Tổ Bịp

  • 5155 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 55. Khách buôn lạc đà và cỏ Cơ Cơ
Màn đêm buông xuống, chúng tôi chèo bè gỗ vượt hồ.
Bọn quỷ Nhật men theo bờ hồ đi về phía Tây. Mất đi thuyền gỗ, chúng buộc phải tìm cầu để sang bờ. Trên thảo nguyên, cầu cống vốn cực kỳ hiếm hoi và thô sơ, chủ yếu chỉ phục vụ việc chuyển bãi. Chuyển bãi là khi người ta lùa đàn cừu đi tìm đồng cỏ mới, thường diễn ra mỗi năm hai lần vào mùa hạ và mùa đông. Những cây cầu dành cho đàn cừu đi qua thực chất chỉ là cầu độc mộc.
Sau khi vượt hồ, lợi dụng bóng đêm che khuất, chúng tôi lẳng lặng bám đuổi về hướng Tây.
Đây là lần thứ hai tôi bước chân vào vùng sa địa mênh mông vô tận này. Báo Tử đã theo sư tổ sống ở đây rất lâu, còn hai gã ăn xin đen trắng cũng từng nhiều lần băng qua nơi này. Báo Tử nắm rõ như lòng bàn tay chỗ nào sư tổ đặt cơ quan, chỗ nào có thể thông hành.
Men theo bờ hồ về phía Tây chỉ có một con đường mòn ngoằn ngoèo. Có những đoạn là đầm lầy không thể bước qua, bắt buộc phải đi vòng; lại có những chỗ bụi rậm và gai táo mọc dày đặc, cũng chẳng thể lọt người. Bọn quỷ Nhật không biết điều đó, nhưng chúng tôi thì rõ.
Ngay khi bọn quỷ Nhật còn đang dè dặt đưa đôi chân quấn xà cạp dẫm thử vào đầm lầy, chúng tôi đã đi một vòng lớn, vượt lên phía trước để chặn đầu.
Quỷ Nhật đông người hơn chúng tôi, nhưng đó chẳng phải ưu thế; chúng có súng trong tay, đó cũng không phải điểm mạnh. Muốn sinh tồn giữa môi trường tự nhiên khắc nghiệt này, ưu thế lớn nhất chính là sự am tường về địa lý.
Tôi nhớ rất rõ lúc bấy giờ, chúng tôi chặt lau sậy, ngậm vào miệng rồi đào hố nằm xuống, chỉ để lộ ống sậy lên mặt đất. Chẳng bao lâu sau, gió cát sẽ xóa sạch mọi dấu vết. Vị trí chúng tôi chọn nằm ngay sát con đường mà bọn quỷ Nhật bắt buộc phải đi qua. Đã nhiều ngày lạc lối giữa sa địa, lại vừa trải qua một trận ác chiến, bọn quỷ Nhật đều đã mệt mỏi rã rời, đội hình hành quân đứt đoạn, kẻ nhanh người chậm. Chúng tôi chỉ nhắm vào kẻ đi sau cùng mà ra tay.
Đến khi bọn quỷ Nhật dừng lại nghỉ ngơi, kiểm điểm quân số mới phát hiện thiếu người, lúc đó chúng mới bàng hoàng nhận ra có kẻ đang bám gót phía sau. Kể từ đó, chúng không dám tách lẻ nữa mà tụ lại thành cụm, từng bước một tiến đi chậm chạp.
Đi về hướng Tây mấy chục dặm có một cánh rừng, nơi đó có cạm bẫy do sư tổ bố trí. Những thanh gỗ vót nhọn buộc thành hình răng bừa, treo lơ lửng trên ngọn cây. Răng bừa nối với sợi dây mảnh giấu trong cỏ, chỉ cần bọn quỷ Nhật chạm đứt sợi dây mỏng như sợi tóc ấy, những chiếc răng bừa sẽ từ trên đầu giáng xuống, đâm xuyên cơ thể. Răng bừa vốn là một loại nông cụ, cùng với cày, bừa, trục, lồng, rập hay lưỡi diệp, đều là những vật dụng to lớn chốn đồng quê, mà giờ đây gần như đã biến mất khỏi các thôn làng.
Suốt quãng đường ấy, bọn quỷ Nhật hoang mang lo sợ, chẳng khác nào lũ chuột nhắt chạy giữa chợ phiên.
Vất vả lắm chúng mới tìm được cây cầu độc mộc dùng để chuyển bãi, nhưng cây cầu đã bị chúng tôi bí mật đục rỗng phần dưới. Khi bọn quỷ Nhật đi ra giữa cầu, thân gỗ gãy đôi, cả đám rơi tòm xuống nước.
Nấp trong bụi rậm, chúng tôi nhìn thấy những tên quỷ Nhật còn lại bị dòng nước cuốn đi xa, chỉ duy nhất một kẻ bò được lên bờ đối diện.
Hắn khập khiễng rời đi. Đó là Lão Đồng. Tên đặc vụ Nhật này không hề đơn giản, hắn biết bơi. Phàm là những kẻ sang Trung Quốc làm đặc vụ năm đó, tên quỷ Nhật nào cũng dắt lưng vài ba bản lĩnh.
Ngăn cách bởi mặt hồ, chúng tôi chỉ có thể đứng nhìn Lão Đồng như một con vịt què, lặc lìa thoát thân. Chúng tôi quyết định sẽ tìm hắn sau. Việc tìm kiếm Lão Đồng không khó, nơi nào có quân Nhật đồn trú, nơi nào có một tên đầu mục quỷ Nhật bị thọt, kẻ đó chắc chắn là Lão Đồng.
Chúng tôi men theo bờ hồ, tìm thấy chiếc thuyền gỗ giấu trong đám sậy, chèo thuyền sang hồ rồi hướng về phía Cách Nhật Lặc. Đạn Lưu từng nói, trên đường từ Cổ Lỗ Kỳ đến Cách Nhật Lặc, gã luôn cảm thấy có người đuổi theo, nhưng qua khỏi Cách Nhật Lặc thì không thấy ai bám đuôi nữa.
Cổ Lỗ Kỳ, Cách Nhật Lặc, kẻ bám theo nhất định là Tam sư thúc và Yến Tử. Bởi Đạn Lưu đã cướp đi viên đại kim cương, nên hai người họ mới phải truy tìm.
Chúng tôi cần tìm Tam sư thúc và Yến Tử.
Chúng tôi đã đến Cách Nhật Lặc.
Bên ngoài làng Cách Nhật Lặc có một gò đồi, trên đó có đàn cừu trắng muốt đang lặng lẽ gặm cỏ, nhìn từ xa tựa như những vì tinh tú điểm xuyết trên sườn núi. Người chăn cừu là một lão già mặc áo da cừu lộn ngược, trông lão chẳng khác nào một con cừu già đứng thẳng. Lão cầm chiếc roi chăn cừu dài ngoằng, hễ có con cừu nào không chịu tuân thủ quy tắc mà chạy xa, lão lại vung roi, ngọn roi tựa như con rắn lượn vòng, quất vào không trung tạo nên những tiếng nổ vang đanh gọn.
Lão già nói: "Chính hướng Tây làng Cách Nhật Lặc, cách đây hơn mười dặm có một ngọn núi nhỏ, trên đó có một bãi tha ma. Đó là nơi chôn cất của những người Quan Nội quanh vùng này sau khi nằm xuống. Bên cạnh bãi tha ma có một ngôi nhà, vốn là nơi ở của người trông mộ. Nhưng mấy năm nay, vì quân Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc, người Hán trên thảo nguyên thưa thớt dần, ngôi nhà đó cũng bỏ hoang. Mấy ngày trước, có hai nhóm người đánh nhau ở đó. Sau cùng, tất cả đều chạy về hướng Tây rồi."
Báo Tử hỏi: "Đó là hạng người nào?"
Lão già đáp: "Chẳng rõ, đánh nhau dữ dội thế, ai dám lại gần mà xem? Tôi chỉ thấy hình như có cả một người đàn bà."
Tim tôi thắt lại.
Khi chúng tôi đến bãi tha ma, dấu vết cuộc chiến đã sớm không còn. Đêm thảo nguyên lộng gió, gió cuốn theo cát, chỉ cần nửa canh giờ là mọi dấu vết trên mặt đất đều bị vùi lấp. Bãi tha ma có chừng vài trăm ngôi mộ, trên mỗi nấm mồ cỏ dại mọc um tùm, hoa dại nở rộ rực rỡ.
Lòng nặng trĩu, tôi thuận tay nhặt một hòn đá, ném vô định về phía một ngôi mộ. Một con thỏ hoang từ trong mộ phóng ra, sợ hãi chạy biến đi xa, thấy chúng tôi không đuổi theo, nó mới nghi hoặc dừng lại, ngoảnh đầu nhìn chăm chắm.
Hồi còn ở Đại Đồng, tôi từng theo sư tổ và dắt theo lũ chó săn của nhà Hổ Trảo đi đuổi thỏ. Chó săn nhà Hổ Trảo vừa gầy vừa cao, tứ chi dài lêu nghêu, chạy cực nhanh, loại này có tên riêng là "tế cẩu", nghe nói tục lệ dùng tế cẩu đuổi thỏ đã có từ thời Tần Hán. Tập tục này vẫn luôn thịnh hành ở vùng Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Tây.
Sư tổ từng truyền dạy vài mẹo đuổi thỏ: "Trường ngoạ sào, đoản ngoạ yêu, cao ngoạ đê, đê ngoạ cao". Nếu mảnh đất bằng phẳng này dài, thỏ sẽ đào hang ở cuối đất; nếu mảnh đất ngắn, thỏ sẽ đào hang ở chính giữa; nếu xung quanh là sườn núi cao, thỏ sẽ chọn nơi trũng thấp làm ổ; nếu xung quanh là triền dốc thấp, nhất định thỏ sẽ chọn nơi cao ráo mà trú ngụ. Thiên địch của thỏ rất nhiều, từ sói, cáo, đại bàng cho đến con người. Loài thỏ đã trải qua vô số đời thử thách sinh tồn mới đúc kết được những mẹo né tránh thiên địch ấy, rồi truyền lại đời đời cho đến tận hôm nay và mãi về sau.
Bất chợt nhớ về sư tổ, lòng tôi đau như dao cắt.
Bên cạnh bãi tha ma có một ngôi nhà xây bằng đá, vách nhà đổ nát xơ xác, một mặt tường đã sập hẳn. Gã ăn xin trắng bước vào trong, đột nhiên hét lớn: "Mọi người mau lại đây, cái gì thế này?"
Tôi vội vã chạy tới, thấy trên nền đất đầy bụi bặm có rất nhiều dấu chân hỗn loạn. Trong đó có dấu chân hình bầu dục của giày vải, và cả những dấu chân có hoa văn của giày da. Đặc biệt có một đôi dấu chân thon dài nhỏ nhắn, rõ ràng là của phụ nữ.
Thời đó, dù là người thảo nguyên hay người Quan Nội, rất hiếm ai đi giày da. Chỉ có bọn quỷ Nhật mới đi loại giày đó. Giày của quỷ Nhật làm bằng da lợn, đế giày khắc hoa văn. Bên cạnh xác của ngài cát thảo nguyên, tôi cũng từng thấy những dấu chân tương tự.
Trong ngôi nhà đá này chắc chắn đã xảy ra đánh giết, một bên là mấy tên người Nhật, bên kia có lẽ là Tam sư thúc và Yến Tử. Tam sư thúc và Yến Tử đơn thương độc mã, thế yếu không địch nổi đông người, cuối cùng đành thoát ra khỏi nhà đá, chạy về hướng Tây.
Sư tổ họ ở hướng Bắc, nơi có bụi rậm thảo nguyên, vậy mà Tam sư thúc và Yến Tử lại chạy về hướng Tây, tại sao? Một người thông minh tuyệt đỉnh như Tam sư thúc tuyệt đối không thể mất phương hướng khi tháo chạy, nhưng tại sao họ lại chọn hướng đó?
Hướng Tây, là một vùng Gobi khô cằn.
Phía xa có hai ngọn núi trông như bầu ngực thiếu nữ nằm phủ phục trên mặt đất. Tam sư thúc và Yến Tử chắc chắn sẽ băng qua khe hở giữa hai ngọn núi chứ không dại gì leo lên đỉnh cao.
Chúng tôi đến giữa hai ngọn núi, thấy một vùng trũng thấp mọc lưa thưa những đám cỏ dại khô vàng. Bên rìa vùng trũng có vật gì đó giống như rễ cây nhô lên, lại gần mới kinh hãi nhận ra đó là một cái xác bị vùi lấp một nửa.
Trên cổ cái xác cắm một mũi tên, kẻ có tiễn thuật tinh diệu nhường này chỉ có thể là Tam sư thúc. Cái xác mặc quần áo rách nát, rõ ràng là người của Cái Bang.
Gã ăn xin trắng lục tìm trên xác chết, xé toang y phục, lộ ra một dải vải trắng quấn quanh hạ bộ. Y nói: "Đây là người Nhật, các người nhìn cái khố này mà xem". Thời đó quần lót chưa phổ biến, người Trung Quốc thường không mặc, còn người Nhật lại hay dùng vải trắng để quấn khố.
Kẻ truy đuổi Tam sư thúc và Yến Tử quả nhiên có cả người Nhật.
Tuy nhiên, người Nhật sẽ không đời nào chỉ vùi lấp xác chết một nửa rồi vội vàng rời đi. Chắc chắn là sau khi chôn cất, gió lớn đã thổi bay lớp cát trên mặt đất, khiến cái xác lộ ra. Trên vùng Gobi này đầy rẫy diều hâu và sói dữ, cái xác vẫn còn nguyên vẹn chứng tỏ thời gian vùi lấp chưa lâu.
Phải mau chóng đuổi theo.
Trên mặt đất phía trước xuất hiện một mũi tên móc câu răng chó, rõ ràng là do bắn trượt Tam sư thúc mà rơi lại. Loại tiễn tộc này cực kỳ hiểm độc, chính tôi cũng từng nếm mùi mũi tên này của Cái Bang.
Kẻ truy kích gồm cả người của Cái Bang và người Nhật.
Băng qua hai ngọn núi hình bầu ngực, trước mắt là một sa mạc mênh mông không thấy bến bờ.
Ánh nắng chói chang khiến cát vàng lấp lánh, mỗi hạt cát tựa hồ một mảnh gương vỡ, khiến người ta hoa mắt chóng mặt. Bốn bề là sự tĩnh lặng đến rợn người, tĩnh lặng đến mức thời gian như thể đông cứng lại.
Sa mạc tựa như biển cả, dấn thân vào đó chẳng khác nào lênh đênh giữa đại dương. Bão biển có thể xé nát con người trong tích tắc, còn nắng sa mạc sẽ từ từ bốc hơi sự sống. Thế nhưng, vì Yến Tử, vì Tam sư thúc, tôi không chút do dự mà bước vào. Phía sau vang lên tiếng sột soạt của giày cọ vào cát, ngoảnh lại, tôi thấy Báo Tử và hai gã ăn xin cũng đã theo sát.
Chúng tôi kẻ trước người sau, lầm lũi cúi đầu tiến bước. Không một tiếng động, chỉ có khối màu vàng khổng lồ đập vào mắt, khiến đôi mắt sưng húp, đau rát. Chúng tôi như những con trâu già kéo xe lúa nặng nề, khó nhọc leo dốc, mỗi bước chân đều hy vọng sẽ gần hơn với sân phơi rợp bóng cây. Chúng tôi chỉ biết đi, đi trong hy vọng. Nếu dừng lại, chiếc xe lúa nặng nề ấy sẽ kéo sụp tất cả, không bao giờ gượng dậy nổi nữa.
Mồ hôi sớm đã thấm đẫm y phục, khiến lớp áo nặng như bộ thiết giáp. Tôi cởi cúc định cởi áo ra, nhưng gã ăn xin trắng đã ngăn lại.
Y bảo: "Cậu mà cởi áo ra, không quá nửa tuần trà, da thịt sẽ nứt toác vì nắng cho xem".
Nhưng nắng gắt như thiêu như đốt khiến tôi khó chịu khôn cùng, trong người như có hàng vạn ngọn lửa đang nhảy múa. Tôi dần tụt lại phía sau họ. Báo Tử gọi: "Ngai Cẩu, đừng rớt lại". Tôi đáp: "Không đâu".
Đi phía sau họ, tôi lén cởi áo ra, cảm thấy cơ thể nhẹ nhõm hẳn.
Thế nhưng chẳng bao lâu sau, da thịt đau rát như bị dao khía. Tôi xoa chỗ này thì chỗ kia lại đau, hệt như một gã thiếu niên gánh đôi thùng thủng, cứ lóng ngóng dùng lòng bàn tay bịt những lỗ thủng trên vách thùng một cách vô ích.
Khi hoàng hôn buông xuống, mặt trời lăn khỏi đường chân trời trắng xóa, tiết trời dịu lại và bóng tối nhanh chóng bao trùm. Vì lo sợ sẽ lạc đường trong đêm đen, chúng tôi đành dừng chân dưới chân một cồn cát.
Đêm đó, mãi đến nửa đêm tôi mới chợp mắt được. Làn da bị nắng thiêu đốt ban ngày giờ đây như mặt trống bị rạn, như mảnh đất khô cằn, mỗi tấc da đều đau đớn như bị xé toạc.
Tôi vừa thiếp đi thì đột nhiên bị Báo Tử lay tỉnh. Trong cơn mê màng, tôi ngỡ như có thiên binh vạn mã đang gào thét lướt qua, vô số móng ngựa nện sắt dẫm đạp điên cuồng lên màng nhĩ. Còn chưa kịp hiểu chuyện gì, Báo Tử đã túm lấy áo tôi quấn lên đầu, rồi ôm chặt lấy tôi nằm rạp xuống.
Vô số hạt cát như những lọn roi quất liên hồi vào lưng, tôi hiểu ra rồi, bão cát đã đến. Biển có bão tố, sa mạc có bão cát.
Chẳng biết qua bao lâu, trời đất dần trở lại yên bình. Chúng tôi rũ sạch cát trên người rồi đứng dậy, bấy giờ mới phát hiện nửa thân dưới đã bị vùi trong cát. Trên cao, vầng trăng tròn vành vạnh như một chiếc chậu rửa mặt mới tinh, những dải mây mảnh mai bên cạnh trăng tựa như dòng nước chảy.
Bão cát đã qua, chúng tôi gối đầu lên cồn cát, tiếp tục giấc ngủ.
Khi tỉnh dậy, trời đã sáng rõ. Cách đó vài chục mét, Báo Tử và hai gã ăn xin đang vây quanh, bàn bạc điều gì đó. Tôi bước tới, chợt thấy trên mặt đất giữa họ là một chiếc khăn trùm đầu màu sắc sặc sỡ. Trên khăn có thêu hình một con chim yến đang sải cánh tung bay bằng chỉ đen.
Đó là khăn của Yến Tử.
Bão cát có thể thổi chiếc khăn này đến đây, chứng tỏ Yến Tử đang ở gần đây, hoặc vừa đi ngang qua.
Gió phương Bắc bốn mùa đều có quy luật, mùa hạ gió Đông Nam, mùa đông gió Tây Bắc. Trận bão cát đêm qua thổi từ hướng Đông Nam tới, vậy Yến Tử nhất định đang ở hướng đó.
Hướng Đông Nam có gì? Tại sao họ lại chạy về hướng đó?
Chúng tôi tiếp tục gấp rút đuổi theo về phía Đông Nam.
Chuyến truy đuổi này vô cùng khẩn trương, túi nước mang theo đã cạn sạch, thịt bò khô cũng hết nhẵn. Đến trưa, chúng tôi vừa đói vừa khát, cổ họng khô cháy như bốc khói, ngay cả sức để cử động yết hầu cũng không còn. Tôi nhìn về phía xa, chẳng biết phía trước còn bao xa, cũng không biết phải đi bao lâu nữa. Trong miệng tôi toàn là cát vàng, giá mà đống cát này là bánh bao làm bằng bột mì thì tốt biết mấy. Đường chân trời phía xa chập chờn như một dòng sông đang chảy, tôi thầm nghĩ mình có thể hút cạn dòng sông đó chỉ trong một hơi.
Leo lên một cồn cát, chúng tôi không còn trụ vững được nữa, tất cả đều đổ gục xuống lớp cát nóng hổi. Đột nhiên, từ xa vọng lại tiếng chuông lạc đà, một đoàn lạc đà dài dằng dặc xuất hiện.
Đó là một đoàn khách buôn lạc đà, những người lấy lạc đà làm bạn, chuyên băng qua sa mạc.
Tôi đưa tay về phía đoàn người, định cất tiếng gọi nhưng không tài nào thốt lên lời. Tôi lăn lông lốc từ trên cồn cát xuống dưới. Khi chạm đến chân cồn cát, tôi không còn chút sức lực nào để bò dậy. Tôi dang rộng tứ chi, nằm bẹp trên mặt đất, phía dưới là lớp cát nóng như bàn là, cảm giác như mình sắp bị hun thành một làn khói xanh.
Hai người trong đoàn lạc đà chạy tới, họ cầm túi nước dốc vào miệng tôi. Tôi tựa như một mầm cây sắp chết héo bỗng nhận được những giọt mưa tưới mát, những phiến lá xoăn tít giãn ra, thân mình rũ xuống cũng đứng thẳng dậy.
Vài giọt nước đã kéo tôi trở về từ cửa tử.
Chúng tôi gia nhập đoàn khách buôn lạc đà, và tại đây, thật bất ngờ khi gặp được Tam sư thúc.
Tam sư thúc bị thương rất nặng, trên người vừa có vết tên bắn, vừa có vết đao chém. Lúc đó, y chỉ còn thoi thóp, nằm giữa bãi cát mênh mông chờ chết. Một đàn diều hâu đã lượn lờ trên không, chực chờ lao xuống rỉa xác, may thay đoàn khách buôn đi ngang qua, họ xua đuổi lũ chim dữ rồi cứu sống y.
Đoàn khách buôn này có vài chục con lạc đà, họ đi lại giữa Tửu Tuyền (Cam Túc) và Trương Gia Khẩu (Sát Cáp Nhĩ), vận chuyển da thú từ Trương Gia Khẩu sang Tửu Tuyền, và mang dược liệu từ Tửu Tuyền về Trương Gia Khẩu. Suốt quãng đường này, họ hầu như chỉ đi qua các vùng sa mạc: đầu tiên là sa mạc Badain Jaran, tiếp đến là sa mạc Ulan Buh, rồi men theo rìa núi Đại Thanh và vùng cát Hunshandake mới đến được Trương Gia Khẩu.
Tam sư thúc kể lại rằng, kẻ truy đuổi họ có mấy người, kẻ thì giả dạng Cái Bang, kẻ thì đóng vai lái buôn. Từ làng Cách Nhật Lặc, bọn chúng đã bắt đầu lộ diện. Yến Tử lẻn ra ngoài lều của chúng thám thính, nghe thấy bọn chúng là người do Lão Đồng phái đến để thám thính sư tổ, chúng cứ nhắc đi nhắc lại tên của Lão Đồng.
Tôi thốt lên: "Lại là Lão Đồng sao?"
Tam sư thúc hỏi: "Lão Đồng là kẻ nào?"
Tôi đáp: "Lão Đồng là một tên người Nhật, tên thật là Honda Jichiro, gã này cực kỳ xấu xa, trước kia là đặc vụ Nhật, giờ là đầu mục trong quân đội Nhật, hình như chuyên trách mảng trinh thám".
Tam sư thúc nói: "Bọn chúng muốn tìm sư tổ, chúng ta không thể dẫn chúng về đó được. Kẻ cướp viên đại kim cương đã chạy về hướng Bắc, nơi đó là sa địa, mấy trăm dặm không bóng người, kẻ không thạo địa hình sẽ mất mạng, mà gã đó lại chạy về đó chứng tỏ gã rất rành đường. Trong sa địa chỉ có lực lượng vũ trang của sư tổ, nên rất có khả năng kẻ cướp kim cương chính là người của sư tổ. Tôi và Yến Tử, cộng thêm cả gã cướp kim cương kia, e rằng đều không phải đối thủ của đám người này. Tôi và Yến Tử bàn bạc rồi quyết định không đi về hướng Bắc nữa mà chuyển hướng sang Tây, dẫn dụ bọn chúng vào sâu trong sa mạc".
Tôi lo lắng hỏi: "Yến Tử đâu rồi?"
Tam sư thúc thở dốc liên hồi, Báo Tử đỡ y dậy, vỗ nhẹ vào lưng y, khẽ khàng: "Sư thúc nói chậm thôi, nói chậm thôi".
Tam sư thúc tiếp tục: "Phía Tây làng Cách Nhật Lặc có một bãi tha ma hoang vắng, chúng tôi đi vào đó, cố ý để bọn chúng nhìn thấy. Quả nhiên chúng không đi về hướng Bắc nữa mà quay sang Tây bám theo. Bên cạnh bãi tha ma có một ngôi nhà đá, chúng tôi nhặt đá xung quanh xếp thành đống, tạo giả hiện trường như sắp có một trận cố thủ. Đám người kia đến trước nhà đá, không dám liều lĩnh tấn công. Tôi và Yến Tử thừa cơ đục một cái lỗ ở tường sau, chui ra rồi trốn vào bãi tha ma. Đi được một quãng xa, ngoảnh lại thấy bọn chúng đã xông vào nhà đá, tìm không thấy người nên điên tiết lại đuổi theo phía sau".
Tôi hỏi: "Sau đó thì sao?"
Tam sư thúc kể: "Chúng tôi từng bước dẫn dụ bọn chúng vào sa mạc. Bọn chúng cứ ngỡ sắp đuổi kịp đến nơi, nhưng rồi nhận ra đuổi mãi không tới. Tôi sống ở thảo nguyên nhiều năm nên thông thạo vùng này, Yến Tử từ nhỏ luyện võ nên thân thủ nhanh nhẹn. Đám người kia muốn bỏ cuộc nhưng lại không cam tâm vì đã theo đến tận đây, mà quay về cũng phải băng qua một quãng sa mạc dài. Hơn nữa, dấu chân của chúng bị cát vùi lấp, nếu quay lại rất dễ lạc đường, mà lạc trong sa mạc thì chỉ có con đường chết. Cứ thế, chúng tôi dẫn đường ở phía trước không xa không gần, chúng lầm lũi đuổi theo sau không rời, cho tới khi vào một thung lũng".
Báo Tử nói: "Chúng cháu thấy một xác người Nhật trong thung lũng đó".
Tam sư thúc nói: "Vào thung lũng rồi, tôi định bụng sẽ mai phục, xử lý mấy thằng chó đẻ này. Tôi bảo Yến Tử đi trước, lát nữa sẽ hội quân sau. Cách đó mấy chục dặm có một dòng sông ngầm, đến được bờ sông là coi như thoát nạn. Tôi biết bơi, dù Yến Tử không biết, tôi vẫn có thể cõng con bé qua sông. Tôi nấp vào một bụi cỏ Cơ Cơ bên sườn. Khi bọn chúng đi qua, hoàn toàn không ngờ trong bụi cỏ có người mai phục, chúng nghênh ngang bước đi, tôi nhắm thẳng tên sau cùng mà bắn, một tiễn xuyên tâm".
Cỏ Cơ Cơ, tôi biết loại này, đó là một giống thực vật mọc trên vùng đất mặn của sa mạc, cao và mảnh, mọc thành bụi rậm rạp, sức sống vô cùng mãnh liệt. Bạn cứ ngỡ nó đã chết khô, nhưng đào rễ lên vẫn thấy mềm mại, nó vẫn còn sống. Chỉ có vùng đất mặn sa mạc mới có loại cỏ này.
Tam sư thúc kể tiếp: "Tên đi sau cùng đổ gục xuống, những tên phía trước vẫn chưa hay biết. Tôi lại giương cung lắp tiễn, nhắm vào tên đi áp chót. Lẽ ra phát này đã đưa hắn về tây thiên, nhưng thật tình cờ vạn trạng, ngay khi tôi buông tên, tên này lại cúi xuống cởi giày để đổ cát ra ngoài. Hắn cúi người một cái, mũi tên bắn hụt, cắm phập xuống cát. Ngay sau đó, hắn rú lên như lợn bị chọc tiết, đám người phía trước mới giật mình quay lại, bấy giờ mới thấy xác đồng bọn nằm đó".
Tôi nghe mà lòng hồi hộp vô cùng, mồ hôi ướt đẫm cả lòng bàn tay.
Tam sư thúc nói: "Dù biết tôi nấp trong đám cỏ Cơ Cơ, nhưng chúng không dám manh động vì sợ người chết tiếp theo là mình. Qua kẽ cỏ, tôi thấy chúng nằm rạp cả xuống đất, nhìn ngó xung quanh, vẫn chưa xác định được vị trí chính xác của tôi. Cứ thế giằng co cho đến lúc trời tối. Trời tối rồi, tôi mới có cơ hội rút lui".
Yết hầu của Tam sư thúc rung lên, một gã khách buôn lạc đà trọc đầu đưa túi nước tới, y nhấp một ngụm nhỏ rồi kể tiếp: "Đêm đó trăng mờ, nhìn chẳng rõ ràng. Tôi bò chậm chạp trong bụi cỏ Cơ Cơ để dần rời xa bọn chúng. Khi thấy đã ngoài tầm mắt, tôi mới đứng dậy đi vài bước. Không ngờ chính vài bước chân này lại làm lộ hành tung. Ban ngày sa mạc nóng hừng hực, nhìn trơ trụi không một bóng vật, nhưng thực ra rất nhiều loài thú đều trốn trong hang, nơi đó rất mát vì nắng không chiếu tới. Đêm đến, chúng mới ra ngoài kiếm ăn. Vì chưa từng gặp người nên chúng chẳng biết sợ là gì. Đêm đó, trong bụi cỏ có mấy ổ chuột sa mạc. Tôi dẫm phải một ổ chuột, chúng kêu chí chóe rồi chạy tán loạn, tiếng kêu đã làm lộ tôi".
Báo Tử mím môi, trông gã cũng căng thẳng không kém.
Tam sư thúc nói: "Chuột vừa kêu, bọn chúng lập tức vây lại, bắn tên loạn xạ về phía tôi. Một mũi tên sượt qua gò má nhưng tôi không cảm thấy đau. Đám người đó hò hét đuổi tới, tôi tung chân chạy thục mạng, bỏ xa chúng một quãng. Chúng kiêng dè tiễn thuật của tôi nên không dám đuổi quá gắt. Chạy xuống cồn cát, tôi thấy bóng lưng chúng in trên nền trời đầy sao, một, hai, ba, bốn, tổng cộng bốn tên. Tôi nhẩm tính mình chỉ cần bốn mũi tên là đưa cả lũ về suối vàng. Thế nhưng khi tay phải quờ ra sau vai, tôi chết lặng, lúc bò trong bụi cỏ Cơ Cơ, tên đã rơi sạch lúc nào không hay. Lúc đó tôi hận quá, chỉ muốn vả vào mặt mình một cái. Bốn tên đó đuổi xuống, tôi không còn tên nên chỉ biết quay đầu chạy tiếp. Ngặt nỗi lúc này trăng lại ló ra khỏi mây, soi tỏ sa mạc như ban ngày, chúng nhìn rõ lưng tôi nên cứ thế nhắm bắn liên tục. Tôi không còn sức hoàn thủ. Sau đó, tôi chạy đến một vách đá, chúng cũng đuổi tới nơi. Vách đá sâu không thấy đáy, chỉ thấy gió rít vù vù từ dưới lên. Trong tay không có vũ khí, tôi đành dùng cung mà liều mạng với chúng. Nhưng một mình tôi không địch nổi bốn tên. Một đứa dùng đoản đao đâm trúng vai tôi, tôi ôm chặt lấy hắn rồi cả hai cùng lăn xuống vực, mất đi tri giác..."
Tam sư thúc nói một tràng dài, mệt đến hụt hơi. Tôi hỏi dồn: "Yến Tử đâu rồi?"
Tam sư thúc thở hắt ra một hơi dài, nói: "Không rõ, chúng tôi chạy mỗi người một ngả, Yến Tử chắc đã thoát rồi. Phía trước mấy chục dặm có dòng sông ngầm, biết đâu con bé đang ở đó uống nước cũng nên. Yến Tử thông minh lại dày dạn kinh nghiệm giang hồ, cháu cứ yên tâm".
Nghe Tam sư thúc nói vậy, tôi cũng nhẹ lòng đôi chút.
Gã khách buôn trọc đầu nói: "Đêm kia chúng tôi đóng quân dưới chân vách đá. Sáng ra định lên đường thì thấy hai người nằm đó. Một là Tam sư thúc, người kia là một tên Nhật. Tên Nhật đó bị dây cung siết đứt cổ, máu chảy đầm đìa, rõ là không cứu được nữa. Tam sư thúc vẫn còn thở, chúng tôi rắc kim thương dược lên vết thương, cho uống vài ngụm nước thì ông ấy tỉnh lại, rồi theo chúng tôi đến đây".
Tam sư thúc hỏi: "Tổng cộng có bốn tên người Nhật, chết một, còn ba. Ba tên kia đâu rồi?"
Gã khách buôn trọc đầu đáp: "Chúng tôi không thấy".
Sa mạc vẫn còn ba tên người Nhật, và chỉ có mình Yến Tử đơn độc, liệu cô ta có chạm trán chúng không? Tam sư thúc sống ở đây lâu nên biết phía trước có sông ngầm, còn đám đặc vụ Nhật kia đã bám trụ thảo nguyên bấy lâu, nhẽ nào chúng lại không biết? Nếu tất cả cùng tìm đến sông ngầm, liệu chúng có gặp Yến Tử hay không?
Tim tôi lại bắt đầu thắt chặt lại.

 

 

(Tổng: 5155 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0