạy qua, giếng nước nối với sông thì nước còn tràn ngược vào doanh trại địch.
Tôi áp tai hồi lâu mà chẳng nghe thấy gì, ngẩng đầu nhìn Báo Tử. Lão ra hiệu im lặng, bước lên vài bước, cố ý rung lắc cành cây tạo ra tiếng sột soạt. Khi lão dừng bước, phía sau quả nhiên vọng lại tiếng bước chân cực nhẹ.
Thực sự có kẻ theo dõi!
Báo Tử ra hiệu cho tôi và tiêu sư cứ tiếp tục đi, cố ý gây ra tiếng động lớn, còn lão và đôi hành khất đen trắng thì nấp vào bụi rậm.
Tôi vừa đi vừa rung cây, nện bước thật mạnh, thỉnh thoảng lại đá vào thân cây để kẻ địch không đoán được có mấy người đang đi. Tôi còn cố ý bẻ cành cây, tiếng gãy răng rắc vang lên lảnh lót giữa đêm trăng tĩnh mịch.
Đi được vài chục trượng, phía sau bỗng vang lên tiếng chửi bới và tiếng đánh đấm huỳnh huỵch. Cuộc chiến kết thúc rất nhanh, rồi nghe tiếng Báo Tử quát lớn:
• Ăn đồ cúng, theo đường nào? (Kẻ nào đấy, thuộc phe nào?)
Tôi và tiêu sư vội chạy ngược lại xem kẻ bám đuôi là ai. Đến nơi thì thấy Báo Tử đã buông tay, kẻ kia đang xoa cổ, cười hì hì, hàm răng trắng nhởn dưới ánh trăng.
Hắn là "bài cầm" (anh em) trong giới. Bài cầm là tiếng lóng giang hồ, "thượng bài cầm" là anh, "hạ bài cầm" là em.
Báo Tử hỏi:
• Sao chú lại ở đây?
Gã kia cũng tò mò:
• Thế các anh sao lại ở đây?
Tôi và tiêu sư bước tới, gã nhìn tiêu sư rồi nhìn tôi, bỗng chỉ tay hỏi:
• Vị huynh đệ này sao cũng ở đây? Anh quen Báo Tử thúc à? Quen nhau thế nào?
Tôi nhìn kỹ gã, thấy lạ hoắc nên lắc đầu. Gã cười bảo:
• Anh quên tôi chứ tôi chẳng quên anh được, anh là ân nhân cứu mạng của tôi đấy.
Tôi càng hoang mang. Những năm qua tôi phiêu dạt như chó lạc nhà, thân mình lo chẳng xong, cứu được ai bao giờ mà thành ân nhân?
Gã không nói với tôi nữa mà quay sang Báo Tử:
• Em nhận ra anh rồi, chắc anh không nhớ em đâu, em từng gặp anh chỗ Sư tổ. Em hay chạy trinh sát bên ngoài nên ít khi về cạnh lão.
Báo Tử gật gù:
• Nãy chưa nhìn kỹ, giờ thì nhớ ra rồi. Sư tổ từng khen chú lanh lợi, giao việc gì cũng xong.
Gã hớn hở:
• Thật à? Sư tổ khen em thế cơ ạ?
Báo Tử cười:
• Chứ lại đùa chú à. Chú tên Đạn Lưu phải không?
Gã cười tít mắt:
• Đúng rồi, chính là em, Đạn Lưu đây.
Người phương Bắc gọi những viên bi thủy tinh tròn là "Đạn Lưu", chỉ cần một chút độ dốc là nó lăn tít đi xa. Đây hẳn là biệt danh của gã, ngụ ý nhanh nhẹn, khôn ngoan. Dân giang hồ thường gọi nhau bằng biệt danh hơn là tên thật.
Đạn Lưu lại quay sang tôi, ánh trăng chiếu rọi khuôn mặt gã trông cực kỳ quái dị mà lanh lợi. Gã bảo:
• Anh là Ngai Cẩu đúng không? Chắc anh quên rồi, đêm đó trên thảo nguyên, trong ngôi miếu nát, tôi nằm trong quan tài để trốn sự truy sát... À, anh nhớ ra rồi chứ!
Đầu óc tôi bỗng lóe lên một tia sáng. Đêm trăng ấy, miếu Thổ Địa, Ô Đằng Tề Cách, vết bớt... Mọi ẩn số đêm đó bỗng chốc được giải mã. Xác chết nằm trong quan tài hóa ra là người sống giả dạng, chính là Đạn Lưu đây. Vì trốn tránh sự truy đuổi của gã "Giọng kim loại" và "Giọng gà chọi" mà gã phải chui vào đó. Nào ngờ oan gia ngõ hẹp, hai gã kia cũng vào miếu. Sau đó, đám người cao người lùn đến tiếp ứng Đạn Lưu chạm trán hai gã kia, bị chúng bắn chết. Đạn Lưu bị thương nên không kịp đưa xác chết trở lại quan tài mà phải tháo chạy trong hoảng loạn.
Bao ngày qua tôi vẫn trăn trở về chuyện ở miếu Thổ Địa, giờ thì đã rõ mười mươi.
Báo Tử hỏi Đạn Lưu:
• Chú ở đây làm gì?
Đạn Lưu cười bí hiểm:
• Em định về tìm Sư tổ. Em vừa khử xong quân thù, lại còn vớ được món bảo bối.
Báo Tử gặng hỏi:
• Khử đứa nào? Bảo bối gì?
Đạn Lưu móc túi lấy ra một vật bọc trong vải, vừa mở ra, một luồng sáng chói mắt khiến tôi nhức nhối. Thứ bảo bối rực rỡ dưới ánh trăng ấy chính là viên đại toản thạch lớn mà tôi đã đánh mất bấy lâu.
Tôi sững sờ không thốt nên lời, lắp bắp:
• Sao... sao chú lại có nó?
Đạn Lưu cũng ngạc nhiên không kém:
• Sao Ngai Cẩu lại biết lai lịch thứ này?
Nước mắt tôi đột nhiên trào ra, nghẹn ngào:
• Thứ này đã làm hại bang Tấn Bắc của chúng tôi thê thảm lắm.
Đạn Lưu kể:
• Em đoạt lại từ tay Tam Quái và Á Chạ Quải đấy, em xử luôn cả hai đứa chúng nó rồi.
À, tôi nhớ ra rồi, gã "Giọng kim loại" là Tam Quái, còn "Giọng gà chọi" là Á Chạ Quải. Chúng đã đền mạng dưới tay Đạn Lưu, gã đã thay tôi trả món nợ máu này.
Thế nhưng, đại toản thạch đã về, còn Tam sư thúc và Yến Tử đang ở phương nào?
Tôi sốt sắng hỏi Đạn Lưu có thấy họ không. Gã đáp:
• Tam sư thúc thì em biết, còn Yến Tử là ai? Họ đi đâu?
Tôi kể lại chuyện họ theo dấu Tam Quái và Á Chạ Quải để đoạt lại viên đại toản thạch. Đạn Lưu trầm ngâm:
• Em chẳng thấy ai cả. Em biết tính Tam sư thúc, nếu lão theo dấu em thì chắc chắn phải đuổi kịp rồi. Đằng này lại không... Lạ thật. Em hạ sát hai đứa kia ở Cổ Lỗ Kỳ rồi lấy đại toản thạch. Suốt dọc đường từ đó về Cách Nhật Lặc, em cứ cảm giác có người bám đuôi. Lúc đó em sợ xanh mặt, chỉ biết cắm đầu chạy, cứ tưởng đó là đồng bọn của Tam Quái. Ngựa chạy đến hụt hơi chết lăn ra đất, em đành chạy bộ. Để cắt đuôi, em bỏ đại lộ đi đường tắt. Đến Cách Nhật Lặc mệt quá không chịu nổi, em ngủ lăn ra bên đống ngao bao ngoài lều vải. Lúc ấy em nghĩ thôi kệ, dù có chuyện gì cũng phải ngủ một giấc đã, chết cũng phải làm con ma no giấc. Ngủ một mạch đến sáng, thấy chẳng có chuyện gì xảy ra, em mới nghĩ chắc mình thần hồn nát thần tính. Thế là em cứ thế đi về hướng Bắc, đến bãi đá thấy dấu chân các anh hướng về rừng hồng liễu. Đó là sào huyệt của chúng ta, người ngoài không ai biết nên em sợ có kẻ bất lợi cho Sư tổ mới lén bám theo, ai dè lại gặp mọi người.
Đạn Lưu nói một tràng dài, mệt đến đứt hơi.
Cổ Lỗ Kỳ chính là nơi Tam sư thúc thi triển pháp thuật khiến Tam Quái và Á Chạ Quải hồn siêu phách lạc, cũng là nơi Đạn Lưu bắn chết chúng đoạt bảo bối. Còn Cách Nhật Lặc là nơi vị Vương gia luyện ưng và cũng là nơi Tam sư thúc cất cao điệu hát trường điệu.
Từ Cách Nhật Lặc đến đây chẳng mấy ngày đường, với sự tinh khôn của Tam sư thúc và Yến Tử, chỉ cần theo dấu là đuổi kịp ngay. Dù trong lòng vẫn đầy lo lắng, nhưng tôi tin rằng chúng ta sẽ sớm gặp lại họ thôi.