Tổ Bịp
- 5771 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 75: Cô gái này không đơn giản
Chúng tôi tiếp tục cưỡi ngựa tiến về phía trước, đi đến giữa trưa thì thấy bên đường có người đang cuốc đất. Đó là một lão nông dân với khuôn mặt hằn sâu dấu vết sương gió và vẻ cam chịu nhẫn nại. Tôi cất tiếng hỏi: “Bác ơi cho hỏi Hạ Gia Nham còn bao xa nữa?”
Lão nông chống tay lên cán cuốc, chỉ về phía trước bảo không còn xa đâu, vòng qua cái mỏm núi kia là tới rồi.
Tôi vừa nghe sắp tới Hạ Gia Nham thì tinh thần phấn chấn hẳn lên, quất ngựa phi nước đại. Con ngựa mà Chủ khách điếm cho chúng tôi quả là ngựa tốt, chạy một quãng đường dài như vậy mà ý chí vẫn hừng hực. Người nhà quê có câu “Trông núi chạy chết ngựa”, ý nói lúc đi đường nhìn thấy núi trước mặt cứ ngỡ sắp đến nơi, kỳ thực có chạy đến chết ngựa cũng chưa tới được. Con ngựa chạy một lúc thì cũng mệt. Chúng tôi không nỡ ép nó chạy thêm, đành để nó thong dong bước đi. Mãi đến lúc hoàng hôn buông xuống, chúng tôi mới tới được Hạ Gia Nham.
Hạ Gia Nham là một trấn lớn, quy tụ đến mấy trăm hộ gia đình. Hai bên đường phố cửa tiệm san sát nhưng giờ này đều đang rục rịch đóng cửa. Giữa đường cái có một gã nhìn như kẻ ăn mày, đầu tóc rối bù bẩn thỉu đứng chắn ngay trước đầu ngựa. Kể từ khi nghe chuyện thái sinh chiết cát, tôi nảy sinh cảm giác bài xích vô cớ với lũ ăn mày nên lớn tiếng quát bảo tránh đường ra. Gã có bộ dạng ăn mày kia ngẩng đầu lên nhìn chúng tôi đang ngồi trên ngựa. Hai mắt của gã một bên to một bên nhỏ. Gã sừng sộ hỏi hét cái gì mà hét, định bắt nạt ông đây không có tiền hả, ông đây có khối tiền nhé. Tôi chẳng thèm chấp nhặt với gã, trong lòng lúc này đang khấp khởi mừng thầm vì sắp được gặp lại Báo Tử và Quang Đầu. Lúc này dẫu có mười gã ăn mày chắn đường thì tôi cũng chẳng bận tâm.
Gã mắt to mắt nhỏ lững thững bỏ đi, tôi thúc ngựa chạy thẳng đến khách điếm. Thế nhưng trong khách điếm lại chẳng thấy bóng dáng đám Báo Tử và Quang Đầu đâu cả.
Đêm hôm đó chúng tôi nghỉ chân tại khách điếm này. Khách điếm này từ trong ra ngoài đều toát lên vẻ quái lạ, chúng tôi tìm mãi không thấy Chủ khách điếm đâu. Tôi định hỏi thăm tin tức của Báo Tử và Quang Đầu từ miệng Chủ khách điếm thì tiểu nhị chạy lại bảo Chủ khách điếm bận lắm không lo xuể bên này đâu. Tôi bắt chước giọng điệu người giang hồ ra vẻ hống hách, bảo rằng nếu Chủ khách điếm không chịu ra mặt thì ngày mai anh em huynh đệ của tôi đến sẽ cho Chủ khách điếm biết tay. Tiểu nhị lại bảo Chủ khách điếm không có ở đây, trời chưa tối đã đi ra ngoài rồi.
Rốt cuộc lão Chủ khách điếm này bị làm sao mà phải trốn tránh không dám gặp khách. Trước kia đi ở trọ chưa bao giờ gặp phải tình cảnh này. khách khứa chỉ cần ới một tiếng là Chủ khách điếm đã chạy tót ra, muốn gì được nấy, mặt mũi tươi cười, biết gì cũng nói cho bằng hết. Thời buổi giao thông chưa phát triển, những kẻ có thể đi lại trên đường cái quan đều chẳng phải hạng vừa. Chủ khách điếm không dám đắc tội, nếu lỡ đắc tội nhầm người thì chỉ có chuốc họa vào thân. Tìm không thấy chủ quán, tiểu nhị lại ấp a ấp úng chẳng nói được đầu đuôi ngọn ngành. Tôi không biết đoàn vận tiêu ra sao rồi, có trọ ở đây không, nếu có thì rời đi lúc nào. Dẫu trong bụng đầy lo lắng nhưng tôi cũng đành tự mình suy tính.
Sau đó tôi ngủ thiếp đi.
Lúc chúng tôi tỉnh giấc thì trời vừa tảng sáng. Chúng tôi mặc quần áo xuống khỏi kháng, chuẩn bị rửa mặt để lên đường. Dân hộ tiêu vốn dĩ không được rửa mặt, nhưng từ khi quen Lệ Mã, mấy ngày nay hôm nào tôi cũng rửa mặt cùng nàng. Lệ Mã là người ưa sạch sẽ nên tôi cũng học thói sạch sẽ ấy. Đột nhiên ngoài cửa khách điếm vang lên tiếng đập cửa dồn dập, có người ở bên ngoài lớn tiếng hô hoán: “Chết người rồi, chết người rồi, Bà con ơi.”
Tiểu nhị vội vàng mở cửa sân, bỗng nhiên trượt chân ngã sóng soài ra đất. Tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào, tôi thấy trước cửa có bảy tám người đang đứng lố nhố. Tôi bước tới xem xét sự tình thì bất chợt nhìn thấy trên khung cửa khách điếm có treo một cái đầu người.
Đó là đầu của một người đàn bà, trên mặt còn trát một lớp phấn trắng dày cộp, mái tóc rất dài được búi lên rồi treo lủng lẳng trên khung cửa. Bên ngoài có một ông lão tay cầm cái mõ, cao giọng hét: “Chết người rồi. Ai cũng không được đi. Kẻ nào đi kẻ đó chính là hung thủ giết người”
Xem chừng ông ta là canh phu. Thời xưa người ta không có đồng hồ báo thức, việc báo giờ giấc ban đêm hoàn toàn dựa vào những người canh phu này.
Lại có người giục: “Báo quan đi, mau báo quan đi”
Ngay lập tức có người đáp lời: “Đã báo quan rồi, quan phủ sắp đến ngay bây giờ”
Tiếng ồn ào đánh thức một người đàn ông trung niên. Ông ta đi chân đất chạy ra, bất chợt nhìn thấy cái đầu người treo trên khung cửa thì hồn phi phách tán, miệng kêu rằng: “Cái gã đáng băm vằm nghìn nhát kia quả nhiên đã làm ra chuyện động trời này”
Lập tức có người hỏi ngay: “Kẻ đáng băm vằm là ai? Ai là kẻ đáng băm vằm?”.
Lại có người nói: “Chủ khách điếm à ông phải nói cho rõ ràng, không được làm liên lụy đến hàng xóm láng giềng chúng tôi đâu đấy”
Hóa ra người đàn ông trung niên kia chính là chủ quán.
Mặt Chủ khách điếm xám ngoét như tro, không thốt nên lời. Người tụ tập bên ngoài càng lúc càng đông, tiếng ồn ào huyên náo tưởng chừng muốn hất tung cả mái nhà, dường như cả cái trấn Hạ Gia Nham đều kéo đến đây, dường như cả trấn đều biết trước cửa khách điếm này có treo một cái đầu đàn bà. Họ vây kín cửa khách điếm, vừa căng thẳng lại vừa phấn khích. Tôi lo trong đám đông có người nhận ra mình và Lệ Mã nên đành trốn biệt trong phòng. Một lát sau bên ngoài vang lên tiếng vó ngựa, tiếp đó là một tiếng thét lớn: “Tránh ra, tránh ra mau. Quan phủ đến rồi.”
Tôi ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ, thấy một gã lùn béo nhảy từ trên lưng ngựa xuống, gã vung tay lên, mười mấy gã mặc đồ đen sau lưng lập tức xông vào trong khách điếm, đứng giữa sân quát lớn: “Tất cả ra ngay, ra hết đây, đến trước mặt quan phủ nói cho rõ ràng”
Chúng tôi đành phải bước ra ngoài. Gã lùn béo bắt tất cả mọi người trong khách điếm đứng thành một hàng, đi qua cánh cửa gỗ của khách điếm. Lúc đi qua dưới cái đầu đàn bà kia, tôi ngước lên nhìn thoáng qua, thấy trên mặt người đàn bà đó bê bết máu, chỗ cổ bị chặt đứt cũng là những vệt máu đã đông lại, kinh dị vô cùng. Lệ Mã đeo mạng che mặt đi theo sau tôi, nhưng dù có che chắn thế nào thì vẻ đẹp kiều diễm của nàng vẫn làm người ta phải choáng ngợp. Nàng đi đến đâu đám đông ở đó im bặt, lặng lẽ ngắm nhìn nàng, không kìm được mà lùi lại một bước. Tấm áo choàng rộng thùng thình và lớp mạng che mặt cũng chẳng thể nào che giấu nổi vẻ đẹp của Lệ Mã.
Gã lùn cưỡi trên ngựa áp giải chúng tôi đi về phía trước, gã quay đầu lại quát hai gã mặc đồ đen ở lại bảo trông coi hiện trường cho kỹ, đợi ngỗ tác tới. Ngỗ tác chính là người khám nghiệm tử thi, thời xưa địa vị rất thấp. Làm nghề ngỗ tác đều là hạng người hạ đẳng nhất, không phải tiện dân thì cũng là nô lệ. Ngày nay tên gọi của ngỗ tác là pháp y. Chủ khách điếm đi đầu tiên, bước chân lảo đảo, thần trí hoảng loạn. Gã lùn ngồi trên ngựa quất cho ông ta một roi chửi: “Đi nhanh lên, nhìn bộ dạng bay y hệt kẻ giết người”
Chủ khách điếm không dám cãi lại, Tay thì vung rõ mạnh nhưng bước chân lại chẳng thể nhanh hơn. Ai nấy đều cho là Chủ khách điếm đã giết người, nếu không thì tại sao ông ta lại sợ hãi đến mức ấy.
Có người đánh tiếng với gã lùn rằng: “Chủ khách điếm giết người thì không thể làm liên lụy đến khách trọ. Các ngài cứ bắt Chủ khách điếm đi là được, thả chúng tôi về đi thôi”
Gã lùn bảo: “Nói thì nói thế nhưng khi sự việc chưa được làm sáng tỏ thì không ai được phép rời đi”
Chúng tôi đi về hướng huyện thành được chừng bốn năm dặm thì phía sau đột nhiên vang lên tiếng kêu thất thanh: “Dừng lại đã, dừng lại đã”. Chúng tôi quay đầu lại nhìn, thấy người nọ tay xách một cái đầu đàn bà, chạy đến mức thở không ra hơi. Người này ăn mặc rách rưới, so với ăn mày cũng chẳng khá hơn là bao. Hắn đuổi kịp chúng tôi rồi giơ cái đầu đàn bà lên nói: “Đây không phải người thật. Cái đầu này là đồ giả, được nặn bằng bột mì đấy”
Gã lùn ngồi trên ngựa còn chưa kịp mở miệng thì Chủ khách điếm đã òa lên khóc nức nở rằng: “Ối giời cao đất dày ơi, dọa chết tôi rồi. Ông trời ơi ông mở mắt rồi”
Gương mặt ông ta ánh lên niềm vui sướng tột độ của kẻ vừa thoát nạn trong gang tấc. Gã lùn giơ roi ngựa lên định quất thêm nhát nữa nhưng cuối cùng lại kìm được, gã hạ roi xuống hỏ: “Cửa quán nhà ngươi sao lại có đầu đàn bà giả, mau nói rõ xem rốt cuộc là chuyện gì”
Chủ khách điếm gạt nước mắt, kể lại một câu chuyện khiến người ta phải kinh ngạc.
Ba hôm trước vào một đêm khuya khoắt, tất cả cửa tiệm ở Hạ Gia Nham đều đã đóng cửa, chủ khách điếm cũng chuẩn bị cài then thì đột nhiên ngoài cửa có một kẻ ăn mặc rách rưới lách mình vào, đầu tóc rối bù, mặt mũi nhem nhuốc, mắt thì một cái to một cái nhỏ. Hắn vừa vào đã hỏi Chủ khách điếm rằng: “Bao nhiêu tiền một cân vàng”
Chủ khách điếm thấy gã này mặt mũi ngu si đần độn lại hỏi một câu chẳng đầu chẳng đuôi, làm gì có ai bán vàng bao giờ, lại còn bán theo cân, bèn đuổi khéo bảo mình sắp đóng cửa đi ngủ rồi. Kẻ kia móc trong ngực ra một cái túi vải, mở túi ra thì bên trong lại chứa đầy những thỏi vàng sáng chóe. Chủ khách điếm vừa nhìn thấy vàng thì chẳng còn nhắc gì đến chuyện đóng cửa đi ngủ nữa, vội hỏi: “Vàng này anh lấy ở đâu ra”
Gã mắt to mắt nhỏ nói: “Nhà tôi đào được lúc đào móng xây nhà. Ở nhà vẫn còn nhiều lắm, đựng đầy cả một hũ sành” Chủ khách điếm cầm một thỏi vàng lên xem thử, thấy nó nặng trịch, đúng là kim nguyên bảo thì vui như mở cờ trong bụng.
Gã mắt to mắt nhỏ lại hỏi: “Bao nhiêu tiền một cân vàng?” Chủ khách điếm ra cửa ngó nghiêng trái phải thấy không có ai, bèn đóng cửa phòng lại rồi thì thầm với gã rằng: “Anh muốn bao nhiêu tiền?”
Gã kia bảo: “Tôi không biết nên mới hỏi ông chứ?”
Chủ khách điếm ngẫm nghĩ một lát rồi bảo: “Một cân trị giá năm đồng bạc trắng”
Thực ra giá thị trường lúc bấy giờ một cân vàng đâu chỉ có năm đồng bạc trắng, một trăm đồng bạc trắng cũng chưa chắc đã mua được. Gã mắt to mắt nhỏ nói: “Ông lừa tôi, người ta đều bảo một cân vàng phải đáng giá mười đồng bạc trắng, ông chỉ trả tôi có năm đồng”
Gã bỏ mấy thỏi kim nguyên bảo vào túi vải định bỏ đi. Chủ khách điếm thấy mối hời béo bở dâng đến tận miệng giờ sắp vuột mất bèn vội vàng kéo giật gã lại bảo: “Người anh em thật là nóng tính. Tôi đã nói hết đâu nào”
Gã kia nhìn chủ khách điếm trân trân. Chủ khách điếm bảo: “Người khác trả mười đồng bạc trắng, tôi trả mười một đồng, thế nào”
Gã mắt to mắt nhỏ ngẫm nghĩ rồi nói: “Thế thì ông phải đưa tiền tươi cho tôi trước. Tôi không bán chịu đâu”
Chủ khách điếm nói: “Không thành vấn đề”
Gã mắt to mắt nhỏ giao mấy thỏi kim nguyên bảo cho chủ khách điếm. Chủ khách điếm đếm đủ số bạc trắng đưa cho gã. Gã kia lại hỏi Chủ khách điếm: “Nhà tôi vẫn còn. Ông có lấy không?”
Chủ khách điếm mừng rỡ nói: “Lấy, lấy chứ”
Gã kia nói: “Vậy tối mai vẫn giờ này. Tôi mang đến cho ông”
Sau khi gã mắt to mắt nhỏ rời đi, Chủ khách điếm đóng chặt cửa phòng, săm soi kỹ lưỡng mấy thỏi kim nguyên bảo, nào cân nào tính, không hề hấn gì, toàn là đồ thật cả. Chủ khách điếm sướng rơn người, cả đêm thức trắng. Ông ta tin rằng trên trời thực sự có rơi xuống kim nguyên bảo.
Đêm hôm sau vẫn vào giờ đó, gã mắt to mắt nhỏ lại đến. Lần này gã vác theo mấy thỏi kim nguyên bảo nữa, Chủ khách điếm ân cần tiếp đãi gã, lúc gã đi lại đưa cho gã một đống bạc trắng. Chủ khách điếm hỏi: “Nhà anh còn bao nhiêu nữa”
Gã bảo: “Còn nửa vò nữa”
Chủ khách điếm dặn: “Vậy tối mai anh mang hết đến đây. Tôi lấy tất”
Gã kia nói: “Tối mai vẫn giờ này ông đợi tôi nhé”
Đêm thứ ba, tức là đêm qua, vẫn vào giờ đó gã mắt to mắt nhỏ lại đến. Lần này trong ngực gã phồng lên một bọc to tướng, Chủ khách điếm vừa nhìn thấy đã mừng như điên. Ông ta nghĩ bụng cái gã dở người này chắc chắn mang cả cái vò đến cho mình rồi. Gã mắt to mắt nhỏ vừa bước vào khách điếm liền tự tay đóng cửa phòng lại, sau đó móc từ trong ngực ra một vật đặt lên cái bàn trước mặt chủ quán. Chủ khách điếm nhìn một cái thì chết sững. Đó là một cái đầu người, đầu của một người đàn bà.
Gã mắt to mắt nhỏ nói: “Ông lừa tôi. Một cân kim nguyên bảo ít nhất ông cũng phải trả tôi một trăm đồng bạc trắng. Đằng này ông chỉ đưa tôi có mười một đồng. Tối nay tôi cãi nhau với vợ, vợ tôi chửi tôi ngu. Tôi tức quá giết mụ ấy luôn rồi. Đây là đầu của mụ ấy. Ông nói xem chuyện này giờ tính sao đây?”
Chủ khách điếm nhìn thấy cái đầu người thì đã sợ đến thất kinh hồn vía, run rẩy hỏi lại: “Anh nói tính sao bây giờ?”
Gã kia nói: “Chúng ta đi gặp quan. Ông lừa tôi cũng là hại chết vợ tôi”
Chủ khách điếm hoảng hốt. Chuyện này mà ra cửa quan thì làm sao yên thân được, bèn nói: “Ngàn vạn lần đừng đi gặp quan phủ”
Gã mắt to mắt nhỏ nói: “Không gặp quan cũng được. Ông lấy hết số vàng hai hôm nay nhận của tôi ra đây trả lại cho tôi, rồi đưa thêm cho tôi bốn trăm đồng bạc trắng nữa. Ông ép tôi giết vợ, sau này thành thằng độc thân rồi, lấy của ông tí tiền thì có xá gì”
Chủ khách điếm nói: “Tôi không có nhiều bạc trắng thế đâu”
Gã kia nói: “Không có cũng được. Tôi hô lên một tiếng để khách trọ kéo sang đây, ông vay tạm của họ vậy”
Chủ khách điếm van vỉ: “Đừng, ngàn vạn lần đừng làm thế” Chủ khách điếm rối như tơ vò, không biết phải làm thế nào. Bốn trăm đồng bạc trắng là một khoản tiền lớn, ông ta vất vả mở khách điếm cả năm trời cũng chẳng kiếm nổi bốn trăm đồng. Giờ đây gã kia vừa mở miệng đã đòi bốn trăm đồng, giao cả đống tiền lớn như vậy cho gã chẳng khác nào cắt thịt chủ quán, ông ta thực sự không cam tâm.
Gã mắt to mắt nhỏ lại giục: “Nhanh lên, bốn trăm đồng bạc trắng”
Chủ khách điếm vẫn kêu: Tôi không có nhiều tiền thế”
Ngoài cửa khách điếm vang lên tiếng đập cửa, không phải một hai tiếng mà là tiếng mấy người cùng đập thình thình. Bên ngoài còn vọng vào tiếng người nói, giọng một gã đàn ông hét lên: “Đại Tiểu Nhãn, mở cửa ra, tao nghe thấy mày ở trong đó”
Chủ khách điếm sợ nhũn cả người, đến sức mở cửa cũng chẳng còn. Gã mắt to mắt nhỏ vội vàng giấu cái đầu người vào trong áo, đứng dậy mở cửa. Ba gã đàn ông hùng hổ bước vào. Gã nào gã ấy trông như hung thần ác sát.
Gã mắt to mắt nhỏ vừa thấy ba gã đàn ông này thì lần lượt gọi là anh vợ cả, anh vợ hai, anh vợ ba. Ba ông anh vợ trừng mắt nhìn gã hỏi: “Thằng chó chết kia, mày làm gì em gái tao rồi”
Gã mắt to mắt nhỏ sợ hãi luống cuống tay chân, chỉ vào Chủ khách điếm nói: “Các anh hỏi ông ta ấy, hỏi ông ta ấy”
Chủ khách điếm chối đây đẩy: “Không liên quan đến tôi, không liên quan đến tôi”
Gã kia túm lấy cổ áo chủ khách điếm nói: “Ông còn dám nói không liên quan, nếu ông không lừa tiền của tôi thì vợ tôi đâu có cãi nhau với tôi. Oan có đầu nợ có chủ, tôi không tìm ông thì tìm ai! Chúng ta gọi hết khách trọ dậy để mọi người phân xử xem nào”
Chủ khách điếm sợ lắm rồi, một là sợ gã kia báo quan, hai là sợ gã hô hoán, ba là sợ gã trả thù. Ông ta cứ van xin gã đừng làm rùm beng lên. Gã mắt to mắt nhỏ cứ khăng khăng đòi tiền. Chủ khách điếm cực chẳng đã đành phải đưa cho gã bốn trăm đồng bạc trắng, lại còn trả hết mấy thỏi kim nguyên bảo cho gã.
Gã mắt to mắt nhỏ đi rồi, ba ông anh vợ của gã cũng đi nốt, Chủ khách điếm đóng cửa phòng lại, hối hận đến mức tự vả vào mồm mình chan chát, vừa đánh vừa rủa bản thân: “Cái tội ham tiền này. Cái tội ham tiền này”
Ông ta tát đến tóe máu mồm. Lúc này chỉ có nỗi đau thể xác mới làm vơi bớt nỗi ân hận đang dâng trào trong lòng. Khi trời gần sáng, chủ khách điếm mới chợp mắt được một chút, không ngờ tiếng ồn ào bên ngoài lại đánh thức ông ta dậy. Cái gã mắt to mắt nhỏ đáng băm vằm kia lừa tiền của ông ta xong còn treo cái đầu đàn bà giả ngay trước cửa khách điếm. Khi chủ khách điếm nhìn thấy cái đầu giả thì gã kia đã cao bay xa chạy từ lâu rồi. Từ nay về sau bọn chúng sẽ chẳng bao giờ quay lại Hạ Gia Nham nữa. Thế giới rộng lớn thế này, mỗi nơi bọn chúng chỉ lừa một người, có lừa cả đời cũng lừa không hết.
Gã mắt to mắt nhỏ cũng giống như bọn Cao Thụ Lâm, bắn xong phát súng là đổi ngay vị trí, muốn tìm được bọn chúng thì khó hơn lên trời. Nghe chủ khách điếm kể vậy tôi lập tức hiểu ra ngay. Chủ khách điếm đã gặp phải sái tinh rồi. Sao vùng này lại lắm kẻ lừa đảo đến thế? Tôi càng tin chắc vào phán đoán của mình hôm gặp gã thư sinh nghèo kiết xác. Nơi này đích thị là tổng đàn của Lão Nguyệt giang hồ, mà đại đương gia của bọn chúng chính là gã béo tôi từng gặp trong trận tỷ võ ở khu lò gạch cũ.
Chủ khách điếm được một phen hú vía, cảm giác như từ cõi chết trở về. Ông ta tuyên bố với mọi người: “Tối nay ai muốn trọ lại, tôi đều không lấy tiền”.
Nhiều khách trọ reo hò ầm ĩ vì được ở không một đêm. Nhưng chúng tôi thì chẳng muốn trọ lại, chúng tôi chỉ muốn mau chóng đuổi kịp Báo Tử và Quang Đầu. Gã lùn thả cho chúng tôi về. Mọi người dọc đường cười nói rôm rả, vẻ mặt nhẹ nhõm vô cùng. Chúng tôi về đến khách điếm thì giật mình kinh hãi, ngựa của chúng tôi đã biến mất rồi.
Vừa rồi lúc gã lùn áp giải chúng tôi đi, tiểu nhị đã khóa cổng khách điếm lại, giờ đây khóa cổng đã bị người ta mở tung. Nhưng kỳ lạ là trong khách điếm chẳng mất thứ gì khác, chỉ mất mỗi ngựa của chúng tôi. Rõ ràng tên trộm chỉ nhắm vào chúng tôi. Nhưng chúng tôi mới chân ướt chân ráo đến đây, chẳng quen biết ai, càng không có kẻ thù nào, ai lại gây khó dễ cho chúng tôi chứ? Liệu có phải đám hưởng mã kia không? Chắc là khó có khả năng ấy. Ngựa của bọn chúng đã bị tôi cho ăn hèm rượu, phải mất hai ba ngày thì đám ngựa đó mới lại sức. Khách điếm đám hưởng mã ở cách Hạ Gia Nham ít nhất cũng cả trăm dặm, không có ngựa thì đi bộ cũng phải mất hai ngày. Liệu có phải đám bày binh bố trận lừa tôi mua ngựa quân dụng không? Cũng không có khả năng ấy. Bọn chúng lừa tôi không thành thì còn lặn lội đuổi theo làm gì. Sái tinh chỉ lừa tiền chứ không thích dây dưa kéo dài. Một khi mánh lới bị vạch trần, bọn chúng sẽ chuồn ngay lập tức, không để lại rắc rối cho mình.
Vậy rốt cuộc ai là kẻ đã trộm ngựa của chúng tôi?
Chủ khách điếm thoát được một kiếp nạn thì trở nên hiền hòa, nhã nhặn hẳn. Ông ta kể cho tôi nghe chuyện các tiêu sư trọ lại đêm trước. Ông nói lúc các tiêu sư đến Hạ Gia Nham thì trời đã tối đen rồi. Ông vừa sắp xếp cho các tiêu sư chỗ nghỉ ngơi xong thì gã mắt to mắt nhỏ cũng đến. Từ đó về sau ông ta chỉ chuyên tâm chăm sóc gã kia, giao phó đám tiêu sư cho tiểu nhị lo liệu. Sau khi gã mắt to mắt nhỏ đi khỏi, ông ta đóng cửa quán, đi kiểm tra trong khách điếm thì bỗng cảm thấy có gì đó không đúng. Lạc đà nằm dưới gốc cây thong thả nhai cỏ nhưng đám tiêu sư chẳng thấy nghỉ ngơi. Người thì leo lên ngọn cây quan sát, kẻ thì nấp ở góc tường rình mò. Các tiêu sư trông thấy ông nhưng không ai chào hỏi, cứ như thể ông ta không tồn tại vậy.
Chủ khách điếm thấy không được vui. Các người đến nhà tôi mà lại coi tôi như không khí, làm vậy coi sao được? Chủ khách điếm bèn hỏi: “Các người làm cái gì đấy?”
Trong bóng tối có một gã đầu trọc bước ra, gã nói: “Ông chủ, mời ra đây ta nói chuyện riêng. Tôi nghe đến đây cảm thấy rất kỳ lạ bèn hỏi Chủ khách điếm: “Trước đây ông từng gặp gã đầu trọc này chưa?”
Chủ khách điếm nói: “Chưa gặp bao giờ”
Chưa gặp bao giờ ư? Chuyện này lạ lùng thật. Con đường này Quang Đầu đã đi suốt hai mươi năm nay. Từ Trương Gia Khẩu đến Gia Dục Quan dọc đường đi họ đều trọ ở những quán quen. Chủ khách điếm nào cũng là bạn bè của họ. Vậy mà chủ khách điếm này lại chưa từng gặp Quang Đầu? Tôi gặng hỏi: “Ông chưa gặp bao giờ thật à?” Chủ khách điếm nói: “Thật sự chưa từng gặp. Đêm hôm kia không chỉ là lần đầu tôi thấy gã đầu trọc ấy, mà cả đám khách cưỡi lạc đà kia cũng đều là những người tôi mới gặp lần đầu.”
Lạ thật đấy, tại sao Quang Đầu lại trọ ở một khách điếm lạ hoắc ở Hạ Gia Nham thế này? Chẳng lẽ họ không sợ nguy hiểm? Trong người ông đang mang theo tờ ngân phiếu mười vạn kia mà.
Chủ khách điếm nói tiếp: “Tôi thấy đám người này toát lên vẻ cổ quái nên đêm đó cũng chẳng dám ngủ. Tôi ở trong phòng, tắt hết đèn, nấp sau cửa sổ quan sát tình hình trong sân. Khoảng chừng qua canh ba, bên ngoài khách điếm vang lên một tiếng gà gô kêu, trên cây trong sân khách điếm cũng vọng lại một tiếng chim hoàng oanh. Tôi biết đó là tiếng kêu của các tiêu sư nấp trên cây. Họ đang ra ám hiệu với nhau. Tôi thầm nghĩ lão chủ khách điếm này quả nhiên là người từng trải, vừa nghe tiếng chim kêu là biết ngay giang hồ đang bắt liên lạc bằng ám hiệu.
Chủ khách điếm kể: Tiếng chim hoàng oanh trên cây vừa dứt thì bên ngoài khách điếm có một người trèo lên đầu tường. Lúc ấy tôi tức lắm, các người nửa đêm nửa hôm trèo tường vào nhà, trong mắt còn chủ khách điếm này không hả? Đêm hôm lén lút trèo tường, không phải trộm cũng là cướp. Nhưng nghĩ đến việc bọn họ đông người như thế, lại cầm theo gươm đao sáng loáng nên tôi cũng sợ. Tôi cứ xem bọn họ định giở trò gì”
Chủ khách điếm nói gấp quá phải thở hổn hển mấy hơi rồi mới kể tiếp: “Người trên đầu tường nhảy vào xong, người nấp dưới chân tường mới bước ra. Bọn họ chụm đầu thì thầm to nhỏ. Một lát sau người kia lại men theo đầu tường trèo ra ngoài. Hình như hắn biết võ nghệ, chạy đà mấy bước, một chân đạp lên lưng chừng tường, tay vươn ra bám lấy đầu tường. Lộn một vòng là ra ngoài luôn”
Tôi biết người trèo tường này dùng khinh công. Người có khinh công giỏi muốn vượt qua bức tường cao hai ba trượng thì dễ như trở bàn tay, nhấc chân là qua. Nhưng kẻ biết khinh công đến báo tin này là ai đây? Chủ khách điếm lại kể: “Người đó trèo ra ngoài không lâu thì gã đầu trọc bước ra. Gã đến trước cửa phòng tôi gọi cửa. Trong lúc đó những tiêu sư còn lại lùa lạc đà ra và chất hàng lên lưng chúng nó, xem ra bọn họ chuẩn bị rời đi. Tôi mở cổng sân, họ gấp rút lên đường, trong phòng còn sót lại một đôi tất. Có người đi vội quá đến tất cũng chẳng kịp xỏ.
Tôi hỏi: “Ông có biết tại sao họ lại vội vã rời đi như vậy không, họ đi đâu rồi?”
Chủ khách điếm nói: “Tôi không biết. Họ đi chưa được bao lâu thì bên ngoài khách điếm lại vang lên tiếng vó ngựa. Tôi ghé mắt nhìn trộm qua khe cửa, thấy bọn người mới đến tay lăm lăm đao sáng loáng, miệng nói thứ tiếng gì đó mà tôi chẳng hiểu. Thế rồi bọn chúng bao vây khách điếm. Có kẻ còn trèo tường vào xông thẳng vào phòng khách. Tôi nhìn thấy đao trên tay bọn chúng thì chẳng dám thốt lấy một câu, đến thở mạnh cũng phải cố kìm lại. Bọn chúng thấy gian phòng của đám tiêu sư trống không thì trèo tường ra bên ngoài. Tôi nghe tiếng vó ngựa xa dần mới dám ra xem xét”
Tôi hỏi: “Những kẻ đó là hạng người nào?”
Chủ khách điếm nói: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Đêm hôm qua cả hai toán người này đều kỳ quái. Nhìn điệu bộ hung dữ của họ thì ai mà dám hỏi?”
Đám tiêu sư nửa đêm phải bỏ đi thì chắc chắn là đã gặp phải chuyện vô cùng nguy hiểm. Nếu không thì họ chẳng đời nào chịu đi đường đêm, bởi lẽ rủi ro quá lớn. Chỉ cần sơ sẩy một chút là sẽ trúng mai phục, rơi vào cạm bẫy ngay. Tiêu khách gặp nguy, tôi phải mau chóng đuổi theo họ, biết đâu tôi có thể giúp được gì. Không có ngựa chúng tôi đành đi bộ về phía trước, muốn mua thêm con ngựa nữa nhưng trong túi lại chẳng có lấy một đồng.
Chúng tôi đi đến quá trưa mới được hơn mười dặm đường. Đột nhiên phía sau có một đám người cưỡi ngựa rầm rập đuổi theo, tất cả đều mặc áo choàng đen. Lệ Mã vừa trông thấy họ thì mặt biến sắc, vội vã buông mạng che mặt xuống. Tôi kéo Lệ Mã chạy về phía ngọn núi bên cạnh. Trên sườn núi mọc đầy những bụi cây thấp, ngựa không thể chạy qua được. Những kẻ mặc áo choàng đen kia buộc phải nhảy xuống ngựa. Bọn chúng xếp thành hàng đông như kiến trên sườn núi, rồi đuổi theo chúng tôi. Chúng tôi chạy lên đến đỉnh núi thì phải dừng bước. Phía bên kia núi là vực sâu vạn trượng, không nhìn thấy đáy.
Đám người truy đuổi bên này sườn núi dần dần áp sát. Tôi định ôm Lệ Mã nhảy xuống nhưng cứ cảm thấy có chỗ không đúng. Tại sao bọn họ lại đuổi theo chúng tôi? Rốt cuộc họ là ai? Nếu chúng tôi cứ thế này nhảy xuống thì chết cũng không minh bạch. Khi những kẻ đó đuổi lên đến đỉnh núi, tôi và Lệ Mã đứng bên mép vực, tay nắm chặt nhau. Chúng tôi chỉ cần lùi lại một bước nữa là sẽ rơi xuống dưới. Nhưng một cảnh tượng không ai ngờ đã xảy ra. Những kẻ kia đồng loạt quỳ rạp xuống đất, miệng đồng thanh hô một câu gì đó mà tôi không hiểu.
Tôi nhìn Lệ Mã. Nàng đeo mạng che mặt nên tôi không thấy rõ biểu cảm của nàng. Tôi nghĩ chắc là Lệ Mã cũng kinh ngạc lắm vì mọi chuyện diễn ra quá đột ngột. Trong đám người này có một vị trưởng giả. Ông ta đi lên bằng đầu gối và quỳ trước mặt Lệ Mã. Ông ta nói với nàng điều gì đó, vừa nói nước mắt vừa tuôn rơi lã chã. Lệ Mã cứ đứng lặng im như thế, chẳng mảy may xúc động.
Sau đó Lệ Mã nói một câu gì đó, những kẻ mặc áo choàng đen kia bỗng đồng loạt cất cao tiếng hát theo một giai điệu kỳ lạ. Tiếng ca lúc thì hào hùng, lúc lại uyển chuyển thiết tha, khiến lòng người không khỏi dâng trào một nỗi bi tráng xót xa. Hát xong, tất thảy bọn họ đều phủ phục xuống đất, khóc òa lên. Rồi họ lặng lẽ quay người, kẻ trước người sau nối đuôi nhau xuống núi. Tôi nhìn theo bóng lưng họ mà kinh ngạc tột độ. Những người này làm nghề gì? Tại sao ban đầu họ đuổi theo hung hãn như thế, vậy mà khi gặp Lệ Mã thái độ lại cung kính nhường ấy. Tại sao họ lại khóc lóc trước khi rời đi?
Những người từng gặp Lệ Mã đều nói nàng không phải một cô gái bình thường. Báo Tử nói thế, Quang Đầu nói thế, chủ khách điếm phía tây sa mạc cũng nói thế...Chỉ có tôi là yêu đến mụ mẫm đầu óc, lúc nào cũng cho rằng Lệ Mã cũng có cảnh ngộ giống mình, cứ đinh ninh rằng mình và Lệ Mã sẽ đi cùng nhau trọn đời suốt kiếp, tương thân tương ái đến lúc răng long đầu bạc. Một cô gái có thể khiến hàng trăm gã đàn ông phải dập đầu bái lạy, liệu có thể là một cô gái bình thường được không?
Đám người kia đã đi xa, bóng lưng dần khuất nơi cuối con đường. Gió núi thổi ào qua, thổi tà váy dài của Lệ Mã bay phấp phới, thổi vạt áo tôi bay phần phật. Lệ Mã bỗng ôm chặt lấy tôi, thì thầm một câu tiếng Ba Tư mà chúng tôi đã nói với nhau không biết bao nhiêu lần: “Thổ ty địch ai đao nhương."
Tôi đáp lại bằng tiếng Hán: "Anh yêu em."
Nói xong, tôi vuốt ve gò má cô ấy, bất chợt nhận ra gương mặt Lệ Mã đã đầm đìa nước mắt tự bao giờ.