Tổ Bịp
- 4976 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 100. Lại gặp phái Giang Tướng
Vết thương vừa khép miệng, tôi liền quay lại huyện lỵ Kỳ Sơn.
Lúc gặp lại Tam Sư thúc, mặt y biến sắc, lộ rõ vẻ lo âu. Y thốt lên:
"Cuối cùng mày cũng xác về rồi, đi, mau rời khỏi đây!"
Tôi ngơ ngác:
"Có chuyện gì thế thúc?"
Tam Sư thúc gắt khẽ:
"Chạy mau, lộ tẩy rồi, chậm chân là không kịp đâu!"
Hóa ra gã Trưởng phòng sau ngày ra tù liền nung nấu ý định trả thù. Hắn kéo theo một toán tay chân thân tín từ tỉnh lỵ về Kỳ Sơn, quyết dùng súng bắn chết Tam Sư thúc cho bằng được.
Đám cảnh sát mật vừa đặt chân vào đất Kỳ Sơn, Hùng ca đã đánh hơi thấy, mà Hùng ca biết thì Tam Sư thúc cũng hay tin. Hùng ca vốn là kẻ tinh khôn, làm việc cẩn mật, gã luôn lo sợ có ngày cả bọn sẽ lộ sơ hở nên đã sớm cài cắm tai mắt trên con đường độc đạo nối tỉnh lỵ với Kỳ Sơn. Chỉ cần phía tỉnh có gió thổi cỏ lay, tin tức sẽ được báo về ngay tức khắc.
Hoàng hôn hôm ấy, đám cảnh sát mặc thường phục mò vào huyện lỵ. Do đường xá xa xôi, chúng mỏi mệt rã rời nên quyết định tạm nằm im trong khách sạn, chờ thời cơ.
Chính quyết định ngu xuẩn đó đã cứu mạng Tam Sư thúc và cả bọn chúng tôi.
Ngay đêm đó, chúng tôi hối hả thu gom số vàng bạc châu báu chưa kịp tẩu tán, mang theo được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Những thứ nặng nề không mang nổi, chúng tôi gom lại giữa phòng rồi mở toang cửa đại sảnh. Cả bọn lẻn ra ngoài công đường, đứng giữa đại lộ hét lớn:
"Huyện nha phát bạc! Huyện nha chia vàng bạc cho dân đây!"
Hét xong, chúng tôi nhanh thoăn thoắt leo lên những tán cây cổ thụ trước cổng huyện. Từ trên cành cao nhìn xuống, đèn đuốc trong các gian nhà quanh đó bắt đầu sáng trưng. Ban đầu chỉ lác đác vài người, rồi chẳng mấy chốc, từng đoàn người hối hả đổ ra, như trăm con suối nhỏ cuồn cuộn chảy về phía huyện nha. Mấy kẻ bạo dạn liều mình xông vào trước, rồi chúng tôi nghe thấy những tiếng reo hò kinh ngạc xé toạc màn đêm. Đám đông bắt đầu hỗn loạn, người chen kẻ lấn, kẻ cởi áo người tháo giày, ai nấy đều cố vơ vét vàng bạc đầy ắp vào bọc rồi khệ nệ bê ra. Kẻ ngoài muốn tràn vào cướp, người trong muốn chen ra giữ của, dòng người đông nghìn nghịt tạo thành hai luồng thác đổ va vào nhau, tạo nên cảnh tượng náo loạn cực độ. Cánh cửa sơn son và bức tường cao ngất của huyện nha đổ rầm xuống dưới sức ép của đám đông, bụi đất mịt mù che lấp cả ánh trăng thanh.
Vàng bạc vừa cạn, dân chúng lại chuyển sang cướp lương thực. Sáng hôm sau, huyện nha chỉ còn là một đống hoang tàn, xơ xác như bãi sông sau trận lũ dữ. Sau này, sách "Kỳ Sơn huyện chí" gọi đêm kinh hoàng đó là "Phong trào cướp vàng".
Nhưng ngay từ khoảnh khắc cánh cửa sơn son và bức tường cao đổ sụp ấy, chúng tôi đã cao chạy xa bay.
Ba ngày sau, cả bọn đặt chân đến tỉnh lỵ Lan Châu. Kỳ Sơn nằm giữa Lan Châu và Tây An, quãng đường tương đương nhau. Chuyện Tam Sư thúc mạo danh Huyện trưởng và vụ náo loạn ở huyện nha đã xôn xao khắp vùng Thiểm Tây, chúng tôi chẳng thể ló mặt ở đó được nữa, đành quay đầu tìm đường sang Cam Túc.
Tại Lan Châu, chúng tôi đem số vàng thỏi mang theo đến tiệm cầm đồ. Sau khi kiểm đếm, họ đưa cho chúng tôi một tờ ngân phiếu trị giá một vạn đồng. Tiệm này do người Sơn Tây làm chủ - vốn là những bậc thầy kinh doanh tiền tệ lâu đời nhất Trung Hoa, cơ nghiệp nối dài từ thời Thanh sang tận dân quốc.
Một vạn đồng là con số khổng lồ. Dù chưa đủ để Tam Sư thúc mở một kỹ viện xa hoa bậc nhất thế giới, nhưng dựng một lầu xanh hạng trung thì dư sức. Tam Sư thúc thấy mình đã chạm được một tay vào giấc mộng đại nghiệp.
Giắt tờ ngân phiếu vào ngực áo, chúng tôi hối hả hướng về phía Trương Gia Khẩu.
Muốn đến đó, buộc phải đi ngang Diêm Trì. Nơi ấy là sào huyệt của phái Lão Nguyệt, địa bàn của lão béo - sư phụ của Đại Bài.
Tôi nhắc khẽ:
"Con mụ Đại Bài từng trộm ngựa của chúng ta là đồ đệ của lão già trấn thủ nơi này đấy."
Tam Sư thúc gật đầu:
"Ta cũng nghe danh Diêm Trì là căn cứ của bọn Lão Nguyệt từ lâu. Mọi người phải hết sức cẩn trọng, tuyệt đối đừng để dính bẫy. Lũ Lão Nguyệt hành sự chẳng có giới hạn, mánh khóe lừa lọc đổi mới xoành xoạch."
Hùng ca tiếp lời:
"Cứ đêm xuống mới đi, đừng làm kinh động đến ai, cũng chẳng cần chào hỏi kẻ nào. Ai gọi cũng mặc kệ, cứ thế mà lướt qua thì mới mong vạn sự bình an."
Tam Sư thúc chốt lại:
"Cứ thế mà làm."
Chúng tôi kiên nhẫn đợi trên một ngọn núi phía tây Diêm Trì cho đến khi hoàng hôn tắt lịm, lũ quạ đen đã về tổ ấm, lúc ấy mới lẳng lặng tiến vào địa giới Diêm Trì.
Đi chưa được bao xa, bỗng gặp một kẻ cưỡi lừa đi ngược chiều. Gã chặn đường bảo:
"Các vị khách quan đừng đi tiếp, phía trước sông ngăn đường thẳm, có vị đạo sĩ đang làm phép, người đông như kiến, không qua nổi đâu."
Tôi liếc nhìn kẻ vừa lên tiếng, dưới ánh trăng, khuôn mặt gã thanh tú, nho nhã như một kẻ sĩ đọc chữ thánh hiền.
Nhớ lời Hùng ca, tôi lầm lì không đáp. Hùng ca và Tam Sư thúc cũng coi như không nghe thấy. Thấy lòng tốt bị phớt lờ, kẻ kia hậm hực lắc đầu thở dài:
"Thói đời suy vi, lòng người chẳng còn như xưa. Lời lành khuyên nhủ mà lạnh nhạt như băng, thảm thay, buồn thay!"
Nói đoạn, gã lủi thủi rời đi.
Đi tiếp chừng ba bốn dặm, chúng tôi lại chạm mặt hai gã tiều phu. Vai vác rìu, họ thong dong bước phía trước. Một gã bảo:
"Thuyền ngược dòng mà đi được, mày tin không?"
Kẻ kia gạt đi:
"Xạo sự, lừa con nít chắc?"
Gã đầu tiên lại bồi thêm:
"Lại còn có hai đứa Chiêu Tài Đồng Tử đứng trên thuyền nữa đấy, tin chưa?"
"Đến cả Chiêu Tài Đồng Tử cũng xuất hiện? Sao có thể thế được?"
"Ai cũng bảo vậy, đi xem thử xem sao."
Chúng tôi sải bước nhanh hơn, lướt qua hai gã tiều phu. Tôi thì thầm hỏi Tam Sư thúc:
"Thuyền đi ngược dòng, lại có Đồng Tử hiện thân, có chuyện đó thật sao thúc?"
Tam Sư thúc cười khẩy:
"Chuyện hão huyền."
Tôi tò mò:
"Hay là mình đến xem lão đạo kia giở trò gì?"
Tam Sư thúc gật đầu:
"Được."
Hùng ca dặn thêm:
"Xem thì xem, nhưng phải giữ mình cho khéo."
Đi thêm độ bốn năm dặm, một con sông hiện ra trước mắt. Phía hạ lưu người tụ tập đông nghịt, đèn lồng sáng rực, tiếng hò reo náo nhiệt cả một vùng. Còn phía thượng nguồn, dưới ánh trăng vằng vặc, trên một gò đất cao có vị đạo sĩ râu trắng ngồi tĩnh tọa. Chòm râu bạc phơ phất phơ trong gió, nhìn qua đúng là bậc tiên phong đạo cốt.
Khi trăng treo đúng đỉnh đầu, đám đông phía dưới chợt xôn xao:
"Đến rồi! Đến rồi!"
Chúng tôi nhìn theo hướng tay chỉ, thấy một con thuyền nhỏ từ từ trôi đến, trên thuyền khói hương nghi ngút. Ở mũi thuyền là hai đứa trẻ, một đứa mặc áo xanh, một đứa diện đồ hồng, mặt mũi hồng hào như tạc bằng ngọc, vô cùng đáng yêu.
Cảnh tượng hai đứa trẻ thanh khiết như không nhuốm bụi trần xuất hiện trên thuyền đã đủ khiến người ta kinh ngạc, nhưng điều lạ lùng hơn cả là con thuyền ấy đang lướt đi ngược dòng nước.
Đám đông đồng thanh hô hoán:
"Chiêu Tài Đồng Tử hiển linh! Chiêu Tài Đồng Tử hiển linh rồi!"
Có kẻ còn gào lên:
"Nam Cực Tiên Ông giáng thế!"
Chiêu Tài Đồng Tử và Nam Cực Tiên Ông vốn là những nhân vật trong thần thoại đạo giáo, vậy mà trong đêm trăng này, tất cả đều hiện diện. Hai đứa trẻ là Đồng Tử, còn lão già râu trắng trên gò đất chính là Tiên Ông.
Một tiếng tiêu chợt từ trên cao vọng xuống, âm thanh trầm bổng, nức nở như oán như than. Đám người phía hạ lưu thấy cảnh ấy, nghe tiếng ấy liền đồng loạt quỳ sụp xuống, kẻ thì khóc lóc thảm thiết, người thì lầm rầm khấn vái.
Chỉ có ba chúng tôi đứng trơ trơ. Tôi và Tam Sư thúc là người của Giang Tướng phái, Hùng ca là dân đạo chích chuyên nghiệp, lăn lộn giang hồ bấy lâu, chúng tôi thừa biết đây chỉ là trò quỷ của lũ thầy cúng rởm. Chỉ là, chúng tôi chưa nhìn ra mánh khóe nằm ở đâu.
Nhưng chắc chắn một điều: Tiên Ông hay Đồng Tử gì cũng đều là giả dối cả.
Con thuyền lững lờ trôi sát gò đất. Hai đứa trẻ bước ra khỏi thuyền, đi hiên ngang trên mặt nước rồi bước lên gò, đứng cạnh lão đạo râu trắng.
Lão đạo gật đầu với hai đứa nhỏ, chúng đứng dạt sang hai bên, đứa ôm cuốn thẻ tre, đứa giữ thanh trường kiếm. Tiếng nhạc từ trời cao lại vang lên, đổ xuống như thác đổ. Đám đàn ông đàn bà phía dưới lại được dịp quỳ lạy, dập đầu như tế sao.
Tam Sư thúc hỏi khẽ Hùng ca:
"Nhìn ra chiêu gì chưa?"
Hùng ca lắc đầu:
"Tôi chịu."
Tam Sư thúc cũng bảo:
"Ta cũng chưa thông."
Tôi thắc mắc:
"Thuyền đi ngược dòng, tiên đồng đạp trên nước, nhạc từ không trung vọng về... đúng là không thể tin nổi."
Tam Sư thúc trầm ngâm:
"Đây hẳn là cao thủ Giang Tướng phái, chỉ là không rõ thuộc môn nào?"
Tôi ngạc nhiên:
"Sao thúc biết là người cùng hội cùng thuyền?"
Tam Sư thúc đáp:
"Cứ giả thần giả quỷ để lừa đám thiện nam tín nữ thì chỉ có thể là người phái ta thôi."
Tôi đề nghị:
"Đã là đồng môn, hay là ta lên nhận mặt?"
"Dĩ nhiên rồi."
Khi màn kịch "Nam Cực Tiên Ông" hạ màn thì đã về khuya. Đám đông dần tản mạn, lão đạo và hai đứa trẻ cũng bắt đầu rời đi. Tam Sư thúc ra hiệu cho chúng tôi bám theo.
Lão già đi trước, hai đứa trẻ theo sau, chúng tôi lặng lẽ bám gót. Đi chừng vài dặm, trên sườn núi hiện ra một ngôi đạo quán. Dưới ánh trăng, ngôi quán đen sì như một con quái thú đang phục sẵn, vị trí nằm ngay bên bờ vực thẳm, trông cực kỳ hiểm trở.
Lão đạo dẫn hai đứa nhỏ leo lên các bậc đá, chúng tôi nấp trong bụi rậm quan sát. Bậc thang vừa dài vừa dốc, cứ qua một đoạn chúng lại đóng chặt một cửa rào. Đứng từ dưới nhìn lên, bóng dáng chúng cứ xa dần, nhỏ lại rồi biến mất.
Tam Sư thúc bảo:
"Về thôi, mai hãy tới bái kiến."
Trời sắp sáng, chúng tôi nằm vật ra bãi cỏ dưới chân núi mà chợp mắt. Đang mơ màng, tôi nghe thấy tiếng "gù gù" bên tai. Ti hí mắt nhìn, thấy dưới vách đá là một đàn nhạn lớn đang trú chân. Đàn nhạn từ vùng biên ải xa xôi bay về đây, vừa đói vừa mệt nên tìm chỗ tránh gió. Trước mặt vách đá là ruộng mạ xanh mướt, bấy giờ đã cuối thu chớm đông, lũ nhạn đói lả lững thững đi vào ruộng, dùng mỏ bới những hạt mầm mới nhú để nuốt chửng.
Tôi chợt nhớ ngày nhỏ, cứ đến mùa này là tôi lại theo đám gia nhân ra ruộng. Họ trộn bã rượu vào hạt lúa rồi rải khắp nơi. Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng nắng, chúng tôi ra ruộng đã thấy lũ nhạn nằm la liệt, mắt lờ đờ, cánh đập phành phạch nhưng chẳng thể cất mình lên nổi vì say khướt.
Lúc này, nhìn đàn nhạn, lòng tôi dấy lên một nỗi niềm đồng cảm. Cùng là kiếp phiêu bạt, cùng chịu cảnh lầm than, số phận chúng tôi sao mà giống nhau đến thế. Tự dưng, tôi thấy hổ thẹn vì những lần săn bắt nhạn năm xưa.
Nghĩ ngợi một hồi, tôi lại chìm vào giấc ngủ.
Đêm về khuya ở phương Bắc, sương đọng trĩu trên lá cây, dưới đất kết thành một lớp sương giá mỏng. Tôi mặc độc chiếc áo mỏng, cảm giác như mình đang bị quăng vào hầm băng. Nhưng chỉ một lát sau, trong hầm như có đống lửa bùng lên, cành cây ẩm ướt nổ lách tách, từng làn khói trắng bay lơ lửng.
Lúc tỉnh dậy, nắng đã lên cao. Bên cạnh tôi là đống tro tàn của một đống lửa, thảo nào đêm qua tôi lại mơ thấy hơi ấm. Hóa ra là Tam Sư thúc và Hùng ca đã đốt lửa sưởi cho tôi.
Tam Sư thúc bảo:
"Giờ lành đến rồi, lên núi thôi."
Chưa kịp đến chân núi, chúng tôi đã thấy con đường mòn dẫn lên đỉnh đông nghịt người. Tin đồn về việc Tiên Ông và Đồng Tử hiển linh đêm qua đã khiến đám tín đồ rần rần kéo tới.
Chúng tôi len lỏi theo đám đông lên đỉnh núi. Ngôi đạo quán bị vây kín bởi tầng tầng lớp lớp người. Bên trong thờ một vị lão nhân chống gậy, trán dô, mặt mày rạng rỡ, râu tóc trắng cước dài thượt. Đó chính là Nam Cực Tiên Ông trong truyền thuyết. Hai bên lão là hai tiên đồng mặc áo hồng, áo xanh, giống hệt hai đứa trẻ đêm qua.
Cái trò quỷ này, năm xưa tôi theo sư phụ Lăng Quang Tổ đã diễn đến phát ngán, chẳng ngờ ở nơi biên thùy hẻo lánh này vẫn có kẻ hành nghề, lại còn lắm người tin sái cổ đến thế.
Tam Sư thúc dạo quanh một vòng, thấy một tiểu đạo đồng liền tiến tới bắt chuyện:
"Ta từ ngàn dặm lặn lội tới đây, muốn xin bái kiến đạo trưởng, phiền ngươi dẫn lối."
Tiểu đạo đồng xua tay:
"Đạo trưởng bế quan tu luyện đã hai tháng nay, vài ngày nữa mới xuất quan."
Nghe đến đó, tôi thầm cười khẩy. Đêm qua còn giả thần giả quỷ, giờ lại bảo bế quan hai tháng. Trò này lừa được thiên hạ chứ sao qua mắt được dân Giang Tướng phái. Tôi nhìn kỹ thằng nhóc trước mặt, thấy nó đích thị là một trong hai đứa trẻ trên thuyền đêm qua.
Tam Sư thúc nói tiếp:
"Ta cũng là người trong đạo, đi ngàn dặm chỉ để đưa một phong thư cho đạo trưởng, phiền ngươi vào bẩm báo."
"Đưa cho tôi, tôi sẽ chuyển lời."
Tam Sư thúc nghiêm mặt:
"Việc này hệ trọng đến sự tồn vong của đạo quán, người gửi thư dặn ta phải tận tay giao cho đạo trưởng nhanh nhất có thể. Một tiểu đạo đồng như ngươi, gánh nổi trách nhiệm này không?"
Nó ngập ngừng:
"Vậy... mời các vị chờ cho chút lát."
Chờ chừng tàn một điếu thuốc, tiểu đạo đồng quay ra bảo:
"Đạo trưởng mời các vị vào."
Đạo trưởng đang ngồi trong phòng khách. Khi chúng tôi bước vào, thấy gã chừng hơn bốn mươi tuổi, mặt mũi hồng hào, chẳng có vẻ gì là kẻ vừa bế quan tu luyện hai tháng, cũng chẳng giống lão già râu trắng đêm qua. Nhưng chúng tôi dám chắc, gã chính là kẻ thủ vai Tiên Ông.
Tam Sư thúc mở lời:
"Ai điểm ngươi ra đây làm 'Tướng'?"
Mắt gã chợt sáng lên, rồi thoáng hiện vẻ hồ nghi, gã đáp:
"A Ba."
Tam Sư thúc hỏi:
"A Ba của ngươi họ gì?"
"Họ Phương."
Tam Sư thúc đặt tay phải lên ngực, ngâm khẽ:
"Tự thuở nhỏ thi thư cùng bầu bạn, đến tựa hồng phi, đi tựa gió ngàn. Hai cõi âm dương ta nắm giữ, Thám Hoa quân đến định thua thắng."
Gã kia biến sắc, vội đáp:
"Hóa ra là Thám Hoa lang giá lâm. Có lỗi vì đón tiếp chậm trễ, xin được thứ lỗi."
Gã liền ngâm tiếp:
"Không thơ không rượu bước thiên nhai, nhân gian vạn vật thảy đều không. Bóng ai in dấu trên sông thẳm, gió mát trăng thanh cạnh mộ cổ."
Tam Sư thúc kinh ngạc:
"Lão gia tử là gì của ngài?"
"Là ân sư của tôi."
Tam Sư thúc vội vàng đổi giọng kính cẩn:
"Vừa rồi có lời mạo phạm, xin ngài rộng lòng bỏ qua."
"Không sao, không sao cả."
Thấy Tam Sư thúc tôn trọng gã đến vậy, tôi đồ rằng gã Nam Cực Tiên Ông này lai lịch chẳng phải dạng vừa. Nhưng gã thuộc môn quy nào thì tôi vẫn mù tịt.
Gã chỉ tay vào tôi hỏi Tam Sư thúc:
"Vị này là...?"
"Là sư điểu (đệ tử đời sau) của tôi, tên là Ngai Cẩu."
Gã lại nhìn sang Hùng ca:
"Còn vị này?"
"Lão Tam của bang Tấn Bắc, giang hồ gọi là Hùng Tam ca."
Gã gật gù:
"Bang Tấn Bắc có Hổ - Báo - Hùng, đều là những bậc anh hùng hào kiệt."
Hùng ca đáp lễ:
"Quá khen."
Sau vài câu khách sáo, Tam Sư thúc hỏi:
"Đêm qua thấy ngài diễn trò thuyền ngược dòng, tiên đồng đi trên nước, nhạc tiên vang lừng, tôi thực sự khâm phục. Đệ tử của Lão gia tử đúng là ra tay bất phàm."
Gã ngạc nhiên:
"Đêm qua ngài cũng có mặt sao?"
Tam Sư thúc gật đầu.
Gã cười khổ:
"Chút tài mọn của tôi chỉ lừa được lũ người ngu muội, sao dám múa rìu qua mắt Thám Hoa lang."
Tam Sư thúc bảo:
"Lúc đầu tôi cũng chưa nhìn ra, nhưng ngẫm kỹ lại thì cũng hiểu được đôi phần."
"Vậy xin Thám Hoa lang cứ nói thẳng."
Tam Sư thúc quay sang tôi:
"Ngai Cẩu, mày thử nói trước xem."
Tôi đã nung nấu câu hỏi này từ đêm qua, giờ mới thấy sáng tỏ. Tôi thong thả trình bày:
"Trước tiên nói về tiếng nhạc tiên. Trò này đơn giản nhất, hẳn là có kẻ cầm tiêu nấp trên tàn cây rậm rạp. Dưới ánh trăng mờ ảo, chẳng ai nhìn thấu được. Khi hai tiên đồng đứng đầu thuyền, thuyền đi ngược dòng, kẻ trên cây liền thổi tiêu. Đám dân ngu ngơ cứ ngỡ nhạc từ trời rơi xuống, chứ đâu biết là có người nấp sẵn mà thổi."
Tôi thấy gã Tiên Ông gật đầu, Tam Sư thúc và Hùng ca lộ vẻ tán thưởng.
Tôi nói tiếp:
"Còn vụ tiên đồng đạp trên nước. Khi thuyền gần đến gò đất, hai đứa nhỏ bước xuống đi trên mặt nước nhẹ như không. Thực chất là dưới lòng sông đã đóng sẵn những cọc gỗ. Đám trẻ cứ thế đạp lên cọc mà đi. Người đứng xa chỉ thấy chúng lướt trên sóng, chứ không thấy cọc ngầm bên dưới. Thế là thành thần tiên giáng thế thôi."
Gã Tiên Ông lại gật đầu, Tam Sư thúc và Hùng ca mỉm cười đắc ý.
"Cuối cùng là chuyện thuyền ngược dòng. Cái này tôi nghĩ mãi mới ra nhờ nhìn thấy đoạn dây thừng treo trên tường đạo quán kia. Đạo trưởng ngồi trên gò đất, dưới gò có một chiếc cọc, trên cọc gắn ròng rọc. Một đầu dây buộc vào mũi thuyền, đầu kia do một kẻ nấp trong khoang thuyền kéo. Hắn kéo dây qua ròng rọc thì thuyền cứ thế mà lướt ngược dòng thôi."
Gã Tiên Ông sửng sốt đứng bật dậy, hỏi Tam Sư thúc:
"Hậu sinh khả úy! Vị này thuộc môn phái nào? Tương lai chắc chắn không thể đo đếm nổi."
Tam Sư thúc cười ha hả:
"Nó là sư điểu của ta, đệ tử của Trạng Nguyên lang. Tính tình nó vốn khờ khạo, nhận thức chậm chạp. Năm xưa đại sư huynh thu nhận nó, ta cứ ngỡ huynh ấy chọn nhầm người. Dân Giang Tướng phái ta ai chẳng tinh anh, sắc sảo, chỉ riêng nó là trông như kẻ chưa thông kinh mạch. Nhưng mấy năm nay, cái chất của nó mới dần phát lộ. Người trên đời muôn hình vạn trạng, kẻ thông minh sớm, người chín muộn. Có kẻ thông minh lộ ra mặt, có kẻ thông minh giấu vào trong. Ngai Cẩu thuộc loại thứ hai."
Gã Tiên Ông hỏi:
"Trạng Nguyên lang vẫn bình an chứ?"
Tam Sư thúc thở dài:
"Ngài chưa biết sao? Trạng Nguyên và Bảng Nhãn đều đã bỏ mạng trong một trận hỏa hoạn rồi. Hai vị ấy thông tuệ là thế, tính toán được cả trời đất, nhưng lại không tính nổi họng súng. Trên đời này, thứ đáng sợ nhất chính là súng đạn."
Gã Tiên Ông bùi ngùi:
"Năm xưa theo sư phụ học nghệ, tôi đã nghe danh Trạng Nguyên và Bảng Nhãn, tiếc là chưa có duyên tương ngộ. Chẳng ngờ họ lại chết thảm như vậy."
Tam Sư thúc hỏi thăm:
"Lão gia tử vẫn khỏe chứ?"
"Đã mười năm tôi không được gặp người. Ngày hai mươi tháng Chạp này là thọ thần của người, năm nay tôi nhất định phải về thăm."
Gã lại hỏi:
"Đoàn của Thám Hoa lang định đi đâu?"
"Bốn bể là nhà, không nơi nương tựa, gặp đâu hay đó, dừng đâu ở đó thôi."
Gã mời mọc:
"Nếu không chê, mời các vị ở lại tệ xá vài hôm."
Gã gọi đạo quán là tệ xá, chứng tỏ gã cũng giống sư phụ Lăng Quang Tổ của tôi, mượn lốt người tu hành để kiếm chác. Chỉ khác là sư phụ dùng chùa, còn gã dùng đạo quán.
Tam Sư thúc từ chối:
"Thôi, chúng tôi còn việc gấp phải lên đường."
"Vậy thì xin các vị dùng bữa trưa rồi hãy đi."
Tam Sư thúc gật đầu đồng ý.
Gã Tiên Ông ra ngoài chuẩn bị, chúng tôi dạo quanh sân. Đạo quán này nhỏ nhưng kiến trúc cổ kính, mái ngói phủ dày rêu xanh, cột gỗ đã lộ vết mọt ăn. Trong sân có mấy gốc dương cao vút, lớp vỏ trắng loang lổ những vết đen trông như những con mắt đang nhìn chằm chằm. Đạo quán này chắc cũng trăm năm tuổi, trong khi gã kia mới ngoài bốn mươi. Vậy trước khi gã tới đây, những vị đạo sĩ cũ đâu cả rồi?
Đã lâu không gặp người của Giang Tướng phái, đột nhiên chạm mặt gã ở đây khiến tôi thấy kỳ lạ. Tôi hỏi Tam Sư thúc:
"Hồi nãy mọi người nhắc đến Lão gia tử, người đó là ai thế thúc?"
"Lão gia tử chính là Tổng đà chủ của vùng phía bắc Trường Giang."
Ký ức trong tôi bỗng ùa về. Tôi nhớ lại buổi sáng u ám năm ấy, khi tôi theo Nhị Sư thúc bước vào một sân nhỏ bình thường mà bí ẩn. Trên ghế đá có bao nhiêu kẻ kỳ hình dị tướng, phía trong cùng là căn phòng có một ông lão thần bí tọa trấn. Ông lão ấy từng bảo: "Lúc lâm nguy, các ngươi có thể mượn danh hiệu của ta." Nhị Sư thúc nói đó chính là Tổng đà chủ.
Hóa ra, gã Tiên Ông này là đệ tử của Tổng đà chủ.
Nhưng tôi vẫn thấy gợn. Tổng đà chủ tuổi tác đã cao, lần tôi gặp người cách đây bao năm, người đã râu trắng như cước, phong thái tự tại, tuổi phải ngoài bảy tám mươi. Còn gã này mới chỉ hơn bốn mươi, sao có thể là đệ tử của người được? Nghe nói Tổng đà chủ từng là thầy bói riêng của Lão Phật Gia. Với tấm biển vàng đó, người đời nào đi thu nhận đồ đệ dân gian. Nếu có, thì cũng phải từ trước khi người vào cung. Lão Phật Gia đã mất bốn mươi năm rồi, chẳng lẽ gã Tiên Ông này theo học từ lúc còn quấn tã? Thật khó tin.
Kể cả gã theo học từ bé đi nữa, thì địa bàn của Tổng đà chủ là bắc Trường Giang, nam Hoàng Hà, sao đệ tử của người lại dạt tận vùng biên thùy hẻo lánh này? Dân Giang Tướng phái ai chẳng biết chọn nơi phú quý mà hành nghề, cớ sao gã lại chọn vùng đất khô cằn này?
Chỉ có một khả năng: Gã Nam Cực Tiên Ông này không phải đệ tử của Tổng đà chủ. Nhưng nếu không phải, sao gã lại thuộc làu mật mã liên lạc của phái?
Trong các bang phái giang hồ, Giang Tướng phái giữ bí mật kỹ nhất. Luôn là thầy tìm trò chứ không có chuyện trò tìm thầy. Có kẻ muốn học bí kíp phải làm lụng cho thầy ba năm mà vẫn bị từ chối, có kẻ quỳ nửa tháng trước cửa cũng chẳng được thu nhận. Vào được phái này phải dựa vào thiên tư và vận số. Mỗi thầy thường chỉ truyền dạy cho một trò duy nhất để nối nghiệp. Còn những danh hiệu Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa chỉ là cách giang hồ xếp hạng kỹ nghệ, gọi là sư huynh đệ cho thân mật chứ chưa chắc đã cùng một thầy.
Gã này đầy rẫy sự mờ ám.
Tôi đem những nghi hoặc nói với Tam Sư thúc, y dặn:
"Chúng ta phải hết sức đề phòng."
Hùng ca cũng chêm vào:
"Tôi thấy ngôi quán này ám khí nặng nề, mọi người nhớ để mắt kỹ vào."
Bữa trưa dọn ra rất nhanh dưới bóng mấy gốc dương. Ngồi vào bàn có gã Tiên Ông và ba chúng tôi. Phía sau gã là hai tiểu tiên đồng đứng chầu, một gã đầu bếp béo lùn cứ ra vào bưng bê món mới.
Theo lệ giang hồ, trước khi ăn phải uống rượu. Chủ khách chạm ly tỏ lòng thành. Gã Tiên Ông cầm vò rượu rót đầy bốn chén rồi bảo:
"Tôi xin uống trước để tỏ lòng kính trọng."
Nói đoạn, gã nốc cạn chén mình.
Chủ đã uống, khách không thể từ chối. Ba chúng tôi cầm chén lên, Hùng ca đưa đầu lưỡi nhấp nhẹ rồi kín đáo ra hiệu cho chúng tôi. Chúng tôi hiểu ngay: rượu đã bị gã giở trò.
Tay chân Hùng ca cực nhanh, chẳng ai kịp nhìn thấy gã cử động thế nào, mà chén rượu của gã đã chuyển sang màu đỏ rực. Hùng ca đặt chén xuống bàn, giả bộ hoảng hốt:
"Ơ kìa, chuyện gì thế này? Sao rượu lại hóa đỏ rồi?"
Gã Tiên Ông biến sắc:
"Sao có thể thế được?"
Gã ghé mắt nhìn, thấy chén rượu đỏ lòm thì mặt mũi lộ rõ vẻ lúng túng.
Hùng ca bồi thêm:
"Tôi uống rượu mấy chục năm, toàn thấy rượu trắng, nay mới thấy rượu đỏ lần đầu."
Gã thản nhiên cầm vò rượu, đổ chén của mình đi rồi rót chén mới. Sau đó, gã cũng đổ luôn chén của tôi và Tam Sư thúc rồi rót lại. Lần này, rượu trong chén đều trắng trong.
"Lạ thật, lần này lại trắng rồi."
Hùng ca cầm chén của gã Tiên Ông, rót đầy một chén mới rồi bảo:
"Mời, tôi xin uống trước!"
Nói xong gã tu một hơi cạn sạch.
Tôi và Tam Sư thúc thấy vậy cũng nâng chén uống hết.
Vẻ ngượng nghịu trên mặt gã Tiên Ông chưa kịp tan, Hùng ca đã đưa tay ra hiệu:
"Mời ngài, mời!"
Gã Tiên Ông cầm chén rượu lên, mặt chuyển sang màu gan gà, đỏ bầm tím tái. Uống không được mà không uống cũng chẳng xong.
Tôi đã quá rõ rồi. Năm xưa ở Gia Dụ Quan, mụ Đại Bài cũng dùng loại ấm rượu âm dương này để hại tôi. Mụ uống không sao, còn tôi uống vào thì thần trí mê muội. Giờ đây, gã này lại dùng đúng chiêu đó để đối phó với chúng tôi.
Hóa ra, gã không phải người Giang Tướng phái, mà là dân Lão Nguyệt. Gã với Đại Bài cùng một giuộc!
Tôi nhìn gã Tiên Ông cầm chén rượu, mặt mũi biến ảo khôn lường, hết tức giận lại đến bẽ bàng. Cuối cùng, gã ném mạnh chén rượu xuống đất, gầm lên:
"Anh em đâu, ra hết đây! Băm xác chúng nó cho tao!"