Tổ Bịp

  • 7813 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 91. Hùng Tam ca khí phách
Tôi cùng Hà Vi Thiện lẳng lặng bám gót gã nọ từ phía xa, chứng kiến bóng gã khuất dần sau triền dốc. Tôi leo lên cây hồng bên đường quan sát, thấy gã đang áp tai xuống đất nghe ngóng. Xem bộ tịch này, hẳn là kẻ trong giới giang hồ. Có điều gã có phải người của Đại Bài hay không, tôi vẫn chưa dám quyết.
Sau khi nghe ngóng, thấy bốn bề êm ả, gã nọ mới lồm cồm bò dậy đi tiếp. Chúng tôi lại lẽo đẽo theo sau, thấy gã lẻn nhanh vào một ngôi làng.
Hà Vi Thiện toan xông thẳng vào làng, tôi vội giữ y lại:
"Trong làng chỗ nào cũng có thể ẩn nấp, ngộ nhỡ gã là kẻ địch, gã sẽ đánh úp chúng ta bất cứ lúc nào. Dân chạy giang hồ đều biết, đêm hôm thấy làng mạc chớ có khinh suất tiến vào; thấy góc tường khuất phải đi vòng một quãng xa. Địa hình trong làng phức tạp, góc tường dễ bị mai phục, giang hồ gọi đó là 'hiểm địa', gặp hiểm địa thì phải lánh đi. Nếu bắt buộc phải vào, trước tiên cần trinh sát, sau đó mới băng qua thật nhanh."
Xem ra, Hà Vi Thiện đúng là hạng 'thấp mãi' trong giới 'lão vinh', không chỉ ngón nghề kém cỏi mà kinh nghiệm giang hồ cũng rỗng tuếch. Hạng người này chỉ đủ sức làm chân chạy vặt, đạp điểm hay canh gió, việc thành rồi cũng chẳng được chia chác bao nhiêu.
Gã nọ chẳng mảy may do dự, bước thẳng vào làng. Điều đó chứng tỏ hoặc trong làng có đồng bọn, hoặc gã đã quá quen thuộc địa hình nơi đây.
Chúng tôi tiến đến đầu làng, thấy ngôi làng này xây trên một triền dốc, bên cao bên thấp. Gã lẻn vào làng tầm này chỉ có một mục đích duy nhất: trộm cắp. Hơn nữa, sau khi đắc thủ, gã chắc chắn sẽ xuôi theo triền dốc mà chạy về phía cổng làng ở địa thế thấp này. Chạy từ cao xuống thấp bao giờ cũng nhanh hơn, chứ chạy ngược lên dốc thì vừa mệt vừa dễ bị tóm.
Đầu làng có một ao nước, cạnh ao là bụi lau sậy rậm rạp. Tôi và Hà Vi Thiện liền chui tọt vào đó ẩn mình.
Tôi thì thầm:
"Gã này là người cùng nghề với chúng ta, chuyên 'táp hạn thanh' đấy."
Hà Vi Thiện ngơ ngác:
"Thế nào là 'táp hạn thanh'?"
"Chú không biết 'táp hạn thanh' sao? Thế có biết 'chạy đăng hoa' là gì không?"
Hà Vi Thiện lắc đầu lia lịa. Tôi có chút tự đắc, giảng giải:
"Táp hạn thanh là lợi dụng lúc sáng sớm chủ nhà vừa thức dậy mở cửa để lẻn vào trộm. Còn chạy đăng hoa là lúc chập tối vừa lên đèn, cổng vườn chưa đóng mà lẻn vào hành sự. Kẻ dám chơi hai món này đều là hạng 'lão vinh' gan to bằng trời, ngón nghề cực đỉnh. Loại như chú thì nằm mơ cũng không làm nổi đâu."
Hà Vi Thiện không phục:
"Tôi là kẻ chuyên đạp điểm, công phu đạp điểm của tôi tinh vi lắm đấy."
Tôi cười khẩy:
"Tinh vi mà để người ta tóm sống à?"
Gã chống chế:
"Ngựa hay có lúc sẩy chân, anh hùng cũng có ngày ngủ gật chứ."
Nghe gã tự xưng anh hùng, tôi không nhịn được mà phì cười. Hà Vi Thiện này trình độ thì xoàng nhưng tự ái thì cao ngất.
Chúng tôi đợi chẳng bao lâu thì thấy kẻ 'táp hạn thanh' kia từ trong làng đi ra, trước ngực lồi lên một bọc lớn, chắc là giấu đồ bên trong. Hà Vi Thiện nhìn tôi bằng ánh mắt đầy sùng bái:
"Ngai Cẩu, chú khá thật đấy, đúng là lão vinh thứ thiệt, nhìn phát ra ngay. Chú đúng là 'Ngã Lai Dã' trong giới chúng ta rồi."
Tôi cảm thấy hổ thẹn:
"Tôi lăn lộn giang hồ cũng mười mấy năm, gọi là lão giang hồ cũng chẳng ngoa. Tam sư thúc còn là bậc tiền bối, tung hoành ngoài quan ải, lừng lẫy khắp Giang Bắc, vậy mà không ngờ lại ngã ngựa ở chốn này. Chú đừng có gọi tôi là 'Ngã Lai Dã' nữa, nghe nhột lắm."
Gã nọ hối hả đi tới sát bụi sậy. Tôi và Hà Vi Thiện nằm dán mình xuống đất, nín thở không dám động đậy vì sợ bị lộ hành tung. Chẳng dè gã nọ đột ngột cất tiếng:
"Hai đứa ăn bóng kia, lên đây đi, ta phát hiện ra chúng mày từ lâu rồi."
Chúng tôi ngượng nghịu bò ra khỏi bụi sậy. Trước mắt là một người đàn ông ngoài ba mươi, mắt sáng như sao, mũi thẳng miệng rộng, dáng vẻ cực kỳ khôi ngô.
Hà Vi Thiện kính cẩn hỏi:
"Thượng bài cầm, sao ngài biết chúng tôi nấp ở đây? Xin hỏi danh tính ngài là chi?"
Gã nọ đáp:
"Giang hồ đều gọi ta là Hùng ca, các chú cứ gọi thế là được."
Tôi lục lọi ký ức, chưa từng nghe qua cái tên này bao giờ. Hùng ca nói tiếp:
"Lúc đi ngang qua ngôi miếu đổ, các chú đã bắt đầu bám đuôi ta, trong miếu vẫn còn một người ở lại. Lúc ta qua triền dốc, các chú lại trèo lên cây dòm ngó. Ta vào làng, các chú nằm phục ngoài này chờ đợi. Ta biết các chú chỉ là hạng ăn bóng nên cứ mặc kệ mà vào làng làm việc, xong xuôi mới ra đây gặp mặt."
Hà Vi Thiện tò mò:
"Ngài vừa làm 'vụ' gì thế?"
Hùng ca thản nhiên:
"Trong làng có lão trọc phú định sáng sớm đi chợ mua ngựa, tiền nong nhét đầy trong túi vải. Ta đã chấm lão từ hai ngày trước, nay đúng phiên chợ, ta đoán lão sẽ đi sớm nên đến 'táp hạn thanh'. Nhân lúc lão đi đại tiện, ta đã cuỗm mất cái túi tiền rồi."
Hà Vi Thiện trầm trồ:
"Ngài đúng là hạng cao mãi, là 'Ngã Lai Dã' tái thế!"
Tôi nghe mà chỉ muốn bật cười, cái gã Hà Vi Thiện này vừa mới biết đến danh hiệu 'Ngã Lai Dã' là thấy ai cũng gán cho cái mác đó. Tôi im lặng, không quan tâm Hùng ca trộm được gì, điều tôi bận tâm là tại sao gã lại nắm rõ mọi hành tung của chúng tôi như lòng bàn tay.
Nghe lời khen của Hà Vi Thiện, Hùng ca xua tay:
"Ta chẳng phải Ngã Lai Dã. Trên đời này, kẻ xứng đáng với danh hiệu đó chỉ có hai người thôi."
"Là ai thế?"
Hùng ca nghiêm giọng:
"Đó là hai người huynh trưởng, cũng là hai người bạn của ta. Cả đời họ tung hoành ngang dọc, không đối thủ, hô phong hoán vũ, đó mới thật là bậc nam nhi bản sắc. So với họ, ta còn chẳng đáng là hạng thấp mãi."
Nhìn vẻ mặt nghiêm nghị của Hùng ca, tôi biết gã không hề nói đùa. Tôi tự phụ mình lăn lộn hơn mười năm cũng thuộc hạng có số má, vậy mà so với kẻ xuất quỷ nhập thần này vẫn còn kém xa. Gã đã lợi hại thế này, hai người huynh trưởng kia chắc chắn còn phi thường đến mức nào nữa. Giang hồ rộng lớn, quả là thiên ngoại hữu thiên.
Hùng ca chỉ tay vào tôi:
"Tiểu đệ này, cậu cùng gã gầy như que củi kia đến vùng này cũng nhiều ngày rồi, bị một con mụ lừa cho quay cuồng, có đúng không? Con mụ đó lừa mất con ngựa thuần chủng của các cậu, các cậu đuổi theo về hướng Đông mà không biết mình trúng kế điệu hổ ly sơn của người ta sao? Các cậu đi ăn chực đám cưới rồi bị móc túi. Đêm qua hai người lại trúng kế, bị treo lên mà đánh. Cũng may người lớn tuổi nhất trong nhóm có bản lĩnh, dùng chút tiểu xảo cứu các cậu ra, gã đó hẳn là cao thủ phái Giang Tướng. Cao thủ Giang Tướng vốn như cá gặp nước, đi đâu cũng thuận lợi, sao đến đây lại lâm vào cảnh túng quẫn thế này? Ấy là vì gặp phải cao thủ phái Lão Nguyệt rồi. Phái Giang Tướng giỏi trò giả thần giả quỷ, phái Lão Nguyệt lại thâm độc ở ngón lừa bịp. Lấy sở đoản chọi sở trường, hèn chi các cậu bị dắt mũi từng bước. Hơn nữa, con mụ phái Lão Nguyệt kia là thổ địa vùng này, tay chân rải khắp nơi, nhất cử nhất động của các cậu đều không lọt qua mắt mụ. Nhưng dẫu vậy, vị cao thủ Giang Tướng kia vẫn là bậc kiệt xuất hiếm thấy, chẳng hay danh tính gã là chi?"
Thấy Hùng ca khẩn khoản, tôi thành thật đáp:
"Y là Thám hoa lang của phái Giang Tướng."
Hùng ca giật mình kinh ngạc:
"Thám hoa lang phái Giang Tướng! Một thời phong quang đắc ý là thế. Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, danh tiếng lừng lẫy giang hồ, chẳng ngờ nay lại lâm cảnh rồng sa vũng cạn, ngựa lầy bùn sâu. Phen này ta nhất định phải ra tay giúp một phen mới được."
Tôi nghe mà mát lòng mát dạ, hóa ra Hùng ca cũng biết danh tiếng của Tam sư thúc.
Chúng tôi dẫn Hùng ca về phía lò gạch cũ. Tam sư thúc đang ngồi bệt dưới đất, cúi đầu trầm tư, dường như chỉ sau một đêm y đã già đi mười tuổi. Vị Thám hoa lang phong lưu thuở nào giờ trông chẳng khác gì một gã thư sinh thất thế.
Hùng ca chắp tay hành lễ:
"Vãn bối bái kiến Thám hoa lang."
Tam sư thúc chắp tay đáp lễ, mỉm cười lịch thiệp nhưng ánh mắt lộ vẻ lạ lẫm, rõ ràng y không quen biết người này.
Hùng ca vào thẳng vấn đề:
"Tôi biết Thám hoa lang đang phiền muộn chuyện gì. Chẳng phải là vì con mụ biệt danh Ngọc Diện Hồ Ly, chuyên nghề 'ngoạn phiêu khách xuyến tử' kia sao? Mấy ngày nay mụ ta cho người bám đuôi các vị, mà tôi lại lẳng lặng theo sau bọn chúng. Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ chực sẵn phía sau, bọn chúng đâu ngờ tôi chính là con chim sẻ đó."
Tam sư thúc lại chắp tay, kính cẩn hỏi:
"Chẳng hay huynh đệ xuất thân môn phái nào, xưng hô ra sao?"
Hùng ca đáp:
"Sư phụ tôi mất cả rồi, huynh đệ mỗi người một phương, cả năm khó lòng gặp mặt. Giang hồ gọi tôi là Hùng ca, hay Hùng Tam ca. Có điều chắc ông chưa nghe qua đâu, đời tôi phiêu bạt bất định, nơi nào thích thì ở lại vài hôm, không thích thì quay đầu đi thẳng."
Tam sư thúc im lặng. Quả thật y chưa từng nghe danh Hùng ca hay Hùng Tam ca.
Hùng ca khôi ngô, ăn nói lại duyên dáng, gã tự tin trò chuyện:
"Ba huynh đệ phái Giang Tướng: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa đều là nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố, toàn hạng nhân tài hiếm có. Tiếc thay trận hỏa hoạn năm xưa đã tiễn đưa Trạng nguyên và Bảng nhãn, chỉ còn Thám hoa lang thoát nạn. Phái Giang Tướng tung hoành thiên hạ, vậy mà vẫn không đấu lại lũ lưu manh quân phiệt. Giang hồ ai là đại ca? Lưu manh là đại ca! Vì sao ư? Vì lưu manh có súng, vì lưu manh không có giới hạn, chẳng màng quy củ giang hồ. Chúng nói láo không ngượng mồm, việc ác làm tận cùng, liêm sỉ vứt cho chó ăn, để tiếng nhơ muôn đời."
Tam sư thúc hỏi:
"Chuyện ba huynh đệ phái Giang Tướng, sao huynh đệ lại biết rõ thế?"
Hùng ca kể:
"Tôi phiêu dạt vùng Tây Vực suốt hai mươi năm, thân ngoài hồng trần nhưng tâm vẫn hướng về giang hồ. Chuyện ba huynh đệ phái Giang Tướng từ hai mươi năm trước đã vang danh thiên hạ, tôi ở Tây Vực cũng được nghe tới. Hồi tôi còn ở Tấn Bắc cũng có ba huynh đệ, nhưng chúng tôi không thuộc phái Giang Tướng mà là giới lão vinh. Sư phụ chúng tôi thuở ấy là một nhân vật lừng lẫy phương Bắc, nhưng lại nghiện rượu như mạng. Có lần vì say mướt không kịp trở tay, bị kẻ thù chặt đứt gân chân. Sau khi vết thương lành, người bỏ đi tái ngoại, lập ra Cái Bang, là bậc 'lam cán tử' trong bang."
Tôi nghe mà trợn tròn mắt. Những lời gã nói... chẳng phải là sư tổ sao? Chính là sư tổ của tôi! Nhưng người này tôi chưa từng gặp, cũng chẳng nghe ai nhắc tới, rốt cuộc gã là ai?
Tôi nhìn Tam sư thúc, thấy y vẫn bình thản như mặt hồ không gợn sóng, như thể đang nghe một câu chuyện tầm phào. Tam sư thúc vốn là chỗ thâm giao với băng Tấn Bắc, đi lại mật thiết với Hổ Trảo, Báo Tử. Nếu y biết danh tính người này, chắc chắn sẽ không có thái độ thản nhiên như vậy.
Tam sư thúc hờ hững hỏi:
"Đại ca băng Tấn Bắc tên gọi là chi?"
"Hổ Trảo chứ ai." Hùng ca quay sang nhìn tôi, nói tiếp: "Ta đã bảo rồi, thế gian này chỉ có hai kẻ xứng danh 'Ngã Lai Dã', một là đại sư huynh Hổ Trảo, hai là nhị sư huynh Báo Tử. Còn Hùng Tam ca ta đây, cùng lắm chỉ là hạng thấp mãi."
Lòng tôi đột ngột dậy sóng, mừng rỡ khôn xiết, nhưng thấy Tam sư thúc vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh, chỉ có đôi lông mày khẽ giật một cái.
Tam sư thúc lại hỏi:
"Con gái Hổ Trảo tên là gì?"
"Yến Tử. Thực ra Yến Tử không phải con đẻ mà là nghĩa nữ của huynh ấy. Lúc tôi rời Tấn Bắc, Yến Tử còn đang tập tành học nói, không ngờ lần sau gặp lại, con bé đã là một thiếu nữ tuyệt sắc."
Nghe nhắc đến Yến Tử, lòng tôi dâng lên niềm chua xót, nước mắt chực trào ra.
"Huynh đệ về Tấn Bắc năm nào?"
"Tôi xa rời Tấn Bắc hai mươi năm, chưa từng quay lại."
"Vậy huynh đệ gặp Yến Tử khi nào?"
"Nửa năm trước."
Đôi chân tôi bỗng mềm nhũn, ngã ngồi xuống đất. Nửa năm trước... Lúc đó tôi đang theo đoàn tiêu cục tiến về Tây Vực. Gã thực sự đã gặp Yến Tử? Yến Tử vẫn còn sống sao?
Tam sư thúc liếc nhìn tôi đầy vẻ không hài lòng, tôi biết y trách tôi kém bản lĩnh, không giữ nổi bình tĩnh. Y hỏi tiếp:
"Nửa năm trước, gặp ở đâu?"
"Tại Trương Gia Khẩu."
"Yến Tử đến Trương Gia Khẩu làm gì?"
"Con bé tìm đến Long Uy tiêu cục ở Trương Gia Khẩu."
Đúng là Yến Tử rồi! Chắc chắn là nàng! Nàng tìm đến tiêu cục là để nghe ngóng tin tức của tôi.
Tam sư thúc vẫn tỏ ra thản nhiên:
"Một mình nàng từ tái ngoại đến Trương Gia Khẩu, đường sá muôn trùng, núi cao vực thẳm, phận nữ nhi sao có thể đi nổi?"
Hùng ca đáp:
"Không, con bé không đi một mình, nó đi cùng nghĩa phụ Hổ Trảo."
Tam sư thúc đột ngột tung một cước đá văng mấy viên gạch trong lò, y xúc động chộp lấy cổ áo Hùng ca:
"Ông... nửa năm trước, ở Trương Gia Khẩu, thực sự đã thấy Hổ Trảo và Yến Tử?"
"Đúng là thật mà."
Tam sư thúc buông tay, bất ngờ ôm chầm lấy tôi mà cười ha hả. Tôi cũng ôm chặt lấy y, nước mắt tuôn rơi lã chã.
Chúng tôi vừa khóc vừa cười trong cái lò gạch cũ nát, khiến Hùng ca và Hà Vi Thiện nhìn với ánh mắt đầy kinh ngạc. Một lúc sau, Tam sư thúc quệt nước mắt, nói:
"Ta nhớ ra rồi, Tấn Bắc tam huynh đệ Hổ - Báo - Hùng, ông đứng hàng thứ ba, tên là Hùng Tâm. Hai mươi năm trước vì tranh cãi với đại ca mà thề không bao giờ trở lại Tấn Bắc, từ đó biệt tích ngoài quan ải, có đúng không?"
Hùng ca gật đầu:
"Thám hoa lang nói không sai. Thuở ấy tôi tuổi trẻ ngông cuồng, không chịu nổi sự quản thúc của Hổ Trảo nên mới bỏ đi trong lúc nóng giận, thấm thoát đã hai mươi năm. Giờ nghĩ lại, mấy chuyện cãi vã đó có đáng gì đâu? Huynh đệ trong nhà sao tránh khỏi xích mích."
Hóa ra là vậy, hèn gì tôi chưa từng nghe Hổ Trảo nhắc đến việc băng Tấn Bắc còn có một người em thứ ba là Hùng Tam ca. Té ra giữa các bậc tiền bối còn có khúc mắc này.
Hổ Trảo còn sống, thật tốt quá! Dù giang hồ đồn đại huynh ấy chết dưới làn súng đạn, nhưng tôi tin một kẻ đầy mình tuyệt kỹ như huynh ấy không dễ dàng bỏ mạng như vậy. Yến Tử cũng còn sống, không còn điều gì tuyệt vời hơn thế.
Nhưng... thở dài... tôi dẫn theo Lệ Mã về Trương Gia Khẩu, rồi sẽ ra sao đây?
Đang lúc trò chuyện, có một gã từ ngoài bước vào, đảo mắt nhìn khắp lượt rồi buông một câu: "Nhầm cửa rồi", rồi quay bước đi thẳng. Gã vừa đi khuất, Hà Vi Thiện đã run cầm cập, bảo đó là người của Đại Bài.
Hùng ca cười khẩy:
"Cái lũ Đại Bài ấy có gì ghê gớm, chẳng qua cũng chỉ là phường 'ngoạn phiêu khách xuyến tử' thôi. Nhà mụ ta tôi muốn ra thì ra, muốn vào thì vào. Mụ ngủ với bao nhiêu thằng đàn ông tôi còn nắm rõ như lòng bàn tay nữa là."
Tôi nói:
"Mấy ngày nay mụ ta cứ nhằm vào chúng tôi mà gây hấn."
Hùng ca khoát tay đầy khí phách:
"Đi, lên tửu lầu uống rượu, đợi con mụ đó dẫn xác tới tìm chúng ta."
Chúng tôi bước ra khỏi lò gạch, kẻ rình rập lúc nãy vẫn đang nấp sau gốc cây dòm ngó. Hùng ca chỉ thẳng tay, quát lớn:
"Mày! Lại đây!"
Kẻ đó bị lộ hành tung, đành lếch thếch bước ra. Hùng ca chỉ tận mặt gã, gằn giọng:
"Về bảo với con mụ chủ nhà mày, cứ nói có Thám hoa lang và Hùng Tam gia đang chờ ở tửu lầu."
Tên đó sợ mất mật, co giò chạy biến, chạy một quãng xa mới dám ngoái đầu nhìn lại.
Hà Vi Thiện run rẩy:
"Các ngài thực sự định đi gặp Đại Bài sao?"
"Chứ sao nữa?"
Gã mếu máo:
"Gan tôi bé lắm, chân tay nó cứ nhũn ra thế này..."
Hùng ca cười ha hả, vỗ vai gã:
"Cái lũ ô hợp của Đại Bài trong mắt ta chỉ như cỏ rác. Chú sợ thì cứ biến đi, về bảo với lão cao mãi nhà chú là tối nay ta sẽ đến thăm lão."
Hà Vi Thiện như mở cờ trong bụng, nhận được lệnh ân xá liền chuồn mất dạng.
Có Tam sư thúc ở đây, tôi chẳng sợ; có Hùng ca ở đây, tôi càng thêm vững dạ. Ba huynh đệ Hổ - Báo - Hùng của băng Tấn Bắc đều là hạng hảo hán thứ thiệt, võ công thâm hậu, mưu trí hơn người. Hôm nay, Ngai Cẩu tôi cũng liều cái thân này một phen, đi hội kiến mụ Đại Bài xem sao. Mụ ta có đông vây cánh thì đã sao, Hùng ca đã bảo không sợ thì tôi cũng chẳng việc gì phải run.
Hùng ca hiên ngang đi đầu, sải bước dõng dạc như một con gà trống kiêu hãnh. Chúng tôi theo sau gã, trông như một đàn gà diễu hành. Kỳ thực chỉ có ba người, nhưng khí thế bừng bừng khiến dân chúng trên phố ai nấy đều phải dừng chân đứng nhìn.
Chúng tôi bước lên một tửu lầu. Hùng ca cất giọng oang oang:
"Tiểu nhị, cho ba vò rượu ngon, thêm ba cân thịt bò!"
Người ta gọi rượu bằng lạng, Hùng ca gọi bằng vò. Một vò rượu bèo nhất cũng mười mấy cân.
Chủ quán bước ra, nghi ngại nhìn Hùng ca:
"Ba vò rượu, ba người uống sao hết được?"
Hùng ca tháo cái túi vải bên hông, đổ ra nửa bàn bạc trắng. Đó là số tiền gã vừa 'táp hạn thanh' của lão trọc phú lúc tảng sáng, chỗ này đủ mua cả trăm vò rượu ngon chứ đừng nói là ba vò. Gã quát lớn:
"Sợ ông đây không có tiền trả rượu chắc?"
Chủ quán thấy bạc trắng lóa mắt, mừng quýnh lên, hối hả chạy xuống lầu bê rượu. Ba vò rượu nhanh chóng được đưa lên, Hùng ca đặt rượu một bên, bạc xếp thành đống một bên.
Chuyện ba vị khách mang theo cả túi bạc đi uống rượu lan truyền khắp phố, người ta hiếu kỳ đổ xô vào tửu lầu, lấm lét đứng ngoài cầu thang mà nhìn. Hùng ca ôm vò rượu, rót đầy ba chiếc bát lớn bằng sành, rồi nâng bát lên nói với Tam sư thúc:
"Trạng nguyên lang dấn thân vào phái Giang Tướng, nhưng coi tiền bạc như phấn thổ, tung hoành giang hồ, đi mây về gió, ân oán phân minh, ta thích lắm. Uống!"
Tam sư thúc nâng bát, cạn sạch cùng gã.
Hùng ca lại rót đầy bát, nhìn tôi:
"Ngai Cẩu thân tại giang hồ nhưng tâm sáng như gương, lương thiện chân chất, yêu ghét rõ ràng, ta cũng thích. Uống!"
Tôi vội vàng nâng bát cạn chén cùng Hùng ca. Rượu này là rượu nếp của nhà nông, nồng độ không cao nhưng thơm nồng, hậu vị kéo dài, quả là rượu hảo hạng.
Hùng ca thấy rót từng bát phiền phức quá, liền hét lớn:
"Tiểu nhị, mang mười tám cái bát ra đây!"
Chủ quán lập cập mang mười tám chiếc bát sành ra, Hùng ca ghép ba chiếc bàn lại, xếp mười tám cái bát thành một hàng dài rồi rót đầy tràn. Đám đông đứng xem đồng thanh trầm trồ kinh ngạc. Hùng ca không chỉ hào sảng mà tửu lượng cũng thuộc hạng hải hà.
Đột nhiên, đám đông xôn xao, những người đứng ở cầu thang dạt ra hai bên. Năm sáu gã thanh niên bước lên lầu, nhìn chúng tôi bằng ánh mắt hung tợn, cố làm ra vẻ nghênh ngang, hợm hĩnh.
Người của Đại Bài đã tới, nhưng chúng tôi vẫn tảng lờ như không biết, tiếp tục cụm bát. Tiếng huyên náo dưới lầu lại nổi lên. Năm sáu gã đó ngồi bệt xuống cạnh cửa sổ, xếp thành một hàng, tay thõng xuống, chân choãi ra, nhìn chúng tôi với vẻ mặt đầy thách thức. Trong tay áo bọn chúng chắc chắn giấu sẵn gậy gộc hoặc dao búa.
Dưới lầu im bặt, tiếng bước chân thình thịch lại vang lên, thêm năm sáu gã nữa đi lên, bộ dạng cũng hợm hĩnh không kém. Cuối cùng là một thiếu niên khôi ngô, mặc vest đen, khuôn mặt lạnh lùng như sắt nguội. Tôi nhìn kỹ, chính là Đại Bài cải trang nam nhi. Nhóm này ngồi chắn ngay lối lên xuống cầu thang.
Hai nhóm này ngồi có tính toán cả, khóa chặt mọi lối thoát của chúng tôi. Nhưng hôm nay có Hùng ca và Tam sư thúc ở đây, tôi chẳng màng chuyện chạy trốn, dẫu có thịt nát xương tan cũng phải bảo vệ hai người họ.
Tam sư thúc thấy Đại Bài đến, y chẳng thèm biến sắc, chỉ khẽ kéo cái bọc đựng cung tên sát vào chân bàn. Hùng ca thấy đối phương tới lại càng phấn chấn, tiếng cười nói càng thêm sang sảng.
Gã bảo:
"Hai người anh em, giang hồ có hạng người 'âm dương', chẳng hay các chú đã nghe qua chưa?"
Tam sư thúc mỉm cười ẩn ý. Tôi biết Hùng ca đang mượn chuyện chửi người, liền phụ họa:
"Chưa nghe bao giờ, là hạng người gì thế?"
"Ai cũng do cha mẹ sinh ra, nhưng hạng âm dương này thì không phải."
"Vậy ai sinh ra chúng?"
Hùng ca cười khẩy:
"Hạng âm dương này nam không ra nam, nữ không ra nữ, người không ra người, ngợm không ra ngợm, lúc thì biến thành đàn ông, lúc lại hóa thành đàn bà, chuyên đi gây họa cho nhân gian. Có năm ta qua phủ Tây Ninh, ở đó cũng có hạng âm dương này, dân làng nghe danh ta biết trừ yêu nên mời tới. Đêm đó, ta bưng sẵn một chậu máu chó nấp sau cánh cửa ngôi miếu cổ, thấy bóng âm dương vừa tới là hắt thẳng vào đầu. Hạng này ngã lăn ra đất, hiện nguyên hình ngay lập tức. Các chú đoán xem nguyên hình nó là gì?"
Tôi quát lớn:
"Là gì thế?"
"Là chó! Hạng âm dương đều là lũ chó cả, mặc quần áo người vào rồi làm bộ làm tịch, thực chất vẫn là loài cầm thú. Không chỉ nó là chó, mà cả cha mẹ tổ tông nhà nó đều là giống khuyển, đời đời kiếp kiếp làm chó hết!"
Tam sư thúc cười ha hả, tôi cũng cười sằng sặc, liếc mắt thấy mặt Đại Bài hết xanh lại trắng, tức đến run người mà không dám phát tác.
Uống liền mười bát rượu, Hùng ca mồ hôi đầm đìa, mặt đỏ gay gắt, gã đứng dậy loạng choạng như sắp ngã. Tôi vội chạy lại đỡ, gã xua tay:
"Rượu mới nhấp môi, sao say được? Cứ đi hỏi khắp giang hồ xem Hùng Tam ca này đã bao giờ biết say chưa? Hôm nay ta vui vì gặp được hai người anh em tốt, phải uống cho đã đời mới thôi."
Hùng ca bảo không say nhưng bước chân lảo đảo khiến người ta lo lắng. Gã lảo đảo đi tới trước mặt Đại Bài, vờ như mới phát hiện ra đám người này, ngạc nhiên hỏi:
"Vị tiểu ca này, tiên cư ở đâu mà trông quen mặt thế nhỉ?"
Đại Bài hứ một tiếng đầy vẻ kiêu căng. Đám tay sai định xông lên nhưng mụ đưa tay ngăn lại. Hùng ca bất ngờ chộp lấy cái cà vạt vàng của Đại Bài khiến mụ không kịp trở tay. Gã chép miệng:
"Tiểu đệ đeo cà vạt vàng này không đẹp, phải đeo loại hoa hòe hoa sói mới hợp. Ta quen một mụ nọ trông rất giống tiểu đệ, nhưng mụ ta là hạng lẳng lơ, thay đàn ông còn nhanh hơn thay tất. Ta nấp trên xà nhà mụ cả nửa năm trời mà mụ chẳng hề hay biết. Trên giường mụ có cái gối hợp hoan, dưới đùi mụ lại có một nốt ruồi đen..."
Sắc mặt Đại Bài đại biến. Mụ đúng là hạng thay nhân tình như thay áo; chiếc giường chạm trổ kiểu Ninh Ba của mụ đúng là có chiếc gối ngọc khắc hình nam nữ quấn quýt; và ở đùi mụ đúng là có nốt ruồi đen bằng hạt đậu. Mụ cố lục lọi trong ký ức xem có gã nhân tình nào như thế này không, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Nếu không phải nhân tình, vậy gã này thực sự đã nấp trên xà nhà và nhìn thấy toàn bộ cơ thể trần trụi của mụ sao?
Nhân lúc Đại Bài còn đang bàng hoàng, Hùng ca đã quay ngoắt lại bàn rượu, nói lớn:
"Mụ lẳng lơ ấy cũng có chút tình cảm với ta, sau một đêm phong lưu còn tặng ta thanh đoản đao này. Các chú xem, chính là nó đây."
Hùng ca như làm xiếc, trong tay bỗng xuất hiện một thanh đoản đao tinh xảo có đính đá quý. Gã rút đao khỏi vỏ, ánh lạnh tỏa ra bốn phía, quả là đao tốt. Đại Bài mặt cắt không còn giọt máu, mụ thò tay xuống hông thì thấy chỗ giấu đao phòng thân đã trống rỗng tự bao giờ. Mụ không hiểu thanh đao chém sắt như bùn của mình sao lại rơi vào tay gã kia.
Đám tay sai thấy vẻ mặt của Đại Bài liền hiểu ra sự việc. Để lấy lòng mụ, bọn chúng đồng loạt đứng bật dậy, tiếng ghế đổ loảng xoảng. Chúng lăm lăm nhìn chúng tôi, chỉ chờ một lệnh của Đại Bài là sẽ nhào tới băm vầy.
Tam sư thúc cũng đứng dậy, tiếng gọi thất thanh:
"Tiểu nhị! Tiểu nhị đâu!"
Giọng y run rẩy như kẻ sợ chết, khiến ai nấy đều tưởng y đã mất mật. Chủ quán nghe tiếng gọi cũng chẳng dám ho he.
Tam sư thúc hét lớn:
"Tiểu nhị, rượu nhà ngươi có pha mông hãn dược!"
Y chộp lấy bát sành, đứng ra ngoài ban công hất mạnh lên không trung. Ngay lúc chiếc bát đang rơi xuống, Tam sư thúc rút cung lắp tiễn, động tác nhanh như chớp. Mũi tên xé gió, xuyên thẳng qua đáy bát, đánh tan chiếc bát thành từng mảnh vụn.
Mọi người chứng kiến ngón nghề này đều há hốc mồm kinh ngạc. Tam sư thúc tiếp tục gào lên:
"Rượu có thuốc mê, làm ta đầu óc quay cuồng, ngộ nhỡ lỡ tay bắn chết ai thì nhà ngươi phải đền mạng đấy!"
Y giương cung, bộ dạng lảo đảo, ánh mắt lờ đờ như bắn bừa bãi. Ba mũi tên vút đi, mũi nào cũng sượt qua đỉnh đầu mấy gã tay sai, cắt đứt một mảng tóc của chúng. Ba gã bị mất tóc đứng ngây người, hồn xiêu phách tán, chỉ cần mũi tên thấp xuống một phân thôi là mạng tụi nó đã đi đời rồi.
Đại Bài thấy vừa ra quân đã liên tiếp nếm mùi thất bại, nhưng cậy thế đông người, mụ vẫy tay ra lệnh cho đám còn lại xông lên băm vầy chúng tôi. Bọn chúng rút đoản đao, gậy sắt, định hùa vào đánh hội đồng.
Hùng ca vội can ngăn:
"Ấy chết, đừng, đừng! Đời ta sợ nhất là đánh nhau, mà cũng chẳng biết đánh đấm gì đâu. Các người đông thế này, ba chúng ta sao chống lại nổi... Ái chà, mấy ngày không tắm, chấy rận cắn ngứa quá."
Gã thò tay vào lưng gãi lấy gãi để, lúc rút tay ra đã thấy cầm một chiếc bình hít thuốc lá (tị yên hồ) bằng ngọc vô cùng tinh xảo, trên có khắc hình nữ nhân khỏa thân đầy đặn.
Hùng ca vẻ mặt ngây ngô:
"Quái lạ, chấy rận sao lại biến thành bình thuốc thế này?" Gã đưa lên mũi ngửi rồi hắt hơi một cái thật mạnh, quát: "Bình của ai đây, vừa dùng xong sao lại chạy vào lưng ta?"
Gã thiếu niên đứng cạnh Đại Bài sờ khắp người rồi kêu lên:
"Bình thuốc của tao đâu? Sao nó lại nằm trong tay mày?"
Hùng ca thản nhiên:
"Của chú à? Ta còn đang định hỏi chú đây. Của chú thì trả này."
Gã hất tay, chiếc bình bay lộn vòng về phía gã thiếu niên. Tên đó đón lấy, soi tới soi lui xác nhận đúng là đồ của mình, vẻ kinh ngạc trên mặt vẫn chưa dứt.
Hùng ca lại thò tay gãi lưng:
"Bao nhiêu người nhìn mà chấy rận cứ bò ra thế này, xấu hổ quá." Lúc rút tay ra, lần này lại là một bức ảnh. Gã giơ ảnh lên cho mọi người xem, hỏi: "Ai đây nhỉ, trông quen quen?"
Mọi người nhìn vào bức ảnh, ai nấy đều nhận ra. Đại Bài giận run người, gã thanh niên đứng cạnh mụ thì mặt đỏ như gấc. Bức ảnh đó chính là Đại Bài.
Hùng ca lật mặt sau tấm ảnh, vờ như không đọc rõ chữ, giơ lên dưới ánh nắng dõng dạc đọc:
"Tặng Lý Cường: Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim, nguyện chàng mãi mãi ở trong tim. Ký tên: Đại Bài. Đại Bài là ai thế nhỉ, có phải mụ đàn ông trong ảnh không? Mụ này lẳng lơ thật, chắc là có tư tình với gã Lý Cường kia nên ngủ xong mới tặng ảnh đây mà."
Mặt Đại Bài xanh xám, định xông lên nhưng lại sững lại. Tam sư thúc đang tựa người vào bàn, một chân đạp vào cánh cung, một tay kéo căng dây, mũi tên cứ lảo đảo nhắm thẳng vào Đại Bài. Tay kia y vẫn thong thả nhâm nhi bát rượu, vẻ mặt dửng dưng như không. Đại Bài sợ rằng chỉ cần y lỡ tay một cái là mũi tên kia sẽ găm thẳng vào người mụ. Mà cái vẻ say khướt ấy, khả năng 'lỡ tay' là cực kỳ lớn.
Thiếu niên tên Lý Cường do dự một hồi rồi lao lên định liều mạng với Hùng ca. Hùng ca chẳng thèm liếc nhìn gã, chỉ nhìn chằm chằm vào bức ảnh, lẩm bẩm:
"Để ta xem tướng cho mụ Đại Bài này. Mày ngài mắt phượng, đôi mắt đào hoa, đích thị là hạng dâm phụ chuyên mồi chài trai trẻ. Còn gã Lý Cường này, trông bộ dạng chẳng thông minh gì, bị mụ ta chơi xỏ mà vẫn đi bán mạng cho mụ, đúng là ngu hết phần thiên hạ!"
Lý Cường khựng lại. Gã chợt nhận ra Hùng ca có thể lấy ảnh trên người gã dễ dàng thì cũng có thể lấy mạng gã trong chớp mắt. Gã mất ảnh mà không hay, thì mất đầu chắc cũng chẳng kịp biết.
Tôi đứng bên cạnh mà sướng rơn cả người. Trong số những người có mặt, chỉ tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra. Lúc Tam sư thúc bắn vỡ bát sành, mọi sự chú ý đều dồn lên không trung, chính lúc đó Hùng ca đã áp sát và nẫng đồ trên người bọn chúng. Đây mới thực sự là kỹ thuật 'diệu thủ không không nhi', thân pháp cực nhanh. Trong giới lão vinh hiện nay, kẻ có thân pháp cỡ này chắc chắn đếm không hết đầu ngón tay.
Hùng ca giơ cao bức ảnh hỏi:
"Của ai? Của ai nào?"
Lý Cường muốn tiến lên nhận nhưng lại không dám, vì nhận nghĩa là thừa nhận chuyện tư tình với Đại Bài. Trong lúc bọn chúng còn đang do dự, Hùng ca đã châm lửa đốt bức ảnh để mồi một điếu thuốc, thản nhiên nói:
"Không ai nhận thì ta dùng để châm thuốc vậy."
Mặt Đại Bài giật liên hồi vì tức tối. Thời đó, đốt ảnh người sống bị coi là điềm gở, mang lại tai họa.
Hùng ca cứ thế tiếp tục gãi, mỗi lần gãi lại lòi ra một món đồ, khi thì chùm chìa khóa, khi thì bao thuốc lá ngoại. Thời đó thuốc lá là món xa xỉ phẩm, hạng giang hồ như Báo Tử cũng chỉ hút thuốc lào, vậy mà đám thiếu niên này đã dùng thuốc ngoại, đúng là hạng choắt con thích thể hiện. Hùng ca vứt đống đồ hổ lốn lên bàn, tỉnh bơ:
"Trên người ta sao tự dưng mọc ra mấy thứ này, đáng sợ quá, thật là đáng sợ!"
Đám thiếu niên nhìn đồ của mình hiện ra trên tay đối phương mà vẫn chẳng hiểu tại sao, đứa nọ nhìn đứa kia, ngơ ngác không thôi. Đại Bài đưa mắt ra hiệu cho một gã ngồi cạnh cửa sổ. Gã đó như được tiêm máu gà, hăng máu đứng bật dậy hét lớn:
"Uống rượu một mình thì có gì vui? Đứa nào có gan thì ra đây thi uống với tao!"
Gã bước tới trước bàn chúng tôi. Nhìn hàng ria mép lún phún của gã, tôi nhận ra ngay: chính là kẻ đã cưỡi ngựa kéo lê tôi trên đường hôm nọ, suýt chút nữa đã lấy mạng tôi. Lửa giận trong lòng tôi bốc lên ngùn ngụt.
Gã đứng trước bàn, tự rót một bát rượu rồi quát:
"Thằng nào dám uống với tao?"
Hùng ca không thèm nhìn, Tam sư thúc cũng chẳng thèm ngó, hạng 'ngựa non háu đá' này chẳng lọt nổi vào mắt xanh của họ. Gã cảm thấy bị sỉ nhục, chỉ thẳng vào tôi:
"Thằng ranh, uống với ông một bát!"
"Mày là cái thá gì?" tôi gằn giọng.
Mặt gã đỏ bừng, nghiến răng:
"Trên địa bàn của lão tử, mày dám lộng hành sao?"
Tôi nâng bát rượu cười nhạt:
"Hóa ra là đất của mày à? Được thôi, khách tùy chủ tiện, tao kính mày một bát."
Ngay lúc cụm bát, tôi nhắm thẳng bát rượu của gã mà nhổ vào một bãi nước bọt. Gã cầm bát rượu lôi đình đại nộ, nhưng cơn giận chưa kịp phát ra thì vẻ mặt đã chuyển sang méo xệch, vì một lưỡi đao đã kề sát cổ gã, chuôi đao nằm gọn trong tay tôi. Chính lúc cụm bát, tôi đã nhanh tay rút phăng thanh đoản đao trong tay áo gã.
Bộ dạng gã lúc này khó coi vô cùng, chẳng khác gì kẻ vừa đại tiện ra quần giữa chốn đông người. Tôi ấn mạnh lưỡi đao vào da thịt gã, một vệt máu rỉ ra như con giun đất. Tôi quát:
"Uống!"
Gã lập cập bưng bát rượu có nước bọt của tôi mà uống cạn. Lúc gã quay đi, tôi bồi thêm một cước vào mông, mắng:
"Cái loại trình độ thối tha thế này mà cũng đòi hành tẩu giang hồ, biến cho khuất mắt tao!"
Gã chẳng dám ho he một lời, lủi thủi đi thẳng không dám ngoái đầu.
Đại Bài không chịu nổi nữa, gào lên điên cuồng:
"Bắn tín hiệu! Gọi người tới đây!"
Một gã thiếu niên đứng ra cửa sổ, rút trong ngực ra một ống pháo hiệu, một tiếng nổ đanh gọn xé tan bầu trời, tung ra muôn vàn hoa giấy. Đại Bài đắc thắng chỉ tay vào chúng tôi:
"Chúng mày tiêu rồi! Đợi đó, chúng mày tiêu đời rồi!"
Hùng ca và Tam sư thúc coi mụ như không khí, vẫn thong thả nâng bát, vừa uống vừa nghêu ngao hát:
"Thanh thanh lăng thượng bách, lỗi lỗi giản trung thạch.
Nhân sinh thiên địa gian, hốt như viễn hành khách.
Đấu tửu tương giải lạc, liêu hậu bất vi bạc.
Khu trục sách nô mã, du hí Uyển dữ Lạc..."
Lời ca trích từ 'Cổ Thi Thập Cửu Thủ', giọng hát thương lương bi tráng khiến lòng người dâng lên bao nỗi niềm cảm khái. Hát xong, họ như không có ai bên cạnh, cụm bát sành nghe xoảng một tiếng rồi dốc cạn. Tôi lại rót đầy rượu cho họ.
Đại Bài đã phát tín hiệu gọi viện binh, đây là địa bàn của mụ, tay chân bộ hạ có đến hàng trăm đứa. 'Mạnh long khó ép địa đầu xà', một trận ác chiến là điều khó tránh khỏi, vậy mà hai người họ vẫn đối tửu đương ca, ý chí hào sảng như thể đang dạo chơi dưới trăng thanh gió mát chứ không phải giữa vòng vây quân thù.
Hùng ca hỏi Tam sư thúc:
"Cổ thi bao la như biển, lão huynh tâm đắc nhất tập nào?"
"Cổ Thi Thập Cửu Thủ."
Cả hai đều là bậc văn võ toàn tài. Hùng ca xuất thân phú gia, sau làm tam đương gia băng Tấn Bắc. Tam sư thúc là Thám hoa lang phái Giang Tướng, không có vốn liếng chữ nghĩa sao hiểu nổi bí tịch truyền đời? Những món như 'Anh Diệu thiên', 'Trát Phi thiên' đều viết bằng văn ngôn giang hồ, không có nền tảng Hán học thì chẳng khác gì nhìn bức vách.
Về tập 'Cổ Thi Thập Cửu Thủ' này, thuở nhỏ tôi có nghe thầy đồ nhắc qua, thầy bảo tập thơ này mang nặng nỗi sầu nhân thế, yếm thế chán chường, trẻ con không nên đọc kẻo tâm hồn trở nên ủy mị.
Hai người họ đang đàm đạo thơ ca, lẽ ra Đại Bài nên góp vui một vài câu mới phải, vì hôm trên đường mụ ta đã khoe khoang kiến thức cổ văn khiến tôi nể phục vô cùng. Vậy mà hôm nay, trước những lời tâm đắc của hai vị cao nhân, mụ lại im hơi lặng tiếng. Phải chăng mụ chỉ dùng chữ nghĩa để đi lừa bịp, còn bản chất bên trong vẫn chỉ là hạng thảo khấu thô thiển?
"Lão huynh thích nhất bài nào?" Hùng ca hỏi.
Tam sư thúc đáp:
"Ta thích nhất bài 'Hành hành phục hành hành':
Hành hành phục hành hành, dữ quân sinh biệt ly.
Tương khứ vạn dư lý, các tại thiên nhất nhai.
Đạo lộ trở thả trường, hội diện an khả tri?
Hồ mã y bắc phong, Việt điểu sào nam chi.
Tương khứ nhật dĩ viễn, y đái nhật dĩ hoãn.
Phù vân tế bạch nhật, du tử bất cố phản...
Mỗi lần nhẩm đọc bài này, lòng ta lại thắt lại, nhớ về người bạn cũ ấy."
Hùng ca khẽ gật đầu:
"Nếu ta không nhầm, người bạn ấy hẳn là một giai nhân."
Tam sư thúc gật đầu thừa nhận. Tôi chấn động vô cùng. Chỉ qua một bài thơ mà Hùng ca đã đoán ra tâm sự, và bất ngờ hơn là Tam sư thúc – kẻ mà tôi luôn coi là gã lãng tử phong lưu, thay phụ nữ như thay áo – lại giấu kín trong lòng một bóng hình sâu đậm đến thế suốt bao năm qua. Hỏi thế gian tình là chi, mà khiến người ta phải thề nguyền sống chết?
Họ cứ thế cười nói, ca hát, khóc cười tự nhiên, chẳng màng đến Đại Bài hay viện binh sắp tới. Trong mắt họ, Đại Bài và đám ô hợp kia vốn chẳng đáng một xu.
"Còn ông, ông thích bài nào nhất?" Tam sư thúc hỏi ngược lại.
Hùng ca ngâm nga:
"Sinh niên bất mãn bách, thường hoài thiên tuế ưu.
Trú đoản khổ dạ trường, hà bất bỉnh chúc du.
Vi lạc đương kịp thời, hà năng đãi lai tư...
Ta tâm đắc nhất bài này."
Tam sư thúc thở dài:
"Thời gian vùn vụt như bóng câu qua khe cửa, thiếu niên năm nào giờ tóc đã điểm sương, thiếu nữ xưa kia chắc cũng đã con cháu đầy đàn. Đời người ngắn ngủi, chớp mắt đã hư không, sao không nắm lấy hiện tại, trân trọng phút giây này?"
"Phải lắm," Hùng ca hưởng ứng, "kẻ thông minh biết sống cho hiện tại, tận hưởng từng ngày. Chỉ có hạng ngu xuẩn, đầu chứa toàn phân mới suốt ngày bày mưu tính kế, tranh giành mấy cái hư danh hão huyền."
Tôi biết Hùng ca đang bóng gió mỉa mai Đại Bài. Mụ ta đang sốt ruột ngóng ra cửa sổ chờ viện binh, không biết hạng 'ngoạn phiêu khách xuyến tử' như mụ có thấm thía nổi mấy đạo lý nhân sinh này không.
Nói xong chuyện cổ thi, vò rượu thứ nhất cũng vừa cạn. Hùng ca hét xuống lầu:
"Tiểu nhị! Mang rượu lên đây!"
Chủ quán từ lúc Đại Bài xuất hiện đã chui tọt vào bếp không dám ló mặt. Lão muốn chạy nhưng sợ mất cửa hàng, không chạy thì sợ vạ lây, đành chọn xó bếp làm nơi nương náu. Hùng ca gọi, lão vẫn im thít.
Gã gạt đống bạc trên bàn, bảo tôi:
"Ngai Cẩu, xuống ôm hai vò rượu lên đây, chỗ bạc này đem vào bếp cho lão làm tiền rượu."
Hùng ca ra tay thật hào phóng, chỗ bạc đó đủ mua hai mươi vò chứ đừng nói là hai vò. Dù sao tiền đó cũng là tiền 'mượn' của lão trọc phú đi mua ngựa.
Tôi ôm hai vò rượu lên, tiện tay vứt đống bạc vào bếp. Chủ quán thấy tiền sáng mắt, mặt đỏ rần rần, dặn đi dặn lại tôi: "Đừng có bảo ai là tôi ở đây nhé!"
Khi tôi trở lại, Hùng ca bảo:
"Ngai Cẩu, mang cho ta ngọn đèn dầu lại đây."
"Mang đèn làm gì ạ?" tôi tò mò.
Hùng ca gằn giọng:
"Thời buổi sài lang đương đạo, ác khuyển vây quanh. Quan phủ chỉ biết vơ vét bạc tiền chứ chẳng màng trừ gian diệt bạo. Thế đạo tối tăm thế này, không thắp đèn sao ta thấy đường mà đi!"
Tôi biết đây lại là lời mỉa mai, gã cần đèn chắc chắn là có dụng ý khác. Tôi vào bếp bưng ngọn đèn dầu lên lầu hai.
Hùng ca lại gạt thêm một đống bạc nữa, dặn tôi:
"Ngai Cẩu, nhà bên cạnh đang phơi một chiếc áo bông ngoài sân, trong nhà có người đang nói chuyện, cổng cũng có người canh. Chú lẻn vào lấy chiếc áo đó về đây, để lại đống bạc này cho họ."
Số bạc này mua được cả chục cái áo bông ấy chứ, tôi không hiểu sao gã lại nhất định phải lấy cái áo đó. Tôi bước ra cửa sổ, hai chân móc vào khung cửa, treo ngược người lên rồi bám lấy mái hiên nhà bên cạnh. Tôi di chuyển trên nóc nhà nhẹ nhàng như một con linh miêu. Người trong nhà không thấy, người ngoài cổng không hay. Tôi đi đến cuối mái, đu mình rơi xuống sân, gỡ chiếc áo bông khoác lên người, để bạc lại chỗ cũ rồi theo lối cũ bò ngược lên mái nhà, nhào lộn một vòng trở về lầu hai. Động tác của tôi mượt mà, trôi chảy, cốt để cho Đại Bài thấy rõ bản lĩnh của mình.
Nhưng rốt cuộc, Hùng ca cần đèn dầu và áo bông để làm gì?

 

 

(Tổng: 7813 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0