Tổ Bịp

  • 4173 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 26. Đêm khuya trộm kim ấn 
Ngày hôm ấy, lão già bí ẩn kia để lại trong lòng chúng tôi ấn tượng cực kỳ sâu đậm. Đứa nào cũng đinh ninh lão hẳn là một bậc thiện nhân.
Trở lại huyện thành, vợ chồng lão Lý bắt đầu kiểm kê số tranh chữ và đồ sứ, tổng cộng mười món, trả cho Thuận Oa ba trăm đồng đại dương. Thực tế, để lấy được số đồ ấy từ Hậu Lý Thôn, lão chẳng tốn bao nhiêu tiền. Đám dân sơn cước vẻ ngoài chất phác kia chỉ yêu cầu lão lấy đồ mới đổi đồ cũ. Vơ vét một lúc mười món cổ ngoạn, số tiền lão bỏ ra cho dân làng chưa đầy một đồng đại dương.
Ngỡ mình vừa vớ được món hời lớn, ngay đêm đó, vì lo sợ mang theo nhiều bảo vật bên mình không an toàn, lão Lý tìm đến nhà một tiêu sư trong huyện để ngủ nhờ. Lão chi một khoản tiền, nhờ tiêu sư hộ tống mình về tỉnh lỵ.
Sáng hôm sau, khi vầng thái dương đỏ rực lững thững nhô lên, vợ chồng lão Lý cùng tám gã tiêu sư hộ tống rầm rộ bước ra khỏi cửa Tây huyện thành. Nhìn bộ dạng chính nhân quân tử của hai vợ chồng ngồi trên tiêu xa, đám chúng tôi đứa nào cũng cười đến thắt cả ruột.
Chiều hôm đó, Băng Lưu Tử gọi tôi ra, dẫn đến trước nha môn. Cái gọi là nha môn thực chất là một tòa đại viện, phía Đông giáp Miếu Thành Hoàng, phía Tây kề tiệm đồ da. Tiệm đồ da ấy một bên tựa nha môn, một bên dựa khách quán.
Trước cửa nha môn có hai con sư tử đá chễm chệ, đôi cánh cửa sơn đen bóng loáng đóng đầy đinh đồng. Nghe đâu thời Thanh, trước nha môn còn đặt một mặt trống lớn, dân chúng ai có oan khuất cứ việc đến trước trống cầm dùi gõ vang. Quan huyện ngồi trong nha môn nghe tiếng trống phải tức tốc thăng đường xử án. Nay nhà Thanh đã mất, dân quốc hiển hiện, quan huyện không còn gọi là quan huyện mà đổi thành huyện trưởng, nhưng huyện trưởng cùng đám thuộc hạ vẫn làm việc trong cái nha môn ấy. Người trong huyện chẳng thèm gọi là chính phủ, cứ một điều nha môn, hai điều nha môn.
Nha môn không lớn, bên trong là một khoảng sân với vài gian phòng. Trên cửa các phòng đóng bảng gỗ đề tên: Khoa Giáo dục, Khoa Xã hội, Khoa Tài chính, Khoa Kiến thiết, Ban Quản lý Thuế ruộng Lương thực... Có phòng đóng một bảng, có phòng đóng đến mấy bảng chồng chéo.
Vừa nhìn thấy những bậc thềm cao ngất của nha môn, tôi đã thấy sờ sợ, chân cẳng bắt đầu run rẩy. Ngược lại, Băng Lưu Tử chẳng mảy may bận tâm, gã lững thững đi qua đi lại trước cửa, tịnh không thèm liếc mắt nhìn vào trong lấy một cái.
Tôi thì thào hỏi Băng Lưu Tử:
"Ấn vàng giấu ở phòng nào?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Tao cũng chẳng rõ."
Tôi nói:
"Nha môn người đi như mắc cửi, không ra tay được đâu, phải đợi đến tối thôi."
Băng Lưu Tử thủng thỉnh:
"Ban ngày dĩ nhiên không trộm được ấn vàng, nhưng tao vừa thấy có một mối làm ăn khác."
"Mối gì?" - Tôi hỏi.
Băng Lưu Tử chỉ lên tầng hai của khách quán bên cạnh:
"Mày nhìn xem kẻ kia làm nghề gì?"
Tôi đáp:
"Khách trọ chứ gì. Nhìn bộ tây trang hắn mặc, chắc chắn là người nơi khác đến huyện mình." Thuở ấy, chỉ có đám công tử thiếu gia ở thành phố lớn mới diện tây trang.
Băng Lưu Tử bảo:
"Mày qua trước cửa tiệm đồ da ngó nghiêng thử xem."
Tôi học bộ dạng của Băng Lưu Tử, dông dài qua lại trước dãy nhà, tiến sát cửa tiệm đồ da rồi liếc vào trong. Giữa sân treo lủng lẳng một dãy da thú đang phơi, nhìn hoa văn thì đủ loại: da cáo, da sơn dương, lại có cả da báo.
Băng Lưu Tử dẫn tôi vào khách quán, leo lên tầng hai. Gã tiến sát người mặc tây trang kia, thì thầm:
"Anh ạ, tụi em định thó mấy tấm da phơi trong sân tiệm đồ da, anh làm ơn kín tiếng cho. Chuyện thành rồi, em biếu anh một tấm da báo."
Gã mặc tây trang cười hớn hở. Gã chỉ là khách trọ, chuyện người ta trộm da chẳng liên quan gì đến túi tiền của gã, tội gì không xem cho vui, chưa kể xong việc còn được chia phần một tấm da báo quý giá.
Gã hí hửng ngồi trên cao chờ xem kịch hay, muốn tận mắt chứng kiến hai đứa nhãi ranh chúng tôi làm sao trộm được da ngay dưới mũi lão chủ và đám thợ tiệm đồ da giữa thanh thiên bạch nhật.
Băng Lưu Tử bảo tôi cứ liên tục lảng vảng trước cửa tiệm và phía đối diện đường để thu hút ánh nhìn của gã tây trang. Xong xuôi, gã rời đi đâu không rõ.
Lúc tôi hiện ra sau gốc hòe già, lúc lại lấp ló nơi bức tường đổ, khi thì thoáng qua cửa tiệm đồ da. Tôi liếc mắt thấy gã mặc tây trang vẫn đứng trên cao, dõi theo tôi đầy vẻ hứng thú.
Một lát sau, Băng Lưu Tử từ đâu lẻn ra, bảo:
"Về thôi."
Tôi theo gã chạy một mạch đến chân thành. Băng Lưu Tử nhìn quanh không bóng người mới rút từ trong túi ra một chiếc ví da, bên trong là xấp tiền dày cộm.
Tôi ngớ người:
"Ở đâu ra thế?"
Băng Lưu Tử cười khẩy:
"Của gã mặc tây trang đấy."
Tôi hỏi:
"Chẳng phải mình đi trộm da sao? Sao lại lấy tiền của hắn?"
Băng Lưu Tử nói:
"Mày thật chẳng hiểu gì cả, đây là chiêu đơn giản nhất trong nghề của tụi mình: Di hoa tiếp mộc."
Có được khoản tiền lớn từ gã tây trang, chúng tôi không quay lại tiệm tranh chữ nữa. Ở đó chỉ toàn nhận lấy những ánh mắt khinh khi và sự chèn ép. Giờ đây, chúng tôi đã có vốn liếng để sống tự do.
Chúng tôi tìm đến một huyện thành lân cận. Đó chính là nơi tôi và sư phụ Lăng Quang Tổ gặp nhau lần đầu, cũng là nơi sư phụ ra tay một nhịp đã cuỗm mất một trăm đồng đại dương của Cao lão thái gia, và cũng chính là nơi tôi suýt bị gã lưu học sinh Nhật Bản đánh cho nhừ tử.
Thuê một phòng trong khách quán, chúng tôi đóng chặt cửa, bàn tính cách trộm kim ấn của nha môn huyện Bảo Hưng. Phía Đông nha môn là Miếu Thành Hoàng, phía Tây là tiệm đồ da. Trước sau nha môn đều trống trải, không có cây cối, lại giáp mặt đường lớn, ban ngày khách bộ hành đông như trẩy hội, đêm xuống có tuần phiên đánh mõ canh gác. Nghĩa là, đột nhập từ cửa trước hay cửa sau là chuyện không tưởng. Tiệm đồ da bên cạnh cũng có người trông coi suốt ngày đêm, không thể lẻn vào. Chỉ còn Miếu Thành Hoàng phía Đông, ban ngày hương khói nghi ngút, khách thập phương tấp nập, nhưng đêm về lại vắng ngắt không một bóng người.
Bởi vậy, muốn vào nha môn, con đường tốt nhất là xuyên qua Miếu Thành Hoàng.
Miếu Thành Hoàng cao sừng sững, mái đao cong vút. Chúng tôi có thể theo cột gỗ leo lên mái, nhưng từ mái miếu mà nhảy sang tường nha môn thì không thể. Khoảng cách giữa hai bên chừng mười mấy mét, chẳng có cách nào đáp xuống tường được.
Chỉ còn nước đục tường. Đào một cái lỗ từ Miếu Thành Hoàng chui qua nha môn.
Nhưng chui vào rồi lại nảy sinh vấn đề: nha môn có bao nhiêu phòng, cửa nẻo đêm khuya chắc chắn khóa chặt, kim ấn giấu ở phòng nào? Chẳng ai biết. Chúng tôi cần phải mở khóa, lùng sục từng căn một.
Khốn nỗi, cả hai đứa đều không biết nghề mở khóa.
Băng Lưu Tử tặc lưỡi:
"Mình không biết nhưng ắt có kẻ biết."
Tôi hỏi:
"Tìm ở đâu?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Chẳng cần tìm, kẻ đó sẽ tự dẫn xác đến."
Trong lúc ở khách quán, Băng Lưu Tử lôi ra một đồng tiền đồng, mài miết lên đá. Sau hai ngày ròng rã, đồng tiền một bên chuyển vàng, một bên hóa trắng; một cạnh cùn, một cạnh sắc lẹm.
Tôi thắc mắc:
"Mài đồng tiền thành thế này làm gì?"
Băng Lưu Tử nói:
"Đây là mồi nhử để câu kẻ mở khóa."
"Đồng tiền này mà câu được người sao?"
Băng Lưu Tử bảo:
"Cứ đợi đấy mà xem, nhớ kỹ, mày không được hé môi nửa lời."
Gã dẫn tôi đến tửu lầu lớn nhất huyện ăn cơm, thản nhiên đặt đồng tiền quái dị kia lên bàn. Ngày đầu tiên, chẳng ai thèm ngó ngàng. Ngày thứ hai, vẫn không một bóng người bắt chuyện.
Đến ngày thứ ba, một thiếu niên gầy đét như thanh củi tiến lại gần, chỉ buông đúng ba chữ:
"Khang Hy Hoàng."
Băng Lưu Tử đáp:
"Đúng là Khang Hy Hoàng. Đang muốn mở Đào Nguyên, cần tìm người biết Thiết Khắc Tử."
Gã thiếu niên gầy gò gật đầu:
"Tôi biết Thiết Khắc Tử."
Nghe họ đối đáp, tôi cứ như lạc giữa màn sương mù. Dẫu lăn lộn giang hồ nhiều năm, thuộc làu tứ đại danh tác của phái Giang Tướng: Anh Diệu Thiên, Quân Mã Thiên, Trát Phi Thiên, A Bảo Thiên, vậy mà lời họ nói tôi vẫn không tài nào hiểu nổi.
Sư phụ Lăng Quang Tổ từng dạy, giang hồ trăm nghề, cách nghề như cách núi, mỗi hội nhóm đều có mật ngữ riêng. Băng Lưu Tử muốn trộm ấn, hẳn họ đang dùng "hắc thoại" của giới đạo tặc.
Gã thiếu niên nhanh chóng nhập bọn. Gã tự xưng là kẻ "đơn thương độc mã", cách đây không lâu, sư phụ và sư huynh gã khi đang "làm việc" ở Khai Phong đã sa lưới quan phủ, chỉ mình gã thoát được. Trong nghề trộm cắp, kẻ làm việc một mình thế này được gọi là "Độc giác tiên".
Sau này họ mới giải thích cho tôi: đồng tiền mài sắc kia gọi là "Khang Hy Hoàng", dùng để rạch túi, cắt áo lấy tiền. Khi dùng kẹp vào khe ngón tay, chỉ cần lướt nhẹ một đường là xong xuôi. "Mở Đào Nguyên" nghĩa là đục tường khoét vách, còn "Thiết Khắc Tử" chính là ngón nghề cạy cửa mở khóa.
Gã thiếu niên gầy gò ấy có biệt danh giang hồ rất kêu: Nhất Chúc Hương. Nhìn cái thân hình khẳng khiu của gã, cái tên này quả thực không sai vào đâu được.
Ba đứa chúng tôi, hai kẻ là cao thủ trộm cắp, còn tôi cứ như kẻ thừa thãi. Nhưng rất nhanh sau đó, tôi đã tìm được đất dụng võ, bởi tôi từng có thời gian làm hòa thượng.
Muốn đục tường vào nha môn cần đến thợ chuyên nghiệp. Gạch tường ở đó là loại gạch vuông cổ, vừa to vừa dày, lại thêm tường xây đã lâu, nếu đục không khéo sẽ gây sụp đổ. Tường sập, kinh động lân bang thì coi như xôi hỏng bỏng không.
Tôi cải trang làm hòa thượng, tìm đến một thôn nhỏ cạnh huyện thành để mời một lão thợ ngoã tay nghề cao cường. Tôi cạo trọc đầu, khoác cà sa, tay gõ mõ tìm đến nhà lão, bảo rằng Miếu Thành Hoàng cần trùng tu, muốn thông sang nha môn nên cần trổ một cửa nhỏ trên tường. Lão thợ ngoã sảng khoái đồng ý ngay, bảo rằng làm việc cho nhà chùa là tích đức cho Bồ Tát, lão quyết không lấy một xu tiền công.
Bốn người chúng tôi: Băng Lưu Tử, Nhất Chúc Hương, lão thợ ngoã và tôi, theo con đường rải xỉ than nối giữa hai huyện mà tiến về Bảo Hưng.
Khi đến nơi, ráng chiều đã nhuộm đỏ không gian. Miếu Thành Hoàng không còn khách khứa, người trong nha môn cũng đã tan làm. Tôi chỉ vào bức tường bảo lão thợ ngoã:
"Nay muộn rồi, chẳng làm được bao nhiêu, bác cứ khoét tạm một cái lỗ ở đây, mai lại tiếp tục."
Lão thợ ngoã cầm dao ngoã và xẻng, tiếng gõ "pinh păng" vang lên. Lão lách lưỡi dao vào khe gạch, dùng sức bẩy nhẹ, lớp vôi trắng rụng lả tả. Lão thợ quả là bậc thầy, lỗ hổng lão đục phía trên có hình vòm để chịu lực, nhờ thế mà bức tường cổ không bị đổ sụp.
Lỗ hổng vừa xong thì trời cũng sụp tối. Chui qua lỗ hổng ấy, tôi nhìn thấy gốc phong già trong sân nha môn và đôi cánh cửa đóng chặt. Tôi tiễn lão thợ ngoã về nghỉ, hẹn mai tới sớm.
Lão đi rồi, chúng tôi đóng chặt cửa miếu, nối đuôi nhau chui qua lỗ hổng vào nha môn. Đứng giữa nơi mà tôi hằng coi là thần thánh uy nghiêm này, tôi nhìn những gian phòng trong bóng đêm, lòng bỗng trào dâng một nỗi tự hào kỳ lạ: "Nha môn thì đã sao? Chẳng phải lão tử đã vào được đây rồi đó ư?"
Nhất Chúc Hương đúng là bậc thầy mở khóa. Gã chỉ dùng một đoạn dây sắt nhỏ, uốn cong đầu, thọc vào lỗ khóa, khẽ móc một cái là khóa mở. Nhưng bên trong mỗi phòng đều sơ sài, chỉ vài cái bàn, đôi cái ghế băng. Tìm khắp lượt, chẳng thấy ấn vàng đâu, đến một món đồ giá trị cũng không có.
Cả bọn thất vọng tràn trề. Bỗng tôi thấy viện này còn có một cửa sau, qua khe cửa thấy thấp thoáng một gian phòng có kiến trúc khác hẳn, trông như một ngôi miếu nhỏ. Cửa sau không khóa, chỉ có hai vòng cửa gỉ sét được buộc chặt bằng sợi dây thép to bản. Chúng tôi loay hoay mãi không mở được.
Băng Lưu Tử nhìn cây phong cao lớn, nảy ra tối kiến. Gã lấy sợi dây thừng dài tìm được trong phòng, vắt lên vai leo lên cây, một đầu buộc vào cành, đầu kia quấn quanh eo rồi khẽ đu người đáp xuống tường, từ đó trượt xuống hậu viện. Nhất Chúc Hương cũng theo cách đó mà vào. Đám đạo tặc này đứa nào đứa nấy cũng gầy nhom, nhanh nhẹn như sóc.
Băng Lưu Tử hỏi vọng ra xem tôi có vào được không. Để phô diễn tài năng, tôi bảo gã buộc đầu dây vào vòng cửa phòng phía trong, rồi tôi như tiên tử lướt sóng, đu mình từ trên cao đáp xuống nhẹ nhàng.
Hai gã kia nhìn mà ngây người:
"Mày cũng có ngón nghề này sao?"
Tôi cười:
"Tao bẩm sinh đã biết đi dây. Chúng mày mới thấy tao khắc ấn, chứ nghệ thuật đi dây của tao còn cao thâm hơn nhiều."
Gian phòng ở hậu viện này nồng nặc mùi ẩm mốc. Trước cửa là những bậc thềm cao, bước lên thấy trơn trượt vô cùng vì rêu xanh phủ kín. Một ổ khóa sắt to tướng treo lủng lẳng giữa đôi cánh cửa, Nhất Chúc Hương hì hục mãi vẫn không mở nổi. Bỗng từ xa vọng lại tiếng gõ mõ cầm canh, tiếng bước chân một nặng một nhẹ. Nặng là người, nhẹ là chó.
Chúng tôi nằm rạp xuống bậc thềm ướt nhẹp, không dám thở mạnh. Tôi cảm thấy một con côn trùng bò qua trán, rồi một cơn đau nhói ập đến. Đau thấu xương nhưng tôi chỉ biết nghiến răng chịu đựng. Tiếng bước chân xa dần, chúng tôi mới dám lồm cồm bò dậy.
Khóa cửa không mở được, chúng tôi thử cạy cửa sổ. Thật chẳng ngờ, sau khi gỡ được lớp chấn song hoa văn, chỉ cần dùng dao nhỏ lách qua khe là gạt được then cài bên trong.
Vừa nhảy vào trong phòng, mùi bụi bặm nồng nặc sộc thẳng vào mũi, kèm theo tiếng "chít chít" của đám chuột chạy tán loạn dưới chân. Nhất Chúc Hương rút từ trong túi ra một bao diêm, quẹt một cái, lửa bùng lên làm căn phòng sáng rực. Tôi và Băng Lưu Tử kinh ngạc nhìn những que "dương hỏa" ấy như nhìn thấy phép thuật.
Nhất Chúc Hương đắc ý:
"Thứ này gọi là dương hỏa, lửa giấu trong cái hộp nhỏ này, cần thì quẹt nhẹ là ra."
Băng Lưu Tử hỏi mượn, gã thích thú lật đi lật lại cái hộp giấy nhỏ rồi bỏ tọt vào túi mình: "Tao giữ hộ mày một lát cho đỡ ghiền."
Nhất Chúc Hương đốt một cây sậy khô làm đuốc. Ánh lửa bập bùng soi rõ một chiếc tủ gỗ khổng lồ dựa tường, trên đó treo một ổ khóa đồng. Nhất Chúc Hương mở khóa, nhảy tọt vào trong tủ mò mẫm. Bỗng gã reo lên, giơ cao một vật vàng óng:
"Ấn vàng đây phải không?"
Băng Lưu Tử đón lấy, rồi bảo gã tìm xem còn gì quý giá không. Nhất Chúc Hương bảo toàn là giấy tờ, công văn. Bỗng nhiên, Băng Lưu Tử sập mạnh nắp tủ, tra khóa đồng lại. Tôi nghe tiếng Nhất Chúc Hương đấm thình thình vào nắp tủ, kêu cứu thất thanh, nhưng tiếng kêu qua lớp gỗ dày cứ mờ đục, nghèn nghẹt.
Tôi chưa kịp hiểu chuyện gì, Băng Lưu Tử đã lôi tuột tôi ra ngoài. Chúng tôi theo dây thừng leo lên cây phong, chui qua lỗ hổng, trở về Miếu Thành Hoàng. Tiếng tuần đêm lại vọng tới, chúng tôi nép sau bức tượng Phật, im phăng phắc. Khi im ắng trở lại, gã giấu kim ấn lên đỉnh đầu tượng Phật rồi tìm đến khách quán cạnh tiệm đồ da nghỉ lại.
Lúc ấy đã quá nửa đêm. Băng Lưu Tử mân mê bao diêm, miệng lẩm bẩm: "Lạ thật, sao lửa lại giấu được trong này nhỉ?"
Tôi lo lắng hỏi:
"Nhất Chúc Hương có bị ngạt chết trong tủ không?"
Băng Lưu Tử thản nhiên:
"Không đâu, tủ có khe hở mà. Sáng ra, người nha môn thấy lỗ hổng trên tường, thấy mất ấn, ắt sẽ tìm thấy gã."
"Sao mày lại nhốt gã vào đó?"
Băng Lưu Tử cười xảo quyệt:
"Đây gọi là Kim thiền thoát xác. Tao đã rỉ tai Nhất Chúc Hương là lấy được ấn sẽ mang về tỉnh lỵ bán. Gã tin sái cổ. Sáng mai bị bắt, gã chắc chắn sẽ khai chúng ta chạy về hướng tỉnh lỵ. Đám lính lác sẽ điên cuồng đuổi theo hướng đó, có nằm mơ chúng cũng không ngờ kim ấn chỉ cách chúng mười mấy mét, còn tụi mình thì đang ngủ ngay sát vách."
Tôi lạnh người. Băng Lưu Tử quả thực cao tay, nhưng cũng quá đỗi tàn nhẫn. "Di hoa tiếp mộc", "Kim thiền thoát xác", cái gã thiếu niên gầy nhom ấy sở hữu một bộ óc tinh quái mà ngay cả người lớn cũng khó lòng bì kịp.
Sáng hôm sau, khắp phố phường xôn xao chuyện kim ấn nha môn bị trộm, một tên tặc đã sa lưới. Tôi và Băng Lưu Tử thản nhiên ngồi húp dầu trà ở một quán ven đường. Bỗng sau lưng vang lên tiếng vó ngựa dồn dập, tôi quay lại nhìn rồi giật mình quay phắt đi.
Nhất Chúc Hương, mặt đầy vết máu, đang bị đám người cưỡi ngựa áp giải phóng ra khỏi cửa thành. Tôi biết họ đang đuổi về phía tỉnh lỵ để săn lùng chúng tôi.
Về đến khách quán, tôi đòi thu dọn hành lý chuồn ngay, nhưng Băng Lưu Tử cản lại. Gã bảo giờ ra đường chỉ có nước đâm đầu vào họng súng, chi bằng cứ ở lại đây thêm vài ngày. Quả thực, "nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất", chẳng ai ngờ bọn trộm lại dám ở ngay dưới mắt quan phủ.
Hai ngày sau, chúng tôi theo đường mòn tìm về Chu Gia Khẩu. Trong lòng ôm khăng khăng cái kim ấn nhưng chẳng biết bán cho ai. Đi đường lớn thì tự dẫn xác vào lưới, chi bằng tìm lão già sơn dương. Lão không chỉ bán đồ giả mà còn thu mua đồ thật, tính tình cũng chẳng đến nỗi nào. Chỉ cần bán được ấn, chúng tôi sẽ cao chạy xa bay.
Nhưng khi đến nơi, lão già sơn dương đã thần trí bất minh, chẳng còn nhận ra ai, nhìn thấy kim ấn cũng chẳng mảy may xúc động. Trong nhà lão xuất hiện một người đàn bà trẻ tuổi, dáng vẻ lẳng lơ nhưng ánh mắt lại đầy thù hận nhìn chúng tôi.
Chúng tôi lủi thủi rời đi. Tôi thắc mắc vì sao lão lại ra nông nỗi ấy, Băng Lưu Tử bảo: "Là do Tiệm Quan Tài sắp đặt đấy."
Hóa ra, lão già sơn dương vì tranh giành mối làm ăn lớn của Tiệm Quan Tài, lại còn làm hỏng danh tiếng của họ nên bị trả thù. Tiệm Quan Tài đã gài một con đĩ chờ lão ở dọc đường. Sau khi mây mưa, lão đưa thị về nhà, chẳng ngờ thị hằng ngày lén bỏ thạch tín vào bát cơm của lão, khiến lão sống không được mà chết cũng không xong để chiếm đoạt gia sản.
Tôi kinh hãi: "Sao mày biết rõ thế?"
Băng Lưu Tử nháy mắt: "Vì tao vốn là người của Tiệm Quan Tài."
Tôi đứng hình. Hóa ra gã là gián điệp được cài vào tiệm tranh chữ để thám thính tình hình. Hèn chi những lần trước tôi đi giao hàng đều bị kẻ khác hớt tay trên, chỉ có lần đi Hậu Lý Thôn là gã không kịp báo tin nên mới thoát. Nay gã bỏ trốn vì sợ Tiệm Quan Tài truy cứu trách nhiệm sau những phi vụ thất bại gần đây.
Cuối cùng, chúng tôi quyết định tìm đến lão già bí ẩn ở Hậu Lý Thôn. Nơi thâm sơn cùng cốc ấy là chỗ trú ẩn tuyệt vời nhất.
Vượt qua những triền núi hoang vắng, chúng tôi tìm đến nhà lão vào một buổi chiều muộn. Lão già bí ẩn tỏ ra kinh ngạc khi thấy chúng tôi quay lại. Chúng tôi chìa kim ấn ra, lão xem xét hồi lâu rồi lấy cân tiểu ly và một chậu nước ra đo đạc. Sau một hồi tính toán tỷ trọng, lão buông một câu xanh rờn:
"Đây không phải ấn vàng, là ấn đồng."
Chúng tôi chết lặng. Ấn vua ban sao có thể là giả? Lão già giải thích: tỷ trọng này chỉ là đồng, có lẽ từ đời thuở nào kim ấn thật đã bị kẻ nào đó tráo đổi mất rồi.
Tôi bàng hoàng. Ở cái huyện Bảo Hưng này, đến cái kim ấn trong nha môn còn là đồ giả, thì còn thứ gì là thật nữa đây? Tình nghĩa phu thê, bằng hữu, làm ăn... tất cả đều được xây dựng trên sự giả dối. Chúng tôi nhọc lòng bao ngày, cuối cùng lại trộm về một món đồ giả.
Đêm đó, chúng tôi ngủ lại nhà lão. Nửa đêm, tôi trở dậy định đi tiểu, thấy phòng lão vẫn sáng đèn nên tò mò ghé mắt nhìn qua khe cửa. Tôi chết sững khi thấy Thuận Oa và một lão già lạ mặt đang bàn với lão chủ nhà chuyện giết chết chúng tôi để bịt đầu mối, tránh việc chúng tôi bị quan phủ bắt rồi khai ra họ.
Thuận Oa gọi lão già bí ẩn kia là "Đương gia". Hóa ra lão không phải là kẻ dưới đáy xã hội như chúng tôi tưởng, mà chính là con "gừng già" đứng đầu cả một đường dây ma mãnh. Cả tôi và Băng Lưu Tử đều đã nhìn lầm người.
Tôi run rẩy bò về phòng, lay tỉnh Băng Lưu Tử:
"Chạy mau, tụi mình rơi vào hang cọp rồi!"
Vừa đẩy cửa định thoát ra sân, chúng tôi đã thấy Thuận Oa cùng hai lão già kia lù lù đứng đó, tay lăm lăm dao nhọn và dây thừng.
Tôi đổ gục xuống, toàn thân run bắn như cầy sấy.

(Tổng: 4173 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0