Tổ Bịp
- 7865 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 79: Lão Nguyệt giang hồ
Trời vừa hửng sáng, trong làng bỗng xuất hiện một người. Kẻ này vừa bước vào sân, đám tiêu sư đều ngẩn người, ngay cả tôi và Báo Tử cũng sững sờ.
Người này hóa ra lại là đạo trưởng Niệm Gia Thân.
Niệm Gia Thân vốn là tai mắt được đám Hưởng Mã cài cắm trong đạo quán. Lão từng dùng thuật xem tướng lừa chúng tôi đi một vòng lớn quanh rìa sa mạc, làm lỡ dở bao nhiêu thời gian. Chính trong khoảng thời gian ấy, Gã gầy ốm đã kịp điều binh khiển tướng, tập kết toàn bộ nhân mã về Hạ Gia Nham, chuẩn bị giáng đòn chí mạng cuối cùng xuống Tiêu cục.
Niệm Gia Thân bảo, lão phụng mệnh "Biều bả tử" đến giúp giải cứu Lệ Mã. Biều bả tử là ám ngữ chỉ lão đại, hay còn gọi là đại đương gia. Biều bả tử trong miệng Niệm Gia Thân chính là gã gầy ốm.
Gã gầy ốm tuy là kẻ thù của Tiêu cục, nhưng với Báo Tử và tôi lại là bằng hữu. Hắn cũng là một hán tử ân đền oán trả sòng phẳng, yêu ghét rõ ràng, vì bạn bè sẵn sàng nhảy vào dầu sôi lửa bỏng, mạng đổi mạng cũng chẳng từ.
Niệm Gia Thân bảo lão biết Lệ Mã hiện đang ở đâu, cũng biết Thánh điện nằm chốn nào. Lệ Mã là giáo chủ Mạc Da giáo, kỵ sĩ áo đen mang nàng đi, chắc chắn sẽ đi về hướng phía Tây Bắc, xuyên qua Vạn Lý Trường Thành, vượt Đại Tuyết Sơn mới đến được Thánh điện.
Lão còn nói nguyện ý đi cùng tôi một chuyến, bởi chỉ có mỗi mình lão biết đường đến Thánh điện
Tôi và Niệm Gia Thân nhanh chóng lên đường. Mỗi người một ngựa. Bên hông yên ngựa của lão còn treo một cái túi da to tướng, bên trong đựng lộ phí và quần áo của cả hai.
Niệm Gia Thân quả là cuốn bách khoa toàn thư của vùng Tây Bắc, phong thổ nhân tình, điển tích xưa nay ở các nơi, không gì là lão không biết. Để tôi vui lên, suốt dọc đường lão kể đủ thứ chuyện, nhưng lòng tôi nặng trĩu âu lo, chẳng thể nào cười nổi.
Một hôm, chúng tôi trọ ở một khách điếm tồi tàn, lão kể một câu chuyện:
Ngày xưa có cô gái xấu ma chê quỷ hờn, mãi chẳng ai rước, nên trong lòng nóng như lửa đốt. Một hôm, có đám thổ phỉ ập đến cướp cô gái đi, nhét vào xe ngựa. Cô gái ngồi trong xe hân hoan khấp khởi, cứ ngỡ đời này cuối cùng cũng được làm đàn bà một lần. Nào ngờ khi về đến sơn trại, đám thổ phỉ nhìn kỹ dung nhan cô nàng mới tá hỏa, đời thuở nào lại có người xấu đến thế! Bọn chúng lại nhét cô lên xe, đưa về tận cửa nhà. Cô gái thấy thổ phỉ đưa mình về thì thất vọng tràn trề, kiên quyết không chịu xuống xe. Cô ả nghĩ bụng, bà đây không xuống, các người hết cách, lại phải khiêng bà về thôi. Đám thổ phỉ thấy cô gái cứng đầu bèn bảo nhau: "Thôi đi anh em, cho mụ luôn cái xe ngựa đấy".
Niệm Gia Thân kể xong, tôi còn chưa kịp cười thì vách tường bên cạnh đã vang lên tiếng cười ngặt nghẽo đến hụt cả hơi.
Niệm Gia Thân nói vọng sang: “Vị bằng hữu bên kia, nếu không ngủ được thì qua đây đàm đạo cho vui”
Tiếng giày loẹt quẹt vang lên, cửa phòng bật mở, một thiếu niên gầy gò bước vào.
Sau vài câu hàn huyên ngắn ngủi, thiếu niên hỏi chúng tôi đi đâu, Niệm Gia Thân đáp đi Tây Vực, thiếu niên liền reo lên: “Khéo quá, cùng đường rồi, hay là chúng ta kết bạn đồng hành.”
Mấy ngày sau đó, ba người chúng tôi cùng ăn cùng ở. Thiếu niên tính tình hoạt bát, mồm mép tép nhảy, rất thích trò chuyện với Niệm Gia Thân. Riêng tôi vì lo lắng cho Lệ Mã nên chẳng buồn mở miệng nói câu nào.
Mấy ngày nay, tôi phát hiện một chuyện lạ, thiếu niên kia lúc nào cũng ôm khư khư một cái bọc vải trong lòng, kể cả lúc ăn hay lúc ngủ. Chẳng đợi hỏi, cậu ta tự khai: “Trong người tiểu đệ có giấu mười lượng bạc, đường sá bất an, liệu có thể để bạc của đệ chung với hành lý của hai vị được không?”
Niệm Gia Thân nhận lời. Lão mở túi da, tháo tay nải, bỏ mười lượng bạc của thiếu niên vào chung với lộ phí của chúng tôi rồi buộc chặt lại.
Chúng tôi lại đi thêm mấy ngày, mọi sự đều bình an suôn sẻ.
Một đêm nọ, trời đổ mưa tầm tã. Thiếu niên lồm cồm bò dậy từ trên kháng, bảo chúng tôi: “Đệ ăn bậy giờ đau bụng quá”
Thiếu niên chạy ra ngoài, quay lại, rồi lại chạy ra, cứ thế đi đi lại lại không biết bao nhiêu lần. Thấy cảnh ấy tôi cũng phát chán, quay lưng định ngủ tiếp.
Lão Niệm lay tôi dậy, bảo: “Đêm nay có kịch hay để xem đấy.”
Tôi hỏi: “Kịch hay gì?”
Lão đáp: “Cậu cứ nhìn thôi, cấm được hé răng”
Thừa lúc thiếu niên chạy ra ngoài, Niệm Gia Thân lén mở túi da, lấy sạch bạc và ngân phiếu trong bọc vải ra, rồi nhét cái gối thạch cao chúng tôi hay gối đầu vào, sau đó buộc lại y nguyên.
Một lát sau, thiếu niên quay lại, nằm xuống kháng. Nghe tiếng ngáy của Niệm Gia Thân, cậu ta hỏi: “Hai vị ngủ chưa?”
Tiếng ngáy của Niệm Gia Thân vẫn đều đều, tôi nằm im không đáp.
Thiếu niên lại hỏi: “Hai vị ngủ rồi à?”
Cậu ta hỏi lại lần nữa, thấy không ai đáp, tưởng chúng tôi đã ngủ say, bèn rón rén bò dậy, mở túi da, lấy bọc vải bên trong, vác lên vai rồi chuồn thẳng ra khỏi phòng.
Trong bóng tối, Niệm Gia Thân thấy thiếu niên đã đi khuất mới ngồi dậy đóng chặt cửa phòng, bảo tôi: “Giờ thì ngủ ngon được rồi.”
Chúng tôi ngủ một mạch đến sáng. Niệm Gia Thân vừa bước ra khỏi cửa đã la toáng lên là mình bị trộm mất ngân lượng. Chủ quán và tiểu nhị hớt hải chạy tới hỏi han. Niệm Gia Thân nói: “Chính là cái thằng nhãi đi cùng chúng tôi. Lần sau các ông gặp lại nhớ bắt giải lên quan, kẻo nó lại đi trộm người khác.”
Cơm nước xong xuôi, chúng tôi lên đường.
Đi được vài dặm, đến bên một cánh rừng, Niệm Gia Thân bảo tôi nấp vào trong rừng, lão nói: “Nhìn xem, kịch hay còn ở phía sau kia kìa”
Mặt trời đã lên cao, vạn vật đều nhuộm một màu vàng óng. Gió lặng, mấy con côn trùng bay vo ve bên tai.
Tôi hỏi còn kịch gì nữa, lão Niệm nháy mắt đầy bí hiểm, chỉ tay về phía xa. Một bóng người đang cắm cúi đi tới, thân trên đổ về phía trước, bước chân vội vã khác thường. Nhìn dáng đi ấy, tôi nhận ra ngay là gã thiếu niên trộm gối thạch cao đêm qua.
Thiếu niên đi lướt qua bìa rừng, bộ dạng hối hả, hoàn toàn không ngờ rằng lúc này chúng tôi đang nấp ngay trong rừng, nhất cử nhất động của cậu ta đều lọt vào tầm mắt chúng tôi.
Đợi thiếu niên đi qua rồi, Niệm Gia Thân bảo: “Giờ thì ngủ thôi, đêm qua bị thằng ranh con ấy quấy rầy chẳng được yên, giờ tranh thủ đánh một giấc cho đã”
Chúng tôi ngáp ngắn ngáp dài, chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ.
Trong mơ, tôi chợt nghe tiếng la ó ầm ĩ, giật mình mở mắt thì thấy một đám người đi ngang qua bìa rừng. Đi đầu chính là gã thiếu niên bị trói gô như đòn bánh tét, theo sau là người của khách điếm. Cứ đi được vài bước, bọn họ lại đá vào mông thiếu niên. Mỗi cú đá trúng người, thiếu niên lại kêu ré lên như heo bị chọc tiết.
Họ đang áp giải tên trộm lên quan.
Đợi đám người đi khuất, chúng tôi mới tiếp tục lên đường.
Tôi cảm thấy Niệm Gia Thân là một người vô cùng bí ẩn, lại cực kỳ cơ trí. Lão xem tướng cho chúng tôi, dụ các tiêu sư vào tròng, ngay cả kẻ thuộc phái Giang Tướng như tôi cũng mắc lừa; lão ở cùng tôi trong khách điếm, nhìn thấu mưu gian của thiếu niên, dùng kế "ly miêu hoán thái tử" khiến cậu ta sập bẫy; còn biết trước thiếu niên sẽ quay lại nên làm ầm ĩ trước mặt chủ khách điếm, ép họ phải bắt người.
Tôi vỗ ngực tự hào đã lăn lộn giang hồ mười mấy năm, vậy mà không mảy may nhìn ra mưu kế của lão. Nếu lão không phải là một tay lão luyện chốn giang hồ, tuyệt đối không thể có những toan tính kín kẽ đến nhường ấy.
Nếu không phải người phái Giang Tướng, tuyệt đối không thể nhìn thấu mánh khóe của phái Giang Tướng; nếu không phải là Lão Vinh trong giang hồ, chẳng thể nào biết được các ngón nghề trộm cắp của Lão Vinh; nếu không phải là Lão Nguyệt giang hồ, làm sao có thể vạch trần thủ đoạn của đám lừa đảo này. Niệm Gia Thân chắc chắn có lai lịch không vừa.
Niệm Gia Thân đi trước, tôi đi sau, nhìn bóng lưng lão, tôi cảm thấy con người này thâm sâu khôn lường.
Tôi rảo bước nhanh hơn, đi song song với lão rồi hỏi: “Ông có biết Lão Nguyệt giang hồ không?”
Niệm Gia Thân cười, đáp: “Tiểu tử khá lắm, nhìn ra tôi là Lão Nguyệt nên muốn dò la gốc gác chứ gì. Nói thật cho cậu biết, tôi là Lão Nguyệt giang hồ đây”
Đầu óc lão Niệm xoay chuyển cực nhanh, lão luôn có khả năng tiên liệu, đoán trúng phóc tâm tư người khác. Nhìn việc nhỏ biết chuyện lớn, nhìn lá rụng biết thu sang, loại người này thuộc dạng thông minh tuyệt đỉnh hiếm có ở đời.
Lão Nguyệt giang hồ tiếng tăm cực xấu, nhưng lão chẳng hề giấu giếm thân phận của mình. Lão Nguyệt chính là bọn chuyên đi lừa đảo bịp bợm trên giang hồ, không có khái niệm đạo đức, gặp ai cũng lừa hết.
Niệm Gia Thân nói tiếp: “Trước kia tôi cũng là Lão Nguyệt giang hồ, đã rửa tay gác kiếm nhiều năm, sau này mới làm sư gia cho Biều bả tử. Biều bả tử làm người rất chính khí, chỉ cướp của cải phi nghĩa của đám tham quan ô lại và gian thương; còn Lão Nguyệt giang hồ thì tiền của ai cũng muốn lừa. Dù là bà lão nghèo khổ trong túi chỉ còn một đồng xu, chúng cũng không tha. Lão Nguyệt, thực chất là cặn bã của giang hồ.
Tôi nhớ lại những kẻ gặp trên đường, từ đám đánh thư sinh nghèo, kẻ bán dao cạo râu, đến tên mắt to mắt nhỏ bán vàng giả, rồi gã thiếu niên trộm cắp... bèn hỏi: “Sao dọc đường lắm lão nguyệt thế?”
Lão Niệm hỏi ngược lại: “Cậu không biết tại sao à? Lúc đi áp tiêu, các cậu có qua huyện thành tên Diêm Trì không?”
Tôi bảo có. Lão tiếp: “Trong huyện Diêm Trì có một gã béo, hắn là Tổng Biều bả tử của giang hồ lão nguyệt vùng Tây Bắc. Đồ tử đồ tôn của hắn rải khắp đôi bờ Hoàng Hà, thuật lừa đảo lão nguyệt đời đời truyền nhau.”
Tôi thắc mắc: “Nơi này cách Diêm Trì cả ngàn dặm, sao ông lại biết chuyện ở đó?”
Lão đáp: “Chẳng giấu gì cậu, gã mập đó là sư đệ tôi. Sư phụ cả đời chỉ nhận hai đệ tử, một là tôi, hai là hắn. Tôi học thành tài xuống núi, thấy nghề lừa đảo này thất đức quá nên rửa tay gác kiếm. Sự nghiệp sư phụ cần người kế thừa nên sau mới thu nhận gã béo.”
Tôi thầm nghĩ, thảo nào Niệm Gia Thân thông minh tuyệt đỉnh, hóa ra lão xuất thân từ Lão Nguyệt giang hồ. Phàm những kẻ bước chân vào cửa Lão Nguyệt đều là những người có tư chất hơn người.
Niệm Gia Thân kể tiếp: “Muốn nhập môn Lão Nguyệt, việc tuyển chọn đệ tử cực kỳ nghiêm ngặt. Nghề này khác với các môn phái giang hồ khác. Môn phái khác là trò tìm thầy, chỉ cần trò thành tâm, quỳ lạy vài ngày vài đêm là có thể làm sư phụ cảm động mà thu nhận; nhưng nghề Lão Nguyệt lại rất coi trọng trí thông minh thiên bẩm, chỉ có kẻ trời sinh thông tuệ mới vào được nghề này. Nếu tư chất kém cỏi, vào nghề cũng chỉ phí công, học xong xuống núi vẫn chẳng lừa được ai. Chính vì kén chọn ngặt nghèo như vậy nên sư phụ cả đời cũng chỉ nhận hai chúng ta làm đệ tử. Nhưng gã mập thì khác, sư phụ qua đời, ta lại bỏ sư môn, hắn ta độc tôn một cõi, thu nhận hàng loạt vây cánh lâu la. Bất kể là ai, chỉ cần muốn học ngón nghề lừa đảo, hắn đều truyền dạy tất. Thành thử đồ tử đồ tôn của hắn vàng thau lẫn lộn, đi đến đâu là gieo rắc tai ương cho bách tính vùng đó.
Tôi kể chuyện từng gặp gã béo, lão Niệm cười khẩy bảo hắn không biết tự lượng sức, dám xen vào chuyện của hưởng mã thì sẽ ngã đau thôi. Tôi lại hỏi chuyện lão bói quẻ trong đạo quán sao chuẩn thế. Lão cười: “Không phải lời quẻ trên thẻ tre chuẩn, mà là do ta giải quẻ chuẩn.”
Thấy tôi ngơ ngác, lão giải thích: “Hôm đó trong đạo quán, tôi bỏ sáu mươi tư thẻ tre vào ống, trên mỗi thẻ đều có một bài thơ. Tôi tùy tiện đọc cho cậu hai bài, cậu xem có phải rất đúng với mình không”
Tôi gật đầu.
Lão ngâm nga: "Minh châu thổ mai nhật cửu thâm. Vô quang vô lượng đáo như kim. Đột nhiên đại phong xuy thổ khứ. Tự nhiên hiển lộ hữu trọng tân." (Ngọc sáng vùi đất đã bao ngày. Tối tăm mờ mịt tới hôm nay. Bỗng nhiên gió lớn thổi đất sạch. Lộ vẻ thanh tân rạng chốn này). Đây là một lời quẻ trong sáu mươi tư quẻ, nếu cậu bốc được quẻ này, cậu thấy có giống cảnh ngộ của mình không?
Tôi gật đầu, quả thực rất giống. Tôi luôn tự cho mình có thể làm nên nghiệp lớn, chỉ tiếc số phận hẩm hiu, đi đâu cũng đụng phải tường, bước nào cũng gập ghềnh trắc trở. Giờ gặp được Báo Tử, Tam sư thúc, Hắc Bạch khất cái, Quang Đầu, bọn họ đều là hảo hán giang hồ, tôi tin vận đen của mình sắp hết rồi.
Niệm Gia Thân lại nói: “Tôi đọc thêm một lời quẻ nữa nhé: "Nê lý bộ đạp giá kỷ niên, thôi xa kháo nhai tại nhãn tiền, mục hạ tựu cai tái sử lực, ban thượng nhai khứ phát tài nguyên." (Chân bước trong bùn bấy nhiêu niên. Đẩy xe qua dốc ngay nhãn tiền. Lúc này gắng sức thêm chút nữa. Lên dốc hanh thông phát tài nguyên). Lời quẻ này có giống cảnh ngộ của cậu không?
Tôi lại gật đầu, quả thực rất giống. Tôi đã đi quá nhiều đường vòng, từ nay về sau cũng nên bước vào con đường kim quang rạng rỡ rồi.
Niệm Gia Thân nói: “Đó là hai lời quẻ chẳng liên quan gì với nhau mà tôi thuận miệng tìm trong sáu mươi tư quẻ. Bài đầu là quẻ thứ năm, bài sau là quẻ thứ mười bảy. Thứ tự quẻ khác nhau, lời quẻ khác nhau, nhưng tôi đều có thể giải thích theo cùng một hướng, hơn nữa cách giải thích nào cũng khớp với trải nghiệm của cậu. Cậu nói xem, mấy cái trò bói toán này có tin được không?
Hóa ra là như vậy.
Tôi lại hỏi: “Thiếu niên kia bỏ mười lượng bạc vào hành lý chúng ta, sao ông biết cậu ta là kẻ lừa đảo?
“Mấy gã lão nguyệt trẻ ranh này đều là hậu sinh vãn bối của ta cả, thấy chúng chổng mông là ta biết sắp đánh rắm gì rồi. Chút mánh khóe vặt vãnh ấy lừa được người khác, chứ sao qua mặt được ta?”
Niệm Gia Thân ngừng một chút rồi nói tiếp:
“Cậu cứ chờ mà xem, phía sau vẫn còn kẻ lừa đảo xuất hiện nữa đấy”
Tôi cảm thán: “Tối qua thiếu niên kia diễn sâu quá, giả vờ đi vệ sinh, chạy ra chạy vào mấy lần, tôi căng mắt ra mà chẳng nhìn thấu”
Niệm Gia Thân bĩu môi: “Thế mà cũng gọi là cao tay? Để tôi kể cho cậu nghe một chuyện chính tôi từng trải qua, so với mánh lới của thiếu niên này còn cao minh hơn gấp vạn lần.
“Ông kể đi.”
“Tôi có một người anh em làm buôn bán nhỏ ở phủ Ngân Xuyên, bình sinh có một sở thích là xem hát. Hễ phủ Ngân Xuyên có gánh hát về là lần nào y cũng đi xem. Năm đó, tôi đến thăm y, y lại chạy đi xem hát vì rạp hát ở phủ Ngân Xuyên đang diễn vở "Trát Mỹ Án". Trần Thế Mỹ thi đỗ Trạng nguyên, ruồng rẫy người vợ tào khang và hai con thơ để làm phò mã. Vợ hắn là Tần Hương Liên dắt hai con lên kinh thành tìm chồng, Trần Thế Mỹ lại sai sát thủ ám sát ba mẹ con. Sát thủ biết rõ sự tình, vừa không thể về phục mệnh, lại không nỡ ra tay độc ác, bèn rút kiếm tự vẫn. Trên sân khấu diễn đến đoạn sát thủ kề dao lên cổ, ngã vật ra chết, khán giả bên dưới vỗ tay rầm rầm. Huynh đệ ta bảo, lúc xem đến đoạn đó, y mải vỗ tay hoan hô, bạc trong người bị ai móc mất lúc nào không hay.
Tôi nói: “Tên Lão Vinh này biết chọn thời điểm thật”
Niệm Gia Thân nói: “Tôi đoán tên Lão Vinh này chắc chắn là một "Cao mãi" trong rạp hát. Ồ, mà cậu có biết Cao mãi là gì không?”
“Tôi biết, là cao thủ trong nghề Lão Vinh chứ gì”
“Nếu không phải Cao mãi thì hắn đã không chọn đúng thời điểm đấy để ra tay. Tôi liền sắm một bộ quần áo bảnh bao, đến tiệm cầm đồ đổi một ít kim nguyên bảo, chuẩn bị đi gặp gỡ tên này.
Tôi ngắt lời: “Muốn đổi kim nguyên bảo sao không ra phiếu hiệu, lại vào tiệm cầm đồ làm gì?
“Tôi định giăng bẫy tên Cao mãi, sao vào phiếu hiệu được? Tiệm cầm đồ có vàng giả, thực ra là vàng bọc chì. Bên ngoài trông lấp lánh thế thôi, bên trong toàn là chì. Tiệm cầm đồ thường dùng loại vàng đểu này để lừa bịp. Cậu mang bảo vật gia truyền đến cầm, nó thấy cậu không phải người giang hồ cũng chẳng phải quan lại, bèn trả cho cậu vàng bọc chì. Loại vàng này người thường không thể phát hiện. Kể cả có phát hiện ra, nó cũng chối phắt, còn nói ngược lại là cậu định lừa đảo nó.
Hóa ra nước ở tiệm cầm đồ cũng sâu đến thế, trước giờ tôi chưa từng nghe chuyện này.
Niệm Gia Thân kể tiếp:
“Tôi đeo cái bọc vải sau lưng, bên trong đựng toàn vàng giả. Vàng giả của tôi còn giả hơn thế nữa, không phải vàng bọc chì mà là đồng bọc chì, chẳng đáng một xu. Tôi bước vào rạp xem hát. Vì ăn mặc sang trọng, lại đeo cái bọc trông có vẻ nặng, tên Cao mãi rất nhanh đã nhắm trúng mục tiêu. Hắn lân la ngồi xuống chiếc ghế gần tôi. Tôi cố ý để hở một góc bọc vải, lộ ra thỏi vàng giả lấp lánh bên trong. Thời đó, vào rạp xem hát toàn là người có tiền, ít nhất cũng không phải lo chuyện cơm áo. Còn những kẻ kéo xe, bán tạp hóa, vừa không có tiền vừa chẳng có thời gian mà xem hát. Thế nên tên Cao mãi kia cũng ăn mặc ra dáng lắm, đầu đội mũ dưa hấu, mình khoác áo da cừu. Hắn lén nhìn bọc vải của tôi, tôi lại lén ngắm cái áo da của hắn. Đợi đến lúc sát thủ trên sân khấu tự vẫn, tên Cao mãi giật lấy bọc vải tôi để bên cạnh, còn tôi thì ngồi đè lên vạt áo da của hắn. Hắn muốn chuồn mà không được vì áo đã bị tôi đè chặt. Hết cách, hắn đành cởi áo, ôm bọc vải chạy biến. Hắn vừa ra khỏi rạp, tôi lập tức gấp gọn cái áo da lại, giấu dưới vạt áo của mình, gọi xe kéo đi về nhà. Cái áo da của tên Cao mãi ấy tốt thật, da cừu non thượng hạng, bán được khối tiền.
Tôi nghe mà cười ngất, không thể không bái phục Niệm Gia Thân, quả đúng là cao thủ trong đám Lão Nguyệt.
Niệm Gia Thân nói: “Dọc đường này, Lão Nguyệt nhiều vô kể, còn hơn cả lông lừa. Bọn chúng chuyên nhắm vào người đi lẻ hoặc nhóm hai ba người, cậu chỉ cần để ý là thấy ngay”
Ngày hôm sau, quả nhiên chúng tôi lại gặp một Lão Nguyệt.
Nói chính xác thì không phải gặp, mà là nghe thấy.
Khi chúng tôi đến Cổ Lãng, trước cửa nha môn huyện Cổ Lãng có rất đông người vây quanh. Chúng tôi bước tới, nghe mọi người bàn tán xôn xao.
Hôm ấy là ngày hội miếu của huyện thành Cổ Lãng người dân mười dặm tám phương đều nô nức đổ về đây. Khu vực Đông Quan trong huyện thành vốn là nơi họp chợ mua bán lừa ngựa, lúc này lại càng thêm phần náo nhiệt. Có một người dắt ngựa đến bán. Con ngựa này toàn thân đỏ như than hồng, bốn vó trắng như tuyết, có tên là "Đạp Tuyết Vô Ngân", là giống danh mã, chạy rất giỏi. Một tên Lão Nguyệt đến chợ, trò chuyện ngã giá với người bán ngựa. Ở các chợ gia súc vùng Tây Bắc, việc ngã giá có một quy trình lưu truyền ngàn năm, người mua kẻ bán không được nói giá trực tiếp mà phải thông qua người môi giới. Môi giới mặc áo tay dài, che kín ngón tay. Nếu khách ưng con nào, môi giới sẽ đến bắt chuyện, chìa ống tay áo ra, hai bên nắn ngón tay nhau trong ống áo. Ví dụ, ngón cái là một trăm, các ngón khác là mười. Nếu muốn mua giá 120 đồng, cậu sẽ nắm ngón cái của môi giới trước, buông ra, rồi nắm hai ngón khác, miệng bảo: "Chính là số này". Môi giới hiểu giá, sẽ đi đến chỗ người bán, lại thò tay vào ống áo người bán thương lượng. Cứ thế, qua tay môi giới nắn tới nắn lui, cuối cùng chốt giá.
Dĩ nhiên, môi giới không làm không công, y sẽ thu 1% giá thành giao dịch làm tiền thù lao. Khoản 1% này, bên mua và bên bán mỗi người chịu một nửa.
Ngày nay, phương thức giao dịch cổ xưa này đã biến mất ở nông thôn Tây Bắc.
Hôm đó, sau khi hai bên chốt giá xong xuôi, tên Lão Nguyệt nói hắn không mang đủ tiền, bảo người bán ngựa theo hắn về nhà lấy, nhà hắn ở khu Tây Quan huyện thành. Còn về phần 1% phí môi giới, Lão Nguyệt hào phóng trả tất.
Môi giới cầm tiền xong thì phủi tay, đi tìm mối khác. Người bán ngựa tin tưởng Lão Nguyệt, bèn dắt ngựa theo sau hắn về nhà lấy tiền.
Đi đến một cửa tiệm tơ lụa, Lão Nguyệt dừng bước, bảo người bán ngựa:
“Ông đợi bên ngoài một lát, tôi vào mua mấy thước lụa rồi ra ngay.
Người bán ngựa thật thà đứng đợi bên ngoài. Mặt trời chiếu thẳng đỉnh đầu, mồ hôi vã ra như tắm mà cũng chẳng biết đường tránh nắng.
Lão Nguyệt bước vào tiệm lụa, ưng ý một cây vải, bắt đầu cò kè bớt một thêm hai với chủ tiệm. Hắn trả giá cực thấp, chọc giận chủ tiệm. Chủ tiệm gắt lên: "Anh không biết xem hàng, tôi không bán nữa". Lão Nguyệt đáp: "Người biết hàng đang ăn cơm ở quán bên cạnh, tôi mang sang cho ông ấy xem. Nếu ông ấy thấy giá cả hợp lý, tôi mua nhiều hơn cũng chẳng sao". Chủ tiệm bảo: "Tôi không biết anh là ai. Lỡ anh cầm vải chạy mất, tôi biết tìm ở đâu?".
Lão Nguyệt cười hào sảng: "Tôi chạy đi đâu được? Gia nhân và ngựa của tôi còn đang đứng ngoài cửa kia kìa. Ông xem con ngựa đó đáng giá bao nhiêu? Có đủ đổi lấy cây vải này của ông không?".
Chủ tiệm nhìn ra ngoài, thấy người bán ngựa dắt con ngựa đứng ngay ngắn ở cửa, cứ tưởng là gia nhân của Lão Nguyệt thật, nên để hắn cầm vải đi ra.
Lão Nguyệt vừa bước ra khỏi cửa tiệm liền chuồn thẳng một mạch.
Chủ tiệm đợi mãi không thấy Lão Nguyệt quay lại, mới hỏi người bán ngựa: "Chủ nhân nhà cậu đi đâu rồi?". Người bán ngựa ngơ ngác: "Ai là chủ nhân của tôi? Hắn mua ngựa của tôi còn chưa trả tiền nữa kìa".
Chủ tiệm không tin, cho là Lão Nguyệt và người bán ngựa thông đồng lừa mình, bèn lôi người bán ngựa lên huyện nha.
Huyện thái gia thẩm vấn, người bán ngựa thật thà khai báo rằng không quen Lão Nguyệt, chỉ đi bán ngựa ở chợ rồi ngã giá với hắn qua môi giới. Huyện thái gia triệu tập môi giới đến, môi giới cũng khai y như vậy.
Tên lừa đảo Lão Nguyệt này một mũi tên trúng hai đích, lừa người bán ngựa trước, lừa chủ tiệm bán lụa sau.
Niệm Gia Thân nói:
“Đây là chiêu thường dùng nhất của Lão Nguyệt, gọi là "Giả đạo diệt Quắc"
Tôi hỏi:
“Giả đạo diệt Quắc là gì?
Niệm Gia Thân giải thích, đó là một điển tích xưa. Thời Xuân Thu, bá chủ phương Bắc là Tấn Hiến Công mượn đường nước Ngu để đánh nước Quắc, còn tặng cho nước Ngu ngọc bích ngựa quý. Vua nước Ngu tham của nên đồng ý. Sau này Tấn Hiến Công diệt xong nước Quắc, tiện đường quay lại diệt luôn nước Ngu”
Niệm Gia Thân nói:
“Tên Lão Nguyệt này, mua ngựa là giả, lừa lụa là thật. Này, cậu thử đoán xem, tên đó đang trốn ở đâu?
Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:
“Tôi đoán ra rồi. Ông nói tiếp đi, xem tôi đoán có đúng không.
Niệm Gia Thân nói:
“Lão Nguyệt sau khi đắc thủ sẽ không chạy xa. Hắn không cưỡi ngựa, chạy nhanh đến mấy cũng không bằng ngựa. Hắn biết quan phủ sẽ phái người cưỡi ngựa đuổi theo ra ngoài thành, cho nên, hắn chắc chắn đang trốn ngay trong huyện thành này.
Tôi gật đầu:
“Đúng vậy”
Niệm Gia Thân tiếp lời:
“Hắn đang nóng lòng muốn phi tang chứng cứ, giờ này, chắc chắn hắn đang ở trong tiệm may. Chỉ cần cắt may cây vải đó thành áo quần, ai dám bảo hắn là kẻ lừa đảo. Cho dù chủ tiệm có đuổi đến tận nơi, nhìn thấy quần áo trên tay hắn cũng không dám khẳng định đó là lụa của mình.
Tôi tán thưởng: “Quả thật là vậy.
Niệm Gia Thân bảo: “Có muốn đi kiểm chứng không, xem rốt cuộc tên Lão Nguyệt này là kẻ thế nào. Có thực là hắn đang may áo trong tiệm không”
Tôi từ chối: “Tôi đang rất vội. Lệ Mã bị đám kỵ sĩ cướp đi. Tôi phải mau chóng cứu nàng”
“Chuyện Lệ Mã cậu khỏi lo. Nàng là giáo chủ, ở trong Thánh điện nói một là một, hai là hai, ai dám ngược đãi nàng. Trước khi đám kỵ sĩ tìm thấy nàng, nàng đã là giáo chủ Mạc Gia giáo; tìm thấy rồi, nàng vẫn là giáo chủ Mạc Gia giáo. Nàng chỉ mất tự do thôi, còn lại cuộc sống hàng ngày vẫn tốt hơn chúng ta lăn lộn giang hồ nhiều”
Tôi nói: “Hồi còn học trường tư thục, thầy giáo từng dạy: "Bất tự do, ninh vật tử" (Không có tự do, thà chết còn hơn). Tự do là thứ quý giá nhất trên đời.
Niệm Gia Thân cười khẩy: “Cậu lăn lộn giang hồ bao năm rồi mà vẫn còn tin mấy thứ vớ vẩn thầy đồ dạy trên lớp à? Học vấn của thầy đồ từ Khổng Tử mà ra. Nào là phải ôn hòa thuận thảo, phải ngoan ngoãn phục tùng, phải trung quân ái quốc. Những kẻ không ôn hòa thuận thảo thì kẻ nào kẻ nấy lưng giắt bạc vạn, béo tốt đẫy đà; còn cậu ngoan ngoãn phục tùng thì nghèo rớt mồng tơi, bụng đói cồn cào. Cái xã hội này là xã hội của cường đạo, đâu đâu cũng đầy rẫy cái lý lẽ của kẻ cướp. Kẻ to gan thì ăn uống no nê, kẻ nhát gan thì chết đói chết rét. Cậu nhìn mấy ông vua mà xem, Tần Nhị Thế, Tùy Dạng Đế, Triệu Cấu... bọn họ tên nào cũng là thứ bùn loãng không trát được tường. Vua chúa đã khốn nạn đến nước ấy, tốt xấu chẳng phân minh, vậy mà cậu còn đòi trung thành với hắn, chẳng phải là nối giáo cho giặc, giúp vua Trụ làm điều bạo ngược hay sao?”
Tôi vặn lại: “Vậy tại sao ông lại bỏ Lão Nguyệt để làm Hưởng Mã?”
“Lão Nguyệt là thứ cặn bã không có điểm dừng, còn tôi làm việc phải có giới hạn. Cậu nhìn dọc đường đi mà xem, Lão Nguyệt ai cũng dám lừa, vậy mà loại cặn bã ấy lại như cá gặp nước, gặp thời gặp thế, muốn gió được gió, muốn mưa được mưa. Xã hội này chỉ biết có tiền. Có tiền là ông nội, không tiền là cháu chắt. Chứ chưa bao giờ hỏi tiền đó từ đâu ra. Cho nên, cái xã hội này hỏng rồi”
“Ông nói đều đúng cả, nhưng tôi chỉ muốn mau chóng tìm được Lệ Mã”
Niệm Gia Thân nói: "Được thôi, chúng ta xuất phát ngay bây giờ."
Đêm hôm đó, chúng tôi trọ tại một khách điếm.
Khách điếm có hơn mười người trọ, trời nóng nực nên ai nấy đều ra sân ngồi. Mỗi người cầm một cái quạt nan phe phẩy hóng mát.
Khách trọ đến từ khắp bốn phương trời. Mọi người kể lại những điều tai nghe mắt thấy ở các nơi, chuyện trò rôm rả lắm.
Mãi đến nửa đêm về sáng, ai nấy mới về phòng nghỉ ngơi.
Tôi không ngủ được, trong lòng cứ nghĩ về Lệ Mã, mới cầm quạt đi ra sân một mình. Ánh trăng nhợt nhạt, bốn bề vắng lặng, mọi vật xung quanh đều trở nên mờ ảo hư thực. Bỗng nhiên, tôi nghe có tiếng người nói chuyện.
Một kẻ nói:
“Hai gã dắt "phong tử" kia lộ số thế nào? (Hai gã dắt ngựa kia lai lịch thế nào?)
Trong ám ngữ giang hồ, ngựa gọi là "phong tử", ý là chạy nhanh như gió; bò gọi là "xa tử", ý là móng chẻ làm đôi; lừa gọi là "kim phù liễu nhi", ý là con lừa có bốn chân khẳng khiu, đi đường cứ lắc lư cái mông, chẳng khác nào dáng đi như liễu rủ trước gió của cô vợ lẳng lơ.
Kẻ kia hỏi: “Hai gã nào?”
Kẻ trước đáp: “Một gã "quải sái thủy", một gã "quải sái hỏa". (Một gã ăn mặc rách rưới, một gã ăn mặc sang trọng).
Tôi theo chân tiêu cục rong ruổi khắp các nẻo đường suốt mấy tháng trời nên quần áo đã sờn rách tả tơi; còn Niệm Gia Thân lúc nào cũng ăn vận gọn gàng, chỉnh tề.
Kẻ kia nói: “Tao thấy là "không tử", không phải "ngật cách niệm". (Tao thấy là dân thường, không phải người trong giang hồ).
“Sao biết thế?”
“Cả sân rôm rả bàn tán đủ chuyện trên trời dưới đất, chỉ có hai tên kia là ít nói ít cười nhất, nhìn qua đã biết hạng người chỉ quanh quẩn một chỗ, hiếm khi đi đây đi đó.”
“Hai con "phong tử" đó ngon đấy.
“Phong tử có ngon mấy cũng đừng động vào, còn phải lo việc chính”
Tôi biết bọn chúng đang nói về chúng tôi, bèn thu người vào góc tường, im lặng nghe ngóng. Lúc nãy mọi người trò chuyện ở sân, vì trong lòng tôi có tâm sự nên chỉ im lặng nghe. Niệm Gia Thân là lão cáo già giang hồ, đi đến đâu cũng đề phòng cảnh giác nên cũng chỉ im lặng ngồi nghe, không ngờ lại qua mặt được hai gã "ngật cách niệm" này.
Hai tên "ngật cách niệm" này có ý đồ với ngựa của chúng tôi. Tôi nhất định phải lưu tâm mới được.
Tiếp đó, tôi nghe được tin tức còn chấn động hơn.
Một kẻ hỏi: “Đám "tiêm quải tử" đi hộ tiêu đã "thổ" chưa? (Đám võ sư áp tiêu chết chưa?)
Kẻ kia đáp: “Chưa có tin chuẩn.
Bọn chúng không nói chuyện hộ tiêu nữa, chuyển sang chuyện khác, nào là "khố quả" (kỹ nữ), nào là "chủy tử" (gái đứng đường), nào là "niệm bả" (ni cô, đạo cô), nào là "ngoạn phiếu khách xuyến tử" (gái lẳng lơ), vừa nói vừa cười dâm đãng. Hai tên dâm tặc này loại đàn bà nào cũng muốn động vào, đến ni cô đạo cô cũng không tha.
Thấy bọn chúng không còn nhắc tới chuyện hộ tiêu nữa, tôi lặng lẽ rút lui, quay về phòng mình.
Trong phòng, Niệm Gia Thân đã ngủ say, cất tiếng ngáy khe khẽ. Tôi lay nhẹ, lão ậm ừ không chịu dậy. Tôi ghé sát tai lão, kể lại những lời vừa nghe được, lão bỗng tỉnh như sáo, ngồi bật dậy.
Niệm Gia Thân hỏi: “Bọn chúng ở đâu?
“Từ đây rẽ trái, phòng thứ hai”
“Mẹ kiếp, dám trộm ngựa của ông. Từ đây đến Tây Vực vạn thủy thiên sơn, không có ngựa thì đi thế nào.
“Hai tên này là Lão Vinh hay Lão Nguyệt?
Niệm Gia Thân trầm ngâm: “Sự việc không đơn giản thế đâu. Hưởng Mã muốn xử lý đoàn vận tiêu, đây là chuyện cơ mật trong giới Hưởng Mã, sao hai tên này lại biết? Ồ, ta hiểu rồi, hai tên này cũng là Hưởng Mã.
Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo: “Không đúng, nếu là Hưởng Mã thì ông phải quen mặt chứ. Nhưng lúc nửa đêm mọi người nói chuyện ngoài sân, mặt đối mặt mà các ông không chào hỏi nhau, chứng tỏ các ông không quen biết nhau.
“Cậu nói phải, rốt cuộc bọn chúng là ai?
“Nghe giọng thì hình như là cái gã ngồi dưới gốc hòe chuyên kể mấy chuyện tiếu lâm giường chiếu ấy.
“Tên này tinh ranh gớm, ta nhìn ánh mắt hắn là biết. Kẻ có ánh mắt đảo như bi ve, tâm địa ắt độc ác, tính tình xảo trá.
“Tên này tinh ranh lắm, chỉ nhìn ánh mắt là tôi nhận ra ngay. Kẻ nào ánh mắt láo liên, đảo qua đảo lại liên tục, thì lòng dạ thường hiểm độc, gian trá khó lường.”
“Giờ phải làm thế nào?
“Trước tiên phải dò xét lai lịch hai tên này đã”
Trên con đường vận tiêu này chỉ có hai đoàn, một là đoàn của Quang Đầu, đi từ Trương Gia Khẩu đến Gia Dục Quan, thậm chí đến Cáp Mật; đoàn kia đi theo chiều ngược lại, từ Gia Dục Quan về Trương Gia Khẩu. Nhưng Hưởng Mã vùng này chỉ có một nhóm, chính là đám người của gã gầy ốm. Chuyện này cũng giống như loài sói. Trên những thảo nguyên hay hoang mạc mênh mông, bầy sói luôn phân chia địa bàn rõ ràng. Nếu có đàn sói khác dám liều lĩnh xâm phạm, đôi bên chắc chắn sẽ nổ ra một trận sinh tử chiến.; Hưởng Mã cũng vậy, mỗi băng nhóm đều có lãnh địa riêng. Chẳng hạn như Vương Luân, Lâm Xung chiếm cứ Thủy Bạc Lương Sơn, Lỗ Trí Thâm, Dương Chí đóng giữ núi Nhị Long, hay như Yến Thuận, Vương Anh trấn thủ núi Thanh Phong. Nếu Hưởng Mã khác dám xâm phạm địa bàn, cũng sẽ dẫn đến một trường huyết chiến.
Hưởng Mã muốn tiêu diệt đoàn tiêu, đây là cơ mật cấp cao trong giới Hưởng Mã, người thường sao biết được? Vậy mà gã râu kẽm kể chuyện cười tối qua lại biết bí mật này, còn hỏi đám áp tiêu đã chết chưa. Hắn lại không phải người trong giới Hưởng Mã, gã râu kẽm này lai lịch trùng trùng lớp lớp nghi vấn.
Hưởng Mã định ra tay giết đám tiêu sư, đó là chuyện cơ mật trong nội bộ Hưởng Mã, người thường làm sao biết được. Vậy mà gã ria chữ bát chuyên kể chuyện tiếu lâm đêm qua lại nắm rõ bí mật ấy, còn dò hỏi xem tiêu khách đã chết chưa. Gã lại chẳng phải người của Hưởng Mã, quả là đáng nghi.
Trời sáng, tôi dậy sớm nấp sau khe cửa, quan sát phòng của hai kẻ kia.
Chẳng bao lâu, cánh cửa mở ra, bọn chúng bước ra ngoài.
Ra khỏi phòng, chúng không đến bên giếng rửa mặt mà chỉ dùng hai tay xoa xoa mặt, coi như đã rửa xong. Người của tiêu cục mới có thói quen ra ngoài không rửa mặt. Chẳng lẽ hai kẻ này là người của tiêu cục?
Nhưng trông chúng lại chẳng giống người tiêu cục chút nào. Người tiêu cục ra ngoài bao giờ cũng đi thành đoàn, cưỡi ngựa hộ tống hàng hóa, còn hai kẻ này không có hàng hóa, sao có thể là người tiêu cục? Hơn nữa, người tiêu cục đều là dân luyện võ, giang hồ gọi là "tiêm quải tử". Người có võ nghệ toàn thân toát lên vẻ rắn rỏi, nhanh nhẹn, còn hai kẻ này người ngợm lỏng lẻo, nhất là gã ria chữ bát, béo tốt phì nộn, trông chẳng khác gì tham quan ô lại, sao có thể là tiêm quải tử được?
Hai gã này cũng cưỡi ngựa, nhưng ngựa của chúng khung xương nhỏ, trông không cao lớn oai phong bằng ngựa của chúng tôi.
Niệm Gia Thân cũng đã dậy, lão ghé mắt vào khe cửa nhìn ra ngoài.
Tôi nói: “Kẻ tối qua nói ám ngữ chính là hai tên này. Bọn nó còn định trộm ngựa của chúng ta nữa”
Niệm Gia Thân nhìn bọn chúng, lại nhìn tôi, rồi hỏi:
“Cậu có hiểu gì về ngựa không? Biết xem tướng ngựa không?”
“Tôi đâu có biết mấy cái đó”
“Ngựa của chúng ta là ngựa Hà Khúc, ngựa của chúng nó là ngựa Mông Cổ. Xem ra hai tên này cũng là người sành ngựa, vừa nhìn đã biết ngựa của chúng ta tốt hơn”
Hồi trước tôi lang thang trên thảo nguyên, từng nghe Bạch khất cái nhắc đến ngựa Mông Cổ, lão bảo ngựa Mông Cổ là danh mã, Thành Cát Tư Hãn chính nhờ giống ngựa này mà tung hoành thiên hạ, đánh đâu thắng đó. Sao bây giờ Niệm Gia Thân lại bảo ngựa Mông Cổ không tốt?
Trước kia, khi còn lang bạt trên thảo nguyên, tôi từng nghe Bạch khất cái nhắc đến ngựa Mông Cổ. Ông ta nói ngựa Mông Cổ là giống ngựa tốt. Thành Cát Tư Hãn nhờ những con tuấn mã ấy mà tung hoành thiên hạ, đánh đâu thắng đó. Sao bây giờ Niệm Gia Thân lại bảo ngựa Mông Cổ không tốt?
Niệm Gia Thân giải thích:
“Ngựa chia làm ba loại: ngựa máu nóng, ngựa máu ấm, ngựa máu lạnh. Ngựa Hà Khúc của chúng ta là ngựa máu nóng; ngựa Mông Cổ của chúng là ngựa máu ấm; còn loại dùng cày ruộng ở quê là ngựa máu lạnh. Nói về chiến mã, ngựa máu lạnh không thể ra trận, chỉ nghe tiếng hò reo chém giết là sợ nhũn người rồi; ngựa máu ấm sức bền tốt nhưng lực bộc phát kém, thích hợp đi đường dài và hành quân xa; ngựa máu nóng mới là chiến mã bẩm sinh, gan dạ vô cùng, sức càn lướt mãnh liệt lại hiểu tính người. Thế nên ngựa Mông Cổ của chúng chẳng thể nào bì được với ngựa Hà Khúc của ta, vì vậy chúng mới nảy lòng tham muốn trộm.
Hai gã kia đứng bên miệng giếng, quay trục lôi lên một thùng nước, cho hai con ngựa uống, còn mình thì móc bao thuốc lá ra, mỗi tên hút một điếu.
Tôi nói: “Chúng nó hút loại thuốc này, chắc chắn là kẻ có tiền. Đến chú Báo Tử cũng chỉ hút tẩu dùng thuốc lá sợi, tôi chưa thấy anh ấy hút loại thuốc này bao giờ. Lại nhìn quần áo trên người chúng, đích thị là kẻ giàu có. Đã giàu thế, sao không mua lấy hai con ngựa Hà Khúc mà đi?”
Niệm Gia Thân nói:
“Cậu tưởng ngựa Hà Khúc dễ mua thế à? Ta nói cho cậu biết, hai con ngựa chúng ta đang cưỡi là hai con ngựa Hà Khúc duy nhất trong giới Hưởng Mã đấy. Ngựa Hà Khúc chỉ có ở đồng bằng Hà Sáo. Người đời thường nói Hoàng Hà có trăm cái hại, chỉ lợi mỗi vùng Hà Sáo. Chữ "Sáo" ở đây là chỉ đồng bằng Hà Sáo, nơi này đất đai màu mỡ, cỏ cây tươi tốt, khí hậu mát mẻ, thích hợp cho ngựa sinh trưởng, nên ngựa ở đây mới gọi là ngựa Hà Khúc. Đồng bằng Hà Sáo phía Tây giáp Cam Túc, Thanh Hải, phía Bắc tựa vào vùng biên ải xa xôi, là bãi chăn thả ngựa tự nhiên, các triều đại đều lập chợ buôn ngựa ở đây, dùng tơ lụa và trà đổi lấy ngựa Hà Khúc...”
Niệm Gia Thân còn chưa nói hết thì hai con ngựa Mông Cổ đã uống hết nước trong thùng. Hai gã kia dắt ngựa bước ra khỏi cổng lớn. Niệm Gia Thân nói: “Chuyện này để bàn sau. Hai tên kia sắp đi rồi. Tôi đoán rằng manh mối về kẻ sát hại con trai gã gầy ốm có lẽ nằm chính trên người chúng nó đấy. Chúng ta mau ra ngoài thôi.”
Hai người chẳng kịp rửa mặt, chào chủ quán một tiếng rồi dắt ngựa từ chuồng ra, đuổi theo bọn chúng.
Lệ Mã bị bắt đến Tây Vực, hướng đi của chúng tôi là phía Tây, còn hai kẻ kia lại cưỡi ngựa đi về phía Đông. Chúng tôi đuổi theo một đoạn, Niệm Gia Thân bảo:
“Hay là thế này đi, cả hai chúng ta cùng bám theo thì mục tiêu quá lớn. Cậu cứ đi về phía Tây trước, đến Hồng Diêu Bảo đợi tôi. Chậm nhất là ba ngày nữa tôi sẽ có mặt ở đó. Nếu sau ba ngày tôi chưa đến, nghĩa là chưa dò hỏi được tin tức gì hữu dụng, tôi cần tiếp tục bám theo chúng. Cứu Lệ Mã và tìm manh mối, hai việc này đều quan trọng như nhau. Nếu ba ngày sau không thấy tôi ở Hồng Diêu Bảo, cậu cứ một mình đi Tây Vực trước. Sau khi nắm bắt được tình hình, tôi sẽ quay về Hồng Diêu Bảo đợi cậu.
Tôi hỏi:
“Hồng Diêu Bảo là chỗ nào?
“Hồng Diêu Bảo nằm trong một cánh rừng, rất kín đáo. Dọc theo con đường này đi về phía Tây trăm dặm là đến huyện Sơn Đan. Từ huyện thành Sơn Đan đi về phía Bắc năm dặm có một cánh rừng, trong rừng có tòa cổ bảo, đó chính là Hồng Diêu Bảo. Chúng ta gặp nhau ở đó. Nếu tôi đi rồi, tôi sẽ để lại ấn ký; cậu đi rồi cũng để lại ấn ký cho tôi.”
“Ấn ký như thế nào?
“Trước cửa Hồng Diêu Bảo có cây liễu lớn, ai đi trước thì khắc hình chữ thập lên cây, nhớ là khắc ở tầm cao bằng người, tránh để la lừa gặm mất vỏ cây làm mất dấu”
Tôi gật đầu.
Niệm Gia Thân dặn dò thêm:
“Cậu cứ dốc sức đuổi theo con đường này, đoán chừng chưa đến Tây Vực là đã đuổi kịp Lệ Mã rồi. Nhớ kỹ, chỉ có thể dùng mưu, không được dùng sức”
Tôi đáp: “Tôi nhớ rồi”
Chúng tôi chia tay nhau tại đây, tôi cưỡi ngựa về phía Tây, Niệm Gia Thân phi ngựa về phía Đông. Đi được một quãng xa, tôi ngoái đầu nhìn lại, thấy Niệm Gia Thân đang vẫy tay chào tôi.
Lòng tôi chợt dâng lên một nỗi cảm thương khó nói. Chẳng biết sau lần ly biệt này, bao giờ mới có cơ hội tái ngộ. Niệm Gia Thân là người thứ hai tôi gặp có kinh nghiệm giang hồ cực kỳ phong phú, còn người đầu tiên, không ai khác chính là Bạch khất cái.
Giang hồ hiểm ác trùng trùng, nhưng giang hồ cũng tràn đầy nghĩa khí. Chính vì giang hồ vừa có bầu nhiệt huyết sục sôi, vừa có đạo nghĩa rực lửa, nên mới khiến người ta phải mòn mỏi hướng về.
Tôi vẫy tay chào Niệm Gia Thân, rồi thúc ngựa hướng về phía Tây.