Tổ Bịp
- 6723 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 62: Người mù kể chuyện
Chiều hôm đó, chúng tôi lên đường, lùa theo hơn chục con lạc đà. Trên lưng lạc đà là những bao tải muối và trà, cả đoàn tiến về hướng tây. Đám lạc đà khách có hơn mười người, ngoài Lão đương Gia và Quang Đầu, còn có một người đàn ông ít nói, mặt chi chít nốt tàn nhang. Tôi nghe mọi người gọi hắn là Hoa Diện Ly.
Thằng mũi hếch không đi cùng.
Ra khỏi Trương Gia Khẩu, trời càng lúc càng tối. Quang Đầu vỗ vai một người thấp bé, người đó lập tức nằm rạp xuống đám cỏ ven đường, còn đoàn lạc đà vẫn chậm rãi tiến về phía trước.
Người thấp bé đó nằm trong bụi cỏ để làm gì? Tôi muốn hỏi, nhưng thấy sắc mặt Quang Đầu và Báo Tử đều nghiêm nghị, đành giữ thắc mắc trong lòng.
Đi thêm một quãng, phía trước hiện ra một ngôi làng. Trong làng tối đen như mực, im lìm như một nấm mồ khổng lồ. Quang Đầu đi đến trước một căn nhà ở đầu làng, khẽ gõ lên vòng sắt trên cửa, hai tiếng dài rồi ba tiếng ngắn, sau đó lại hai tiếng dài ba tiếng ngắn. Cánh cửa gỗ kèn kẹt mở ra. Quang Đầu không nói lời nào với người mở cửa, chỉ vẫy tay ra hiệu, cả đoàn lạc đà lần lượt đi vào.
Rõ ràng người trong nhà rất quen thuộc với đám lạc đà khách. Dù chẳng ai nói một câu, nhưng họ thuần thục buộc lạc đà vào cột gỗ giữa sân, rồi từng người vào phòng nghỉ ngơi.
Tôi nghĩ, những người đi đường dài như họ chắc đã quen lộ trình này, đi nhiều năm rồi, ăn đâu nghỉ đâu đều có địa điểm cố định. Bằng không, mang theo hàng hóa quý giá như vậy mà lại liều lĩnh nghỉ lại, ăn uống ở một nơi hoàn toàn xa lạ, e rằng chưa kịp ngủ say đã bay mất đầu, hoặc bị người ta đánh thuốc mê rồi.
Lần đầu theo chân đoàn lạc đà khách hộ tống hàng hóa, tôi cũng thấy nôn nao, cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Tôi nhìn ánh trăng xuyên qua song cửa sổ, in bóng xuống nền gạch xanh. Một con chuột nhỏ chạy vào trong vệt sáng, ngơ ngơ ngáo ngáo nhìn quanh. Bỗng nhiên, ngoài cửa có tiếng gõ cửa khẽ khàng, vẫn là hai tiếng dài ba tiếng ngắn, rồi lại hai tiếng dài ba tiếng ngắn.
Tôi bò dậy, ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ, thấy trong ánh trăng, người thấp bé ban nãy đang đi tới. Giọng Quang Đầu vọng ra: “Có ai theo dõi không?”
Người kia đáp: “Không có.”
Quang Đầu nói: “Về ngủ đi.”
Tôi chỉ nghe thấy giọng của Quang Đầu, chứ không thấy người đâu. Tôi đảo mắt nhìn quanh, như con chuột mò mẫm trong vệt sáng vừa nãy nhưng vẫn không phát hiện ra người đó. Quang Đầu đang nấp ở đâu?
Đang nghi ngờ, tôi chợt thấy một bóng đen di động dưới mái hiên. Ở đó có người đang ngồi, hắn vén tấm chiếu cỏ phủ trên mình, bước ra ánh trăng. Trăng sáng soi lên cái đầu nhẵn bóng, chính là Quang Đầu.
Thì ra ông vẫn ẩn mình dưới tấm chiếu ấy.
Trên quãng đường này, cảnh giới thật là nghiêm ngặt.
Tôi rời cửa sổ, nằm xuống nền đất trải rơm, nhưng trở mình mãi vẫn chẳng sao ngủ được. Gần nửa đêm, cổ họng khô rát, nhớ lúc mới vào sân có thấy một cái chum nước ở góc tường, bèn khẽ mở cửa, đi ra uống.
Nước trong chum còn một nửa, một cái gáo bằng vỏ bầu cưa đôi nổi lềnh bềnh trên mặt. Tôi múc nước, uống ừng ực nửa gáo, rồi định dùng nửa còn lại để rửa mặt.
Bỗng phía sau vang lên giọng nói: “Đừng rửa, nước ấy không rửa được đâu.”
Tôi quay phắt lại, không thấy ai. Khi nãy Quang Đầu ẩn dưới mái hiên, nhưng giờ trăng đã ngả về tây, soi trọn khoảng hiên trống rỗng. Giọng nói ấy phát ra từ đâu? Người đó đang nấp chỗ nào, tôi tìm mãi vẫn không thấy.
Tôi muốn biết hắn đang nấp ở đâu nên cố tình hỏi:
“Vì sao lại không rửa được?”
Giọng kia đáp: “Không rửa được là không rửa được, mau đi ngủ đi.”
Trong sân có mấy cây ngô đồng cao lớn, tiếng nói phát ra từ hướng ấy. Tôi đoán đó chính là ám tiêu mà đoàn lạc đà khách bố trí. Chuyến đi này họ chuẩn bị giao đấu trực diện với bọn đạo tặc, nên cực kỳ cảnh giác.
Tôi quay về phòng, chẳng bao lâu đã ngủ thiếp đi.
Sáng ra, tiếng rống của lạc đà đã đánh thức tôi. Tôi vội ngồi bật dậy, thấy các lạc đà khách đã thu dọn xong hành lý. Ai nấy mặt mũi lấm lem, tóc tai dính đầy cỏ khô, quả nhiên chẳng người nào rửa mặt. Thật kỳ lạ, vì sao họ lại không rửa?
Từ Trương Gia Khẩu đi về phía tây là sa mạc Qua Bích mênh mông. Suốt chặng đường, đám lạc đà khách lúc nào cũng căng thẳng, dõi mắt quan sát mọi dấu hiệu khả nghi, nhưng may mắn là không xảy ra biến cố nào.
Dẫu bình an vô sự, không khí vẫn nặng nề. Theo quy tắc giang hồ, đoàn tiêu chỉ đi lúc trời sáng, tối là phải nghỉ. Gặp gió cát hay mưa rơi thì tuyệt đối không được xuất hành.
Đến Định Biên ở phía bắc Thiểm Tây, gió cát thổi dữ quá, nên chúng tôi dừng lại nghỉ một ngày. Ở đây, tôi lại gặp một người kể chuyện mù. Thiểm Bắc là vùng nghèo nhất của Thiểm Tây, mà “Tam Biên” lại chính là nơi nghèo nhất của Thiểm Bắc. “Tam Biên” tức ba vùng Định Biên, An Biên, Tĩnh Biên. Mười năm thì hết chín năm hạn, ra khỏi cửa chẳng thấy trời, nhà dựng bằng cành cây khô, trẻ con chỉ biết ăn cháo ngô loãng mà lớn lên… Cả vùng cây cối thưa thớt, đến gỗ dựng nhà cũng thiếu; ruộng đồng cằn cỗi, đến bữa ăn no cho con trẻ cũng chẳng đủ. Nghèo đói đến thế, người ta phải bỏ xứ mà đi. Những người mù nơi này ra khỏi quê đều hành nghề kể chuyện, cho nên Tam Biên nổi tiếng là đất sản sinh ra người mù kể chuyện, xưa đã vậy, nay vẫn thế.
Người kể chuyện hôm đó ngồi trong một ngôi miếu đổ nát dưới chân thành Định Biên, giọng ông vang lên giữa đám đông chen chúc. Ở vùng đất cùng khổ này, con người chẳng còn thú vui tinh thần nào khác.
Hôm ấy, người kể chuyện mù nói về Anh liệt Tùy Đường, kể đến đoạn Tần Quỳnh bán ngựa. Tần Quỳnh là danh tướng phò tá cha con họ Lý lập nên nhà Đường, cũng là bậc anh hùng nghĩa khí. Người kể chuyện mù tả về ông ta: Hiếu thảo với mẹ chẳng kém gì Chuyên Chư, kết bạn nghĩa khí hơn cả Mạnh Thượng; là Thần Quyền Thái Bảo, Song Giản Đại Tướng, dùng roi đánh khắp sáu phủ Sơn Đông, ngựa tung vó dọc hai bờ Hoàng Hà, oai danh chấn động nửa vùng Sơn Đông.”
Nghe đến đó, lòng tôi dâng lên một niềm kính phục mãnh liệt, thầm nguyện cả đời phải trở thành người như Tần Quỳnh.
Tôi từng học trường tư thục, biết chuyện Chuyên Chư và Mạnh Thượng. Khi vua Phù Sai của nước Ngô còn là công tử, mưu giết anh họ là Ngô Vương Liêu, bèn tìm Chuyên Chư làm thích khách. Nhưng Chuyên Chư còn mẹ già, mãi chưa chịu đi. Mỗi lần được Phù Sai khoản đãi, món ngon trước mặt, ông đều không nỡ ăn, lại gói về cho mẹ. Còn Mạnh Thượng thì nổi tiếng trọng nghĩa khinh tài, hào hiệp giúp người, bạn bè gặp khó, nhất định mở hầu bao cứu giúp.
Trăm điều thiện chữ hiếu đứng đầu. Bởi lẽ, người đã có lòng hiếu thảo, dù có chẳng may làm điều xấu, thì cũng chẳng thể tàn độc. Còn tiền tài dẫu sao cũng chỉ là thứ phù du như đất cát, vì thế người biết trọng nghĩa mà rộng tay chi tiền, nhất định là một người đáng để chúng ta tin cậy.
Tần Quỳnh có võ nghệ cao cường, nên mới hóa nguy thành an, gặp dữ hóa lành. Một người đã bước chân vào chốn giang hồ, nếu không có võ công thì làm sao sống được chứ? Thế nên, khi đã vào Tiêu Cục rồi, tôi sẽ phải tập luyện công phu mỗi ngày. Tôi nhất định phải trân trọng cơ hội này để luyện cho mình một thân võ nghệ thật tài giỏi.
Khi câu chuyện Tần Quỳnh bán ngựa kết thúc, đám đông giải tán. Tôi thấy bên góc tường miếu có một sạp cờ tướng. Chủ sạp là một lão già để râu ba chòm, hai mắt lim dim, thỉnh thoảng lại vuốt râu bằng móng tay dài, dáng vẻ như tiên ông giáng trần. Trước mặt ông là một ván cờ thế, chỉ còn lại hơn mười quân: xe, mã, pháo, tốt… Quanh sạp cờ người xem đông nghịt, ai nấy chỉ trỏ bàn luận râm ran.
Gió vẫn gào thét, cát bay mù mịt, trời chẳng thấy đâu. Hôm nay chắc chắn không thể tiếp tục đi vận tiêu, tôi chẳng có việc gì nên cũng đứng xem ván cờ ấy.
Thuở nhỏ học tư thục, thầy tôi mê chơi cờ tướng, nhưng trong làng không ai đánh được với ông. Nông dân quanh năm vất vả, suốt ngày đầu tắt mặt tối, phải làm lụng từ sáng tới chiều, ai mà có thì giờ rảnh rỗi để đánh cờ chứ. Vì thế, thầy luôn thấy cô đơn, mong đào tạo vài học trò để cùng ông chia sẻ niềm vui hiếm hoi đó. Tôi vẫn nhớ trong phòng thầy có một bàn cờ, mép viền có khắc một bài thơ dài. Mấy câu đầu như sau:
“Luận thế cục hai bên tương đương. Phân thắng bại mỗi bên toan tính. Chớp mắt sinh ra trăm mưu ngàn kế.
Đắc ý tung hoành, mặc cho xung kích. Phòng xa lo liệu, chẳng để sơ hở. Nhìn nhân thế tranh cuộc hơn thua, bận rộn tựa như bàn cờ…”
Bài thơ dài ấy, hồi còn học ở trường tư thục, tôi chưa thể hiểu được ý nghĩa sâu xa, tuy nhiên vẫn ghi nhớ nó trong lòng. Sau mấy năm bôn ba trên giang hồ, cuối cùng tôi đã dần dần thấu hiểu được nội dung bài thơ muốn truyền tải. Thật vậy, sống trên đời này, chẳng phải con người ta ai ai cũng đều khổ sở vì tiền tài, mà sinh ra tranh giành, lừa lọc lẫn nhau hay sao? Vậy thì, cuộc sống này há chẳng phải cũng y hệt như một ván cờ sao?
Đúng vậy, đời người cũng như một ván cờ.
Lão già râu ba chòm trông vẻ điềm nhiên, thần sắc thâm sâu khó lường, nhưng tôi nhận ra kỳ thực cờ nghệ của ông chỉ ở mức xoàng. Trong thời gian ngắn, ông liên tiếp thua ba ván liền. Mỗi lần thua, ông lại miễn cưỡng móc trong túi ra vài tờ tiền giấy, dúi cho đối thủ, mặt mũi chẳng mấy vui vẻ.
Đến ván thứ tư, khi ông vừa nhấc quân cờ chuẩn bị đặt xuống, tôi đã thấy đó là một nước sai, nên buột miệng kêu lên:
“Không thể đi nước ấy!”
Mấy người đứng xem xung quanh ngay lập tức hùa theo: “Đi đi, đi đi. Cờ đã hạ là không hối hận!”
Đối thủ của ông lão là một thanh niên. Gã liếc nhìn tôi, rồi ghé sát nói nhỏ: “Trông là biết huynh là cao thủ, hay là chúng ta liên thủ, vét sạch túi lão này.”
Tôi nhìn ra lão già râu ba chòm chỉ là tay tầm thường, đã thua ba ván, mà ván thứ tư xem chừng cũng sắp thua nữa. Trong lòng thoáng động, suýt nữa đồng ý bắt tay với gã thanh niên để hốt bạc. Nhưng chợt nghĩ lại: không đúng. Nếu quả thật lão ta đánh kém đến vậy, sao lại dám bày sạp cờ ngoài đường? Nếu ngày nào cũng thua trắng mắt, còn bày cờ làm gì? Người mở sạp không kiếm tiền thì thôi, chẳng lẽ lại mở sạp để phát tiền thiên hạ? Trên đời này, chắc chẳng có kẻ ngốc như thế.
Vậy nên, lão già râu ba chòm này nhất định là người trong giang hồ.
Tôi lùi ra sau một bước, quay lưng giả vờ không để ý, nhưng đôi tai vẫn căng lên, nghe rõ từng tiếng động bên ấy.
Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy họ nói chuyện với nhau bằng ám ngữ giang hồ, và điều họ bàn lại chính là về tôi.
Giọng lão già râu ba chòm nói: “Hôm nay nước kém, chỉ câu được hai ba mống, mà thằng kia thì chẳng mắc câu.”
Ý ông ta là hôm nay lừa chẳng được bao nhiêu người, còn tôi thì cảnh giác, không sa bẫy.
Một giọng khác đáp: “Đây là cùng chủng tử, không phải khoát chủng tử” (Thằng đó là dân nghèo, không phải dân có của.)
Lão già râu ba chòm lại nói: “Tìm khoát chủng tử, lôi vào lò mà làm việc.” Tức là phải nhắm người giàu có, dụ vào nơi vắng vẻ rồi ra tay.
Đến đây, tôi hiểu ra tất cả. Lão già râu ba chòm này không phải người chơi cờ thật, mà là lão nguyệt trong giang hồ. Ở chốn giang hồ, bọn buôn người gọi là Lão Tra, bọn trộm cắp gọi là Lão Vinh, còn bọn giăng bẫy lừa tiền như hắn thì gọi là Lão Nguyệt.
Chiều xuống, tôi quay về khu trọ của lạc đà khách. Lạc đà đều bị buộc vào cột gỗ sát tường, nhẩn nha nhai đám rơm khô, phát ra tiếng sột soạt. Thiểm Bắc nghèo khổ đến mức không chỉ người chẳng có ăn, mà súc vật cũng thiếu cỏ. Lạc đà chỉ gặm được thân cây kê khô. Vùng đất này cằn cỗi, quanh năm hạn hán, không trồng nổi lúa mì hay lúa nước, chỉ hợp với loại ngũ cốc chịu hạn như kê và cao lương. Kê giã ra phơi khô sẽ thành hạt tiểu mễ; còn cao lương nghiền nhỏ có thể hấp thành bánh bao.
Nhiều năm sau, trong bộ phim tài liệu nổi tiếng “Vị Trên Đầu Lưỡi Trung Hoa”, có một ông già ở Tùy Đức đứng giữa phố rao bán “Bánh đậu Hán”, loại bánh bao nhân đậu đỏ, vỏ làm bằng bột cao lương, chính là món ăn đặc sản sinh ra từ cái nghèo của vùng đất Thiểm Bắc này.
Báo Tử và đám lạc đà khách ngồi quây tròn trước cửa hang đất. Giữa vòng, đặt một ấm trà và một chén sành. Trà là loại trà bánh đặc vùng biên, có vị đắng chát nhưng lại giải khát rất tốt. Theo quy củ tiêu cục, trên đường đi tuyệt đối không được uống rượu, sợ say sưa mà để lỡ mất công việc.
Họ đang ngồi kể “cổ kinh”, những chuyện lạ trong giang hồ.
Quang Đầu nói: “Hồi tôi mới mười mấy tuổi, một đêm đi đường, lúc đi ngang qua bãi tha ma, nghe trong đó vọng ra âm thanh kỳ quái, y như tiếng trẻ con khóc. Tôi cũng gan lắm, nhặt hòn đá ném vào, tiếng khóc im bặt. Tôi lại tiếp tục đi, đi được một quãng, tiếng khóc ấy lại nổi lên phía sau. Tôi đi nhanh, nó cũng đi nhanh; tôi đi chậm, nó cũng đi chậm. Quay đầu lại nhìn, trăng sáng vằng vặc mà chẳng thấy bóng ai, tiếng khóc thì vẫn còn. Lúc ấy tôi mới thấy sợ.”
Một gã lạc đà khách mắt híp hỏi: “Vậy rốt cuộc nó là cái gì?”
Quang Đầu đáp: “Tôi cũng chẳng biết. Khi đó sợ quá, tôi cắm đầu chạy, chạy vào một khu rừng thông. Rừng không lớn, chừng ba bốn dặm vuông, vượt qua đó là đường cái, mà đường cái thì dẫn về làng, nên tôi nghĩ thoát rồi. Nhưng lạ thay, đêm ấy tôi chạy mãi vẫn không ra khỏi rừng. Trong rừng tiếng cú kêu vang, âm u rợn người, khiến tôi nổi hết da gà. Mãi đến sáng, có người đi ngang qua rừng thông, thấy tôi cứ vòng quanh một gốc thông, bèn vỗ mạnh sau lưng một cái, tôi lập tức ngã lăn ra đất, phải mất một lúc lâu mới tỉnh lại.”
Báo Tử nói: “Đó là quỷ đả tường. Ở quê tôi, người ta gọi là “bị chắn”
Quang Đầu hỏi: “‘Chắn’ là gì?”
Báo Tử đáp: “‘Chắn’ tức là bị ma chặn đường. Nếu không bị ma chắn, sao anh lại quanh quẩn mãi trong rừng thông, không tài nào ra được?”
Gã mắt híp nói: “Chuyện bị ma dắt, nhiều người từng gặp rồi, chuyện của ông chẳng có gì lạ. Để tôi kể cho nghe một chuyện mà tôi từng gặp.”
Mọi người đều quay sang nhìn gã mắt híp, chăm chú lắng nghe câu chuyện của hắn.
Gã Mắt Híp kể: “Hồi ấy tôi mười tám tuổi. Tôi còn nhớ rõ lắm, đúng là mười tám. Một mình tôi trở về từ nhà ngoại, lúc ấy trời đã nhá nhem. Dọc đường, tôi thấy phía trước có một cô gái, mặc áo lụa xanh biếc, gió thổi phần phật, dáng người thon thả, eo lưng uyển chuyển, phải nói là đẹp mê hồn. Cô ta đi trước, tôi đi sau. Cô gái dường như biết tôi đang nhìn nên khẽ đánh hông, đung đưa bím tóc. Lúc ấy tôi còn trẻ, thấy dáng vẻ quyến rũ như thế thì không kìm được, liền bước lên trêu ghẹo. Không ngờ mới nói dăm ba câu, cô ta đã liếc mắt đưa tình, thế là tôi ôm luôn vào lòng.”
Cả bọn cười ầm lên, có người hỏi: “Rồi sao, có xơi được không?”
Gã Mắt Híp đáp: “Không”
Lại có người cười khanh khách: “Thôi đi ông, ai tin nổi? Sao lại không xơi chứ?”
Gã nói: “Giữa đường giữa sá, người qua lại tấp nập, làm sao mà làm được?”
Có người xen vào: “Thế thì chẳng phải làm người ta sốt ruột chết đi à?”
Mắt Híp tiếp tục kể: “Tôi với cô ấy đi thêm một đoạn, vẫn chưa tìm được chỗ thích hợp, vì trước sau đều có người qua lại. Sau tôi thấy bên đường có lối nhỏ dẫn vào bãi bụi rậm, cô gái khẽ ra hiệu, tôi liền đi theo. Nào ngờ vừa bước vào đó, đã có bảy tám gã đàn ông nhảy ra, kẻ cầm xẻng, kẻ cầm cuốc, miệng quát tháo: “Bọn tao tìm con đàn bà này đã lâu, không ngờ lại bị mày dụ đến đây!” Họ xông tới định đánh, cô gái vội van xin giúp tôi, họ mới thôi. Sau đó, bọn họ dúi cho tôi một cái xẻng, bắt tôi đào hố, dặn không được quay đầu lại. Tôi sợ bị đánh, đành cúi đầu đào.”
Nói đến đây, gã im bặt, hai mắt trợn trừng, ánh nhìn lộ rõ vẻ sợ hãi. Có người giục: “Sau đó thì thế nào?”
Mắt híp kể tiếp: “Tôi đào suốt đêm, mãi đến khi trời sáng. Lúc ấy có một nhóm người tới, hỏi tôi sao lại đào hố ở đây. Thấy sáng rồi, tôi cũng bạo gan, kể lại chuyện khủng khiếp xảy ra trong đêm. Họ nghe xong ai nấy đều kinh hãi, cùng cúi xuống nhìn cái hố tôi vừa đào. Dưới hố lộ ra một cỗ quan tài. Mở ra xem, bên trong là xác một người đàn bà trẻ. Những người vừa đến chính là thân nhân của cô ta, họ định sáng hôm đó đi đào mộ để cải táng.”
Có người hỏi: “Vậy là đêm đó, cô gái anh gặp và đám đàn ông đó… đều là ma ư?”
Mắt Híp đáp: “Không phải ma, thì còn là gì nữa?”
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Tôi vô thức ngoái nhìn ra sau, sợ rằng sau lưng mình cũng có một người đàn bà mặc áo lụa xanh, đang lặng lẽ đứng đó.
Mọi người bắt đầu bàn tán râm ran về ma quỷ, dáng vẻ, tính nết, và những chuyện từng gặp.
Báo Tử lấy từ hộp thuốc ra một nhúm lá thuốc, nhét vào nõ điếu, rít vài hơi dài, khói trắng phả ra, rồi thong thả nói:
“Tôi cũng từng gặp ma một lần.”
Mọi người lập tức im bặt, cùng quay đầu nhìn Báo Tử.
Báo Tử nói: “Để tôi kể chuyện của một người bạn trước đã. Câu chuyện này do chính cậu ấy kể lại cho tôi nghe. Cậu ấy tên là Hồ Tử.”
Giữa miền hoang vu của cao nguyên Hoàng Thổ, nơi rìa sa mạc Mao Ô Tố, chợt nghe Báo Tử nhắc đến cái tên Hồ Tử, tim tôi bỗng thắt lại. Bao ký ức về thời ở Thường gia đại viện tại Tấn Bắc lại hiện về rõ mồn một trước mắt.
Báo Tử kể tiếp: “Bạn tôi khôn lanh như cáo, nên mới có biệt hiệu Hồ Tử. Một lần, cậu ta đi trong núi sâu thì gặp cơn mưa lớn, liền chạy vào một ngôi chùa tránh mưa. Trong chùa chỉ có một vị lão hòa thượng. Hai người chuyện trò, thấy rất hợp nhau.”
Mắt Híp xen vào: “Chùa là chỗ lắm ma quỷ nhất đấy.”
Báo Tử gật đầu rồi kể tiếp: “Hai người nói chuyện đến nửa đêm thì thấy đói bụng. Lão hòa thượng bảo: ‘Thí chủ muốn ăn gì thì xuống bếp mà nấu.’ Hồ Tử nghe vậy bèn đi xuống bếp. Trong bếp không có đèn dầu, cậu ấy đành mượn ánh trăng mờ mà lụi hụi nấu nướng, làm được một bát canh. Uống vào, hắn thấy vị tanh tanh, là lạ. Lúc đó cậu ấy chỉ nghĩ chắc nguyên liệu chưa rửa kỹ.”
“Hồ Tử uống xong, cả hai đều đi ngủ. Sáng ra, họ lại ngồi trong thiền phòng nói chuyện. Bỗng ngoài cửa có một người nông dân đi vào, vừa nhìn thấy lão hòa thượng đã hoảng hốt, ngã lăn quay, rồi bỏ chạy thục mạng. Hồ Tử thấy lạ, định quay sang nói với hòa thượng, thì phát hiện ông ta đã biến mất. Cậu ấy thầm nghĩ: ‘Lạ thật! Rõ ràng vừa rồi vẫn còn ngồi đây, tuổi đã cao, thân thể suy yếu, đâu có bản lĩnh kinh người gì, sao lại có thể biến mất trong chớp mắt như thế?’ Đang nghi hoặc, cậu ấy bỗng cảm giác như có ai đó nắm chặt lấy áo mình từ phía sau. Cả người cậu nổi da gà, vội giật phăng áo ra, co cẳng chạy bán sống bán chết ra khỏi chùa.”
“Chạy được ba bốn dặm, cậu đến một ngôi làng, liền kể lại chuyện vừa xảy ra. Dân làng nghe xong đều kinh hãi kêu lên: ‘Trời ơi! Lão hòa thượng ở ngôi chùa ấy đã chết hơn một năm rồi, sao anh lại có thể ngủ cùng lão đêm qua được chứ?’”
Đám lạc đà khách nghe đến đó, ai nấy đều trố mắt, có người buột miệng: “Chết rồi à? Thế là Hồ Tử ngủ chung với ma rồi còn gì!”
Báo Tử nói tiếp: “Hồ Tử vốn không tin trên đời có ma. Cậu ấy bèn rủ vài người gan dạ trong làng, mang gậy gộc trở lại chùa tìm hiểu cho ra lẽ. Trong chùa chẳng có ai, cũng không thấy lão hòa thượng. Hồ Tử vào bếp, mở nắp nồi ra, thấy dưới đáy dính một lớp mỡ dày. Mà hòa thượng vốn ăn chay, mỡ ở đâu ra? Chẳng trách đêm qua cậu ta nếm thấy có vị tanh! Mọi người bàn bạc rồi quyết định ở lại trong chùa đêm đó, chờ xem con ma ấy có xuất hiện hay không.
“Tối đến, từ phòng bên cạnh vang lên tiếng khóc của một người đàn bà. Tiếng khóc thút thít, uất nghẹn, như chứa nỗi oán hận vô biên. Cả bọn nhìn nhau, mặt mày tái mét, vì ban ngày đã xem xét khắp nơi, có thấy bóng người đàn bà nào đâu; chùa lại hẻo lánh, nửa đêm nửa hôm làm gì có ai đến. Hồ Tử lấy hết can đảm hỏi: ‘Vì sao cô khóc thế?’
Người phụ nữ đáp: ‘Anh làm ơn nhắn với mẹ tôi một lời, rằng tôi đã đến nơi này rồi, trong nhà chẳng ai hay biết cả’
Hồ Tử hỏi: ‘Nhà cô ở đâu?’
Người phụ nữ đáp: ‘Nhà tôi ở làng Đồng Thụ Loan. Từ đây đi về hướng bắc sáu mươi dặm, đến ngã ba rẽ về phía tây hai mươi dặm nữa là tới. Trước cửa nhà tôi có một cây dâu to.’
Người phụ nữ nói xong, tiếng khóc cũng ngừng.”
“Sáng hôm sau, mọi người qua phòng bên cạnh xem xét, thấy trên cửa treo một ổ khóa sắt hoen gỉ, rõ ràng đã lâu không ai mở. Họ lần theo lời chỉ dẫn, đi về hướng bắc sáu mươi dặm, rồi rẽ về phía tây hai mươi dặm, quả nhiên đến một làng tên Đồng Thụ Loan. Trước cửa một nhà có đúng cây dâu to như lời người đàn bà nói. Hỏi ra mới biết, nhà ấy có cô con gái mất tích từ năm trước, đi đâu không ai rõ.”
“Mọi người lại trở về chùa. Khắp nơi toát ra vẻ âm u lạnh lẽo. Sau cùng, họ quyết định châm lửa thiêu rụi tất cả, rồi dựng trên nền cũ một tòa tháp bằng gạch để phong ấn vong hồn, từ đó về sau nơi ấy không còn ma quỷ quấy nhiễu nữa.”
Nghe đến đây, tôi thấy lạnh cả sống lưng, chợt rùng mình một cái.
Mắt Híp hỏi: “Chuyện đó là của Hồ Tử. Còn ông, ông bảo ông cũng gặp ma cơ mà?”
Báo Tử đáp: “Hồ Tử là bạn thân nhất của tôi trong bang Tấn Bắc. Lúc cậu ấy kể chuyện ấy, tôi chỉ cười, tưởng đó là chuyện bịa. Nhưng sau này… tôi cũng gặp một chuyện kỳ quái chẳng kém.”
Mọi người lập tức dỏng hai tai, chăm chú lắng nghe.
Báo Tử nói: “Năm ấy, tôi đến Cố Thủy, Hà Nam. Nghỉ chân ở một quán trọ, mà đối diện là sân khấu hát tuồng. Vì sắp đến Tết, khách đi đường ít, cả quán chỉ có một mình tôi trọ lại. Ông chủ để một gã tiểu nhị trông coi tôi, rồi cũng về quê ăn Tết. Cả quán trọ mấy chục gian, chỉ còn lại hai người chúng tôi. Nửa đêm, tôi đang ngủ thì nghe có tiếng động ngoài cửa sổ, bèn bò dậy nhìn ra. Trên sân khấu, đèn đuốc sáng trưng, có một kép hát hóa trang thành Quan Công, tay cầm đại đao, vừa múa vừa hát:
“Bữa đó Tây phủ bày tiệc rượu. Tiểu thám tử tiến lên bẩm một câu. Nói rằng Nhan Lương, Văn Xú đến mắng chửi.
Nghe xong, ta chau mày giận dữ, Cưỡi ngựa, rút đao vượt cửa quan. Một nhát đâm, Nhan Lương ngã ngựa. Một đường kiếm, Văn Xú chết sau lưng…”
“Tôi nghe giọng hát ấy liền nhận ra đó là tuồng Dự kịch Quan Công dự yến. Nhưng nghĩ lại thấy lạ, vào dịp Tết, ai nấy đều bận rộn sắm sửa, sao còn có người rảnh rỗi coi hát tuồng? Tôi nhìn xuống phía dưới sân khấu, chẳng thấy gì cả, dưới đài tối om như mực. Gã kép hát ấy hát rất lâu, rồi lắc lư từng bước đi xuống khỏi sân khấu. Ngay sau đó, hai ngọn đèn dầu hai bên đài cũng tắt phụt, bốn phía lại chìm vào bóng tối dày đặc.”
Tôi nằm trên giường, thao thức mãi không ngủ được, vở Dự kịch đêm qua đến thật bất ngờ, như từ cõi khác vọng về. Sáng ra, tôi xuống lầu tìm gã tiểu nhị, hỏi có nghe thấy gì không. Gã gật đầu, mặt tái mét: “Nghe thấy chứ… làm tôi sợ chết đi được”
Tôi càng thấy kỳ lạ. Liền ra ngoài dò hỏi mấy người hàng xóm. Một ông lão nói: “Ở Cố Thị có một kép hát Quan Công nổi tiếng lắm, cả đời say mê vở Quan Công phó yến. Sau này hắn chết ở nơi khác, thi thể không đưa về được, đành hỏa táng tại chỗ. Nhưng lạ lắm, cứ đến dịp lễ Tết, giữa đêm khuya, người ta lại thấy hắn trở về, lên sân khấu hát đúng vở ấy.”
Mắt Híp nói: “Tôi hiểu rồi. Đó là hồn phách. Người hát ấy tuy thiêu rồi, nhưng linh hồn vẫn quay về quê cũ.”
Báo Tử kể tiếp: “Tôi thì chẳng tin vào ma quỷ hay linh hồn gì cả. Suốt đời tôi không sợ trời, không sợ đất, không sợ người, dĩ nhiên càng chẳng sợ ma. Hôm sau là đêm giao thừa. Nửa đêm, lại nghe hát từ sân khấu vọng sang. Hai bên sân khấu treo đèn sáng rực. Tôi khoác áo bước ra khỏi quán trọ, từ từ tiến về phía ấy.”
“Vừa ra ngoài, tôi đã cảm thấy bầu không khí không bình thường. Đêm trừ tịch, lẽ ra nhà nào cũng rộn ràng tiếng pháo nổ, người người nấu sủi cảo, dán câu đối đỏ. Nhưng bên ngoài quán trọ tối om, chỉ có sân khấu sáng leo lét, ngọn đèn lập lòe trong gió, và giọng hát Quan Công trầm hùng vang vọng. Tôi đi đến sát sân khấu, chỉ còn cách chừng hơn mười thước. Trên đài, người hát vẫn đang ngân nga, giọng lên xuống rành rọt. Mặt hắn bôi phấn đỏ, chân đi ủng cao, tay cầm đại đao, đầu đội mũ cánh chuồn. Từng cử động, từng ánh mắt đều giống hệt Quan Vân Trường trong tuồng cổ. Giây phút ấy, tôi thật sự không phân biệt nổi, hắn là kép hát, hay chính là Quan Công hiển linh. Tôi còn đang mải dõi theo, thì hắn bỗng dừng hát, quay người lại, ngoắc ngoắc tay gọi tôi…”
Báo Tử vừa nói đến đó, một gã thấp bé đột nhiên chạy xộc vào, thở hổn hển: “Có người tới!”
Cả bọn lạc đà khách lập tức tản ra, ai nấy cầm sẵn vũ khí. Kẻ nấp dưới góc tường, kẻ trèo lên cây, có người leo lên mái ngói. Quang Đầu và Báo Tử khép hờ cánh cổng, mỗi người nắm chặt một thanh đao, đứng rình hai bên cửa.
Ngày ấy, cổng sân đều mở vào trong. Ai muốn vào phải đẩy cánh cửa. Còn người nấp sau cánh cửa sẽ được che khuất, dễ dàng tập kích khi đối phương bước vào.
Tôi vốn giỏi leo trèo. Ngay sau cổng có một cây hoè to, hoa nở rộ, hương thơm tỏa khắp sân. Tôi ôm thân cây, nhún chân, vài cái là leo được lên cành.
Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy đằng xa có một đoàn lạc đà đang tiến lại. Tiếng chuông lạc đà leng keng, rộn rã, nối tiếp không dứt. Có chừng hơn mười con, trước sau đều có người áp giải. Ánh trăng nhạt chiếu xuống, lưỡi đao trong tay họ lấp loáng ánh bạc.
Đoàn lạc đà đi ngang qua cổng sân chúng tôi, không dừng lại mà tiếp tục tiến lên. Hướng đi của họ ngược hẳn với chúng tôi, bọn tôi đi từ đông sang tây, còn họ đi từ tây sang đông.
Khi tiếng chuông lạc đà xa dần, tôi tụt xuống khỏi cây, thấy mọi người đã tập hợp lại giữa sân. Mắt Híp cũng nhảy xuống khỏi tường.
Quang Đầu nói: “Tổng cộng mười lăm con lạc đà, hai mươi người, đi từ tây sang đông.”
Mắt Híp xác nhận: “Đúng, tôi đếm kỹ rồi, mười lăm con, hai mươi người.”
Tôi thầm phục thính giác của Quang Đầu. Nấp sau cánh cổng mà ông vẫn phân biệt được chính xác số người và số lạc đà.
Quang Đầu nói: “Là người của bang Lũng Tây, không sao đâu, họ sẽ không phá hỏng việc của chúng ta.”
Tôi tò mò hỏi: “Bang Lũng Tây là ai? Họ làm nghề gì vậy?”
Quang Đầu nói: “Bang Lũng Tây cũng vận tiêu như chúng ta thôi. Khác ở chỗ, chúng ta đi từ Trương Gia Khẩu về Gia Dục Quan, còn họ thì từ Gia Dục Quan về Trương Gia Khẩu. Cùng một tuyến đường, chỉ khác hướng đi.”
Vùng Tây Bắc hoang vu, muốn làm được một con đường quả thật chẳng dễ. Trăm ngàn năm nay, nhiều nơi chỉ có một lối độc đạo, nên tôi tin hai đoàn chắc từng gặp nhau dọc đường. Nếu không, sao Quang Đầu lại nói về bang Lũng Tây rành rẽ đến thế?
Nhưng theo quy củ giang hồ, đã làm nghề áp tiêu thì tuyệt đối không đi đêm. Tôi liền hỏi: “Thế sao bang Lũng Tây lại vận tiêu vào ban đêm vậy?”
Quang Đầu đáp: “Có lẽ họ cần chuyển hàng gấp, nên phải đi suốt ngày đêm. Bang Lũng Tây đi từ phía tây sang, tức là đường ấy đã thông; chúng ta ngược hướng đi về phía tây cũng sẽ an toàn. Từ Định Biên trở đi, về hướng đông thì không có gì nguy hiểm đâu. Thôi, tối nay nghỉ sớm đi, mai còn lên đường.”
Đêm ấy, tôi và Báo Tử nằm cùng một kháng. Tôi cứ trằn trọc mãi, bèn hỏi: “Chú tin trên đời này có ma không?”
Báo Tử đáp: “Làm gì có! Ma quỷ chỉ do con người bịa ra để tự hù dọa mình thôi.”
Tôi lại hỏi: “Vậy đêm giao thừa năm ấy, chú đã gặp phải chuyện gì vậy?”
Báo Tử cười: “Ấy là do một người mê hát tuồng. Ở vùng quê Cố Thị, có gã dân thường mê vở Quan Công phó yến đến phát cuồng. Sau khi kép hát kia chết ở nơi khác, cứ đến Tết hắn lại hóa trang, lên sân khấu hát thay, vừa để tưởng nhớ người chết, vừa thỏa cơn nghiện hát. Dân quanh vùng không biết, nên mới đồn rằng hồn ma của người kép hát ấy quay về, tiếp tục hát tuồng”
Tôi bật cười: “Cháu cũng chẳng tin trên đời có ma quỷ. Người chết là hết, cát bụi trở về với cát bụi, lấy đâu ra hồn phách mà lang thang vất vưởng chứ?”
Báo Tử lại hỏi: “Thế mấy ngày áp tiêu vừa rồi, cháu có thấy điều gì khác thường không?”
Tôi đáp: “Không.”
Báo Tử trầm ngâm: “Chỉ sợ mọi chuyện không đơn giản thế đâu. Đám hưởng mã có thể cướp ba chuyến tiêu liên tiếp, không có kế hoạch sắp đặt sẵn thì sao làm nổi? Bây giờ chúng ta đang ở Định Biên, chỉ cách dãy Kỳ Liên Sơn chừng hai ba trăm dặm. Chú đoán chắc bọn cướp đã ngắm trúng đoàn chúng ta rồi.”
Tôi nói: “Nhưng vừa nãy bang Lũng Tây đi từ Kỳ Liên Sơn về, tiêu của họ đâu có bị cướp, thế chẳng phải chứng tỏ đường này an toàn sao?”
Báo Tử lắc đầu: “Không, chính vì họ không bị cướp mới là việc đáng ngờ. Điều đó có nghĩa là bọn hưởng mã chỉ nhắm vào đoàn của chúng ta, chứ không đụng đến bang Lũng Tây.”
Tôi hỏi: “Vậy giờ phải làm sao?”
Báo Tử nói: “Quang Đầu là người tốt, từng cứu mạng Tam sư thúc, cũng từng cứu chúng ta. Giờ ông ấy gặp nguy, chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn.”
Tôi cố nhớ lại mọi việc mấy ngày nay, nhưng không thấy manh mối nào đáng nghi. Bỗng nhớ tới sạp cờ tướng ở ngoài ngôi miếu đổ, tôi liền kể cho Báo Tử nghe chuyện ấy, từ những ám ngữ trong cuộc nói chuyện đến cách họ giăng bẫy.
Báo Tử gật đầu: “Ra vậy, người bày cờ thế là dân giang hồ.”
Tôi nói: “Bọn chúng trông như là Lão Nguyệt, chuyên giăng bẫy lừa tiền, nhưng cháu cứ thấy không chỉ vậy. Khi bọn chúng nói ‘dẫn vào lò’, e là đang bàn kế bắt cóc cướp bóc. Một đám chuyên dựng bày cờ lừa bịp chẳng thể có gan làm chuyện ấy, trừ phi phía sau có thế lực khác.”
Báo Tử nói: “Cháu nói đúng. Lão Nguyệt chỉ là hạng giăng bẫy lừa vài đồng bạc lẻ, còn bọn này… Chú e rằng không phải Lão Nguyệt, mà là Lão Tra.”
Vừa nghe đến hai chữ “Lão Tra”, ngọn lửa căm hận trong lòng tôi bùng lên dữ dội. Cả đời tôi căm ghét nhất chính là Lão Tra. Thuở nhỏ, tôi từng bị một Lão Tra lừa gạt, dẫn vào hang núi rồi bán cho nhà Lôi Thải Phượng. Mụ đàn bà độc ác ấy hành hạ tôi đủ điều, khiến tôi phải liều mạng bỏ trốn, gia nhập gánh xiếc, từ đó lưu lạc khắp giang hồ.
Tôi nói: “Bọn chúng là Lão Tra, cháu nhất định phải điều tra cho rõ ngọn ngành.”
Báo Tử nói: “Trời sắp sáng rồi, mai còn phải lên đường. Cháu nên nghỉ sớm đi. Vào giang hồ, mỗi bước đều sâu như biển, tình nghĩa chỉ là khách qua đường. Giang hồ lắm kẻ cặn bã, cháu có muốn lo cho hết cũng chẳng lo xuể đâu.”
Tôi nói: “Những chuyện khác cháu có thể không xen vào, nhưng gặp đám Lão Tra hại người, cháu không thể đứng nhìn.”
Báo Tử dặn: “Vậy thì phải hết sức cẩn thận. Đừng dại dột đối đầu trực diện. Có gì khác thường, quay lại báo ngay cho chú, chú đợi cháu ở đây.”
Tôi gật đầu: “Chú cứ yên tâm.”
Tôi bước ra khỏi phòng, vừa tới sân thì từ trong bóng tối ló ra gã thấp bé. Hắn hỏi tôi đi đâu. Tôi nói: “Ra ngoài dạo một vòng, lát nữa sẽ về.”
Định Biên là một huyện thành nhỏ bé ở biên cương, ngày trước là ranh giới giữa người Trung Nguyên và người Hung Nô. Tôi men theo con đường chính, chưa hút hết một bi thuốc đã đi tới ngôi miếu đổ nát lúc ban ngày. Đường phố vắng lặng, chẳng thấy bóng ai, đám Lão Tra cũng biến đâu mất rồi.
Trăng chưa lên cao, bầu trời âm u. Chung quanh chẳng có ánh đèn, gió cũng đã ngừng thổi, cảnh vật tĩnh lặng đến rợn người. Tôi biết người giang hồ phần lớn hành sự trong đêm, nhất là những kẻ chuyên làm việc mờ ám, nên trèo lên một gốc cây to. Từ trên cao nhìn xuống, tầm nhìn được mở rộng, gần như có thể quan sát hết nửa huyện thành.
Nhưng khắp nơi vẫn im lặng như tờ, không một tiếng động.
Lát sau, trăng nhô lên khỏi tầng mây, ánh bạc tràn xuống, chiếu sáng nửa huyện thành. Tôi bắt đầu thấy nản, định bụng xuống cây để quay về nghỉ, vì sáng mai còn phải lên đường vận tiêu.
Bỗng nhiên, một luồng gió lạnh lướt qua mặt, rồi một con chim khổng lồ, dang đôi cánh dài sải rộng, bay xẹt qua ngay trên đầu tôi…