Tổ Bịp
- 5753 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 5. Sự thật kinh người
Khi chúng tôi rời khỏi làng chừng hai ba dặm, Bồ Đề mới từ trong rừng lầm lũi bước ra. Trên lưng gã vẫn đeo chiếc túi vải hoa, đôi mắt ti hí như mắt chuột đảo qua đảo lại bốn phía, thấy chẳng có gì nguy hiểm mới leo lên xe ngựa.
Tôi cũng nhìn quanh một lượt, đồng không mông quạnh chẳng thấy một bóng người, chỉ có tiếng gió rít qua ngọn cỏ phát ra những âm thanh u uẩn.
Bồ Đề đưa chiếc túi vải hoa cho Cao Thụ Lâm. Lão đón lấy, cứ như thể cầm một chiếc cặp sách bình thường, tiện tay quẳng vào thùng xe rồi chẳng buồn liếc thêm cái nào, cứ như bên trong không phải là vàng bạc châu báu mà chỉ là mấy cuốn vở bài tập của lũ trẻ con vậy.
Nhưng tôi thừa biết, trong đó chắc chắn là đồ giá trị.
Hoàng hôn buông xuống, chúng tôi dừng chân giữa một vùng hoang vắng, phía trước chẳng có thôn làng, phía sau chẳng có hàng quán, ngay cả một cánh rừng cũng không thấy đâu. Ở vùng bình nguyên, hễ có rừng thì thường có làng, mà có làng thì ắt có rừng. Tìm mãi không ra chỗ trọ, chỉ thấy bên vệ đường có một mái chòi canh dưa hình chữ nhân. Những căn chòi này do người canh dưa dựng tạm để ngủ đêm, vừa đề phòng kẻ trộm, vừa canh lũ thú hoang. Những loài thích trộm dưa thì nhiều vô kể, nào cáo, mèo rừng, chuột đồng, rồi cả lửng... Đêm trăng thanh vắng, nếu người canh dưa nghe thấy tiếng gặm nhấm sột soạt ngoài bãi, chỉ cần bước ra khỏi chòi là thấy bóng lũ thú nhỏ lao đi nhanh như mũi tên, ấy chính là quân trộm dưa. Ăn một quả dưa thì chẳng đáng là bao, đáng sợ ở chỗ lũ này không bao giờ ăn hết một quả, mà một đêm chúng có thể gặm cả mấy chục quả, mỗi quả chỉ ngoạm vài miếng rồi lại sang quả khác. Lũ thú khôn ngoan ấy toàn chọn những quả to nhất, ngọt nhất đã chín già để cắn phá.
Thế nên, nơi nào có ruộng dưa, nơi đó sẽ có chòi canh.
Chúng tôi dọn vào ở trong căn chòi ấy.
Đêm đó, khi mọi người đã vào trong chòi, Cao Thụ Lâm lại gọi tôi ra ngoài. Chúng tôi ngồi trên bờ ruộng. Tôi nhìn đăm đăm vào màn trời đêm phía xa, nơi những vì sao như đang chạm vào đỉnh núi, cảnh tượng đẹp đẽ đến mức khiến lòng người mê mẩn, tôi cảm giác như chính mình đang bềnh bồng giữa thinh không.
Một ngôi sao băng rạch ngang bầu trời. Đang mải nhìn theo vệt sáng ấy, Cao Thụ Lâm bỗng lên tiếng:
"Hôm nay mày làm tốt lắm, chỉ đúng căn nhà giàu nhất vùng. Sau này cứ thế mà phát huy."
Tôi im lặng, chẳng biết nói gì, trong đầu vẫn còn vương vấn hình ảnh cô bé có hai bím tóc đen dày hôm nọ.
Cao Thụ Lâm lại nói:
"Đồ lấy hôm nay chẳng được bao nhiêu, có mỗi hai chiếc áo bông cũ nát, chẳng bán được mấy đồng."
Tôi thắc mắc:
"Sao anh ấy lại lấy cả áo bông cũ? Chú chẳng bảo anh ấy phải chọn đồ đáng tiền mà lấy là gì."
Trong bóng tối, tôi nghe thấy Cao Thụ Lâm cười khẩy một tiếng, rồi lão bảo:
"Thằng này đầu óc có vấn đề, toàn nhặt mấy thứ rẻ rền."
Đêm ấy, Cao Thụ Lâm hỏi han tôi đủ điều, tỏ ra quan tâm hết mực, còn nhắc lại chuyện sau này sẽ tìm cho tôi một cô vợ tử tế. Tôi hớn hở phụ họa theo lão.
Lúc đó tôi tin sái cổ lời Cao Thụ Lâm, cứ ngỡ Bồ Đề chỉ trộm được hai chiếc áo bông thật. Sau này lớn lên, ngẫm nghĩ lại lời lẽ hôm ấy, tôi mới vỡ lẽ lão ta lừa mình, lão chẳng muốn tôi biết chúng đã trộm được những gì.
Mỗi phi vụ lấy được món gì, chỉ có Cao Thụ Lâm và Bồ Đề biết rõ với nhau.
Lý lẽ rất đơn giản, nếu hôm đó Bồ Đề chỉ trộm hai chiếc áo bông thì kiểu gì cũng không thể nhét vừa cái túi vải hoa nhỏ xíu kia. Áo bông thì đầy bông bên trong, thời đó làm gì có loại lông vũ cao cấp như bây giờ. Công tử nhà giàu thì mặc dạ, mà dù là dạ hay bông, gấp lại cũng thành một khối lùng bùng. Khối đồ lớn như thế sao mà chui lọt cái túi vải hoa cho được?
Phải mất mười năm sau tôi mới thông suốt cái đạo lý này.
Ngày tháng cứ thế trôi đi, hôm nay lặp lại ngày hôm qua, ngày mai nối tiếp ngày hôm nay. Gánh xiếc đi hết làng này đến xóm nọ. Làng mạc phương Bắc ngày ấy thưa thớt, đất rộng người thưa, có khi đi hai ba ngày mới thấy một bóng làng. Mà hễ cứ gặp làng, thì nhà phú hào nơi đó ắt gặp họa. Bồ Đề hành sự cực kỳ khôn khéo, gánh xiếc diễn xong, phú hào về nhà cũng phải rất lâu sau mới phát hiện ra đồ đạc quý giá bị mất. Mà dù có phát hiện ra, họ cũng khó lòng nghi ngờ đến chúng tôi; cho dù có nghi ngờ, thì chúng tôi đã quất ngựa chạy xa vạn dặm, đuổi sao cho kịp.
Vào ngày Đông chí năm ấy, Thúy Nhi bị cảm, sốt cao li bì. Gánh xiếc phải tiếp tục xuôi Nam biểu diễn nên để chị ấy lại quán trọ. Thúy Nhi người mệt yếu cần người chăm sóc, thế là tôi cũng được ở lại. Công việc của tôi, Tuyến Can vẫn làm thay được.
Tôi và Thúy Nhi ở trong phòng trọ, tôi sờ lên trán chị, nó như hòn than. Tôi đi xin một bát nước nóng, bưng đến trước mặt rồi gọi chị, nhưng chị chẳng đáp lấy một tiếng, cứ như đã lịm đi.
Tôi chẳng biết phải làm sao, nghĩ đến người duy nhất tốt với mình trên đời này sắp bỏ mình mà đi, lòng tôi bỗng đau thắt lại. Tôi ôm lấy đầu Thúy Nhi, thút thít khóc.
Chẳng biết khóc bao lâu, mệt quá tôi ôm đầu chị ngủ thiếp đi. Trong cơn mơ, tôi thấy rất nhiều người kéo đến, họ quây quanh một cỗ quan tài, Thúy Nhi đang nằm trong đó. Họ định khiêng chị đi chôn, tôi lao tới, nằm bò lên nắp quan tài gào thét: "Không được chôn, không được chôn!" Nhưng chẳng ai thèm nghe, tôi càng ra sức khóc thật to, cốt để tất cả mọi người đều nghe thấy tiếng mình.
Khi tỉnh dậy trời đã sập tối, tôi mở mắt thấy Thúy Nhi vẫn nằm trên giường, chị mỉm cười nhìn tôi:
"Em khóc à?"
Tôi gật đầu.
Thúy Nhi hỏi:
"Sao lại khóc?"
"Em mơ thấy chị chết nên em khóc."
Thúy Nhi cười, đưa tay xoa gò má lem luốc nước mắt của tôi:
"Thằng nhóc này cũng còn chút lương tâm. Yên tâm đi, chị không chết đâu, Diêm Vương chưa bắt chị đâu."
Đêm xuống, nhiệt độ trong phòng hạ thấp đột ngột. Mùa đông phương Bắc nước nhỏ xuống là thành băng, lại đúng dịp Đông chí bắt đầu vào kỳ "số cửu". Một chín hai chín chẳng dám đưa tay ra, ba chín bốn chín đi trên mặt băng. Đây là thời gian khắc nghiệt nhất trong năm. Ngoài ngã tư đường gần quán trọ, rất nhiều người đang đốt tiền vàng, tiếng gọi hồn lúc bổng lúc trầm vang lên: "Về đi con ơi, về đi..."
Tôi hỏi:
"Họ đang gọi gì thế chị?"
Thúy Nhi bảo:
"Hôm nay là Đông chí, người ta đốt tiền vàng cho người đã khuất, gọi người chết về nhà thăm người thân."
"Người chết rồi còn về nhà được sao?"
"Có chứ." Chị bỗng im bặt, tôi thấy chị khẽ rùng mình trong bóng tối lờ mờ.
Thúy Nhi thì thào:
"Lên đây ngủ đi, hai chị em nằm chung một chăn cho ấm."
Tôi lóng ngóng trèo lên giường, định tung chăn chui vào cùng Thúy Nhi. Chị vội đẩy tôi ra:
"Nhìn em xem, bẩn thỉu thế này, quần áo mấy trăm năm chưa giặt. Cởi ra rồi hãy vào."
Tôi cởi hết quần áo, rúc vào chăn của Thúy Nhi. Chị vừa chạm vào người tôi đã hốt hoảng kêu lên:
"Sao lại không mặc gì thế này?"
"Em có mỗi bộ áo bông quần bông này thôi."
Thúy Nhi khúc khích cười trong bóng tối:
"Chị chẳng ngờ em lại thế đấy."
Tôi áp sát vào người Thúy Nhi, chị chỉ mặc lớp áo lót mỏng, thân nhiệt không còn nóng rực như hồi chiều nữa. Cơ thể chị mềm mại, êm ái như một túi bông vậy. Cảm giác hồi nhỏ nằm chung chăn với mẹ đột nhiên ùa về. Tôi ôm lấy Thúy Nhi, thấy lòng bình yên và ấm áp lạ lùng.
Tôi nghe thấy Thúy Nhi thở dài khe khẽ, chẳng rõ chị trăn trở điều gì.
Lát sau, cơn thèm sữa bỗng trỗi dậy, tôi đưa tay lần vào ngực Thúy Nhi, cởi nút áo trong, áp mặt vào người chị, ngậm lấy đầu ti mà mút lấy mút để. Thúy Nhi cười bảo:
"Thằng quỷ nhỏ, làm cái gì thế?"
Tôi chẳng đáp, cứ thế mà mút. Đột nhiên, một cảm giác chưa từng có bao trùm lấy toàn thân, tôi chợt nhớ đến Ni tử, cô bé có đôi mắt sáng rực và bím tóc đen tuyền đứng trong gió lạnh tiễn mình hôm nào.
Đây là lần đầu tiên tôi ngủ cùng một người đàn bà không phải là mẹ mình. Dù đêm đó chúng tôi chẳng làm gì quá giới hạn, mà thực ra tôi cũng chẳng biết làm gì, nhưng việc ngủ chung một giường đã khiến tình cảm của tôi dành cho Thúy Nhi tăng lên từng ngày.
Đêm ấy, chúng tôi nằm bên nhau kể đủ thứ chuyện. Đây cũng là lần đầu trong đời tôi được đối thoại bình đẳng với một người lớn tuổi hơn mình, và là lần đầu trong suốt những ngày qua không có ai quát tháo hay sai bảo tôi.
Thúy Nhi kể, Cao Thụ Lâm và Thụ Trang là anh em họ, nhà họ mấy đời đều đi diễn xiếc; Tuyến Can là đứa trẻ mồ côi Cao Thụ Lâm nhặt được bên đường, dùng một bát nước cháo cứu sống; Bồ Đề cũng là do họ cứu mạng. Năm đó, khi đang đi trên đường, từ xa có một người chân đau tập tễnh chạy tới, đưa ra hai thỏi vàng rồi chỉ tay về phía sau. Họ hiểu ý, giấu Bồ Đề vào thùng xe, nói dối đám dân làng đang đuổi theo rằng: "Hắn chạy đằng kia rồi." Thế là cứu được Bồ Đề. Từ đó, Bồ Đề gia nhập gánh xiếc, cùng nhau đi lừa gạt trộm cắp. Bồ Đề là người Tân Cương, giọng gã nói chẳng mấy người hiểu hết.
Còn quan hệ giữa Thanh Nhi và Thúy Nhi ra sao, tại sao họ lại vào gánh xiếc, tôi không hỏi, mà chị cũng không nói.
Đến nửa đêm, cả hai vẫn chưa thấy buồn ngủ. Thúy Nhi uống một bát nước, nói người đã nhẹ nhõm hẳn, bệnh đã lui rồi. Tôi nghe thế thì mừng lắm.
Thúy Nhi bảo:
"Kể chuyện cho chị nghe đi, chị thích nghe chuyện nhất đấy."
Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi kể lại câu chuyện thầy đồ dạy ở trường tư thục. Chuyện kể về hai cha con lần đầu ra khỏi núi, thấy bầu trời bên ngoài rộng bao la, người con thốt lên: "Cha ơi, trời ngoài này rộng quá, trời này mà muốn âm u chắc phải mất nửa năm mới xong." Người cha nhìn quanh quất rồi bảo: "Con ơi là con, sao con lại nói lời ngớ ngẩn thế, người ta nghe thấy thì cười cho thối mũi. Cha bảo con nhé, trời ngoài này muốn âm u chẳng cần đến nửa năm đâu, hai tháng là quá đủ rồi."
Thúy Nhi cười ngặt nghẽo:
"Chuyện của em chẳng hay bằng chuyện của chị."
Tôi bảo:
"Thế chị kể đi."
Thúy Nhi kể:
"Trong núi có một cô nàng ngốc, mẹ cô dặn từ nhỏ là không được để chịu thiệt, ai bắt nạt mình thì phải trả đũa gấp đôi. Một hôm cô ngốc về nhà hớn hở khoe với mẹ rằng hôm nay con được hời to. Bà mẹ hỏi hời thế nào? Cô bảo: Ngoài đường có gã đàn ông đụng con một cái, con đụng lại gã hai cái; gã vuốt mặt con một cái, con vuốt lại gã hai cái; gã khoác tay con kéo vào ngõ vắng, con cũng khoác tay gã; trong ngõ gã cởi quần con ra, con cũng cởi quần gã ra; gã làm con chảy máu, con kẹp gã đến chảy mủ luôn!"
Tôi nghe chẳng hiểu gì, bèn hỏi:
"Sao lại chảy máu, rồi lại chảy mủ hả chị?"
Thúy Nhi chỉ cười, nhất định không giải thích.
Đêm ấy chẳng biết ngủ thiếp đi lúc nào, chỉ biết khi tỉnh dậy nắng đã lên cao. Thúy Nhi bảo:
"Hai chị em mình đi chơi phố nhé?"
"Vâng ạ."
Đã lâu lắm rồi tôi không được đi chơi phố.
Đây là một huyện thành nhỏ, thời đó huyện thành chỉ có một con phố chính, còn lại toàn là ngõ hẻm. Hai bên đường là tiệm tạp hóa, tiệm vải, hàng màn thầu, bánh bao, lò rèn, quán xá lưa thưa. Ngay sát huyện thành có một ngôi miếu Thành Hoàng, bên trong thờ một pho tượng đất chẳng rõ tên tuổi, đối diện miếu là sân khấu kịch. Kiến trúc ngày xưa rất tinh tế, thành môn đối diện với hý lâu. Hý lâu là sân khấu kịch, còn thành môn là miếu Thành Hoàng. Mỗi khi đám đào kép hát xướng, vừa có thể cho dân xem, vừa có thể để ông Thành Hoàng thưởng thức.
Tôi chẳng mặn mà gì với kịch, mấy người trên sân khấu chân đi hia, lưng cắm cờ, đứng im một chỗ hát ê a mãi phát chán. Nhưng Thúy Nhi lại mê mẩn, chị dán mắt vào sân khấu, gương mặt lúc giận lúc vui theo từng hồi kịch.
Dưới sân khấu người đông như kiến, tôi thấy vô vị nên một mình lẻn ra ngoài chơi. Ngoài sân khấu có mấy đứa trẻ đang chơi trò khía đùng, chúng rải bốn hạt mơ xuống đất, một đứa nhặt một hạt lên, phải bắn trúng hai hạt nằm xa nhau nhất, nếu trúng thì thắng, không trúng thì mất lượt.
Tôi cũng nhập hội chơi cùng chúng.
Vừa chơi được hai ván, bỗng nghe thấy tiếng ồn ào phía sau. Quay lại thì thấy Thúy Nhi đang vội vã đi ra, theo sau là mấy gã đàn ông lăng nhăng. Một gã đặt tay lên vai Thúy Nhi không cho đi. Thấy vậy, tôi vơ vội mấy hạt mơ, lao tới nắm lấy cánh tay đang buông thõng kia của gã mà cắn một miếng thật mạnh.
Gã đau quá nên buông Thúy Nhi ra, khom người xuýt xoa. Mấy gã kia định nhào tới, tôi ném đám hạt mơ vào mặt chúng khiến chúng phải dừng lại. Thừa cơ hội đó, Thúy Nhi nắm tay tôi chạy thật xa.
Lũ kia đuổi theo phía sau, nhưng hôm đó trong trấn đang có hội xuân, người đông nghịt. Thúy Nhi dắt tôi lách qua mấy con ngõ rồi cắt đuôi được bọn chúng.
Mấy gã đó chắc là dân địa phương, chúng tôi không dám quay về quán trọ nữa, đành cứ thế xuôi theo đường lớn về phía Nam để đuổi theo gánh xiếc.
Trước đó, cả bọn đã hẹn gặp nhau tại một ngôi làng tên là Phương Gia Trang.
Qua hai ngày gần gũi, tôi bắt đầu nảy sinh tâm lý ỷ lại vào Thúy Nhi, có lẽ tôi coi chị như mẹ, có lẽ coi như Ni tử, hoặc là cả hai.
Tôi cảm thấy trên đời này chỉ có Thúy Nhi mới là người thân của mình.
Phương Gia Trang là một làng lớn, dọc đường hỏi thăm ai cũng biết. Làng này cách trấn khá xa, chúng tôi đi cả ngày vẫn chưa tới nơi.
Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi vào xin ngủ nhờ nhà một người dân. Chủ nhà là một bà cụ ăn chay niệm Phật, bà dọn dẹp gian phòng trên sạch sẽ cho chúng tôi ở. Nhà bà cũng chỉ có ba người, ngoài bà cụ ra còn có vợ chồng người con trai.
Bà cụ nấu một nồi cháo kê, hấp mấy cái màn thầu, lại vớt thêm hai khúc củ cải muối từ trong vại ra. Vừa mới cầm đũa thì có một đôi nam nữ bước vào, chính là vợ chồng người con trai.
Bà cụ nói hai người đi làm ăn nhỏ trên huyện thành. Cô con dâu tỏ ra là người trải đời, tuổi xấp xỉ Thúy Nhi nhưng chẳng chút e dè trước người lạ, cô thân mật nắm tay Thúy Nhi khen: "Sao em lại xinh thế này, cứ như người trên sân khấu ấy." Thật ra đào kép trên sân khấu toàn bôi mặt vẽ mày, nhìn kỹ chưa chắc đã đẹp bằng Thúy Nhi.
Hai vợ chồng họ ngồi cùng bàn ăn với chúng tôi, nói cười rôm rả, trông rất cởi mở. Người chồng gắp sợi củ cải cho vợ, gương mặt người vợ rạng ngời hạnh phúc. Anh chồng định gắp thêm miếng nữa, cô vợ thẹn thùng lấy đũa ngăn lại. Chỉ là đĩa củ cải đơn sơ mà họ ăn ra cái vị ân ái mặn nồng. Ăn xong, hai người lén lút nắm tay nhau đi về phòng, mặt ai nấy đều ửng hồng. Thúy Nhi nhìn theo họ, đôi mắt đượm vẻ bùi ngùi và ngưỡng mộ.
Sau bữa tối, chúng tôi ngồi ở gian giữa trò chuyện với bà cụ.
Nhà bà cụ vốn là gia đình danh giá thuở trước. Vừa vào cổng đã thấy bức bình phong khảm đá chạm khắc hoa lá trúc gỗ, sau bình phong là khoảnh sân rộng rãi, hai bên là nhà ngang, tường nhà chạm trổ hoa văn gạch đá tinh xảo. Sau nhà ngang là dãy nhà trên gồm ba gian, gian giữa là nơi tiếp khách, hai bên là phòng ngủ. Đôi vợ chồng trẻ ngủ ở nhà ngang, chúng tôi ngủ ở nhà trên.
Gian giữa bài trí rất sang trọng, cửa gỗ bốn cánh chạm hoa văn Phúc Lộc Thọ Hỷ, cửa sổ bằng gỗ hoa văn mắt cáo dán giấy mới tinh, còn dán cả hoa giấy đỏ. Chính giữa đặt một chiếc bàn bát tiên, bên trên đặt một bức truyền thần. Ngày xưa chưa có máy ảnh, người ta chỉ có thể vẽ tranh chân dung. Phía trên bàn treo một bức cổ họa vẽ một con hươu đang nằm dưới gốc mai nở rộ.
Đồ đạc trong nhà món nào cũng là bảo vật, nếu để đến ngày nay, riêng đống đồ này cũng bán được khối tiền.
Tôi nhìn bức chân dung trên bàn, tò mò hỏi:
"Đây là ai ạ?"
Bà cụ đáp:
"Ông nhà bà đấy, ông ấy đi được hai năm rồi."
Bà cụ lại hỏi thăm gia cảnh của chúng tôi. Thúy Nhi nhìn tôi, có vẻ sợ tôi lỡ miệng nói ra điều gì. Chính tôi cũng biết cái nghề mình đang làm chẳng lấy gì làm vẻ vang nên tốt nhất là ngậm miệng. Thúy Nhi ấp úng, mặt đỏ ửng, chẳng biết ứng đáp thế nào cho phải.
Bà cụ nhìn Thúy Nhi mỉm cười đôn hậu:
"Không sao, khó nói thì thôi, chắc là có nỗi khổ tâm gì rồi. Nếu có thiếu thốn cái gì cứ nói với bà một tiếng, đời người ai chẳng có lúc sa cơ lỡ vận?"
Thúy Nhi khẽ gật đầu.
Bà cụ nhìn sang tôi:
"Đây là em trai cháu à?"
Thúy Nhi vội gật đầu lần nữa.
"Nhìn cái áo bông của thằng bé vừa bẩn vừa rách, chắc cuộc sống của hai chị em cũng vất vả lắm nhỉ." Nói rồi bà cụ đứng dậy đi vào phòng trong, lát sau trở ra, trên tay cầm một đôi vòng bạc. Bà đặt đôi vòng vào tay Thúy Nhi: "Sắp Tết rồi, cháu đem bán đôi vòng này đi mà sắm cho thằng bé bộ áo bông mới."
Thúy Nhi hoảng hốt đứng bật dậy:
"Thế này sao được ạ?"
Bà cụ bảo:
"Đã gặp nhau đều là có duyên, cũng là Bồ Tát đưa hai chị em đến nhà bà. Cháu cứ nhận lấy cho bà vui."
Thúy Nhi cầm đôi vòng bạc, cất đi không được mà đặt xuống cũng không xong.
Bà cụ lại thở dài kể:
"Vốn dĩ trong nhà cũng có ít tiền dành dụm, ai ngờ mấy hôm trước có gánh xiếc về làng, lúc ấy vợ chồng thằng cả đi vắng, bà thì mải ra xem xiếc, lúc về mới hay tiền bạc bị trộm hết rồi. Đôi vòng bạc này là của hồi môn, bà gói kỹ trong bọc quần áo nên bọn trộm mới không tìm thấy."
Thúy Nhi nghe đến đó, người như phải bỏng, vội vàng đặt đôi vòng bạc lại lên bàn. Tôi nhìn gương mặt hiền từ của bà cụ, không dám hé răng nửa lời.
Đêm đó, bà cụ và Thúy Nhi trò chuyện rất khuya, tôi nghe được một lát thì ngáp ngắn ngáp dài. Bà cụ bưng chậu đồng đựng nước ấm cho tôi rửa chân, lại tự tay cởi áo, đặt tôi vào trong lớp chăn dày ấm sực. Bà bảo: "Nhìn cái áo bông của cháu này, rách nát hết cả, bông lòi cả ra ngoài thế này thì giữ ấm sao được? Chà, lại còn cả chấy nữa chứ, sao mà lắm thế này."
Bà cụ mang bộ quần áo rách của tôi ra ngoài, một lát sau cầm kim chỉ quay vào: "Áo quần hồi nhỏ của thằng con bà vẫn còn, hơi rộng một tí nhưng để bà sửa lại, mai là con có đồ mặc ngay. Ngủ đi nhé."
Bà cụ bước ra ngoài, hơi ấm trong chăn bắt đầu bao phủ lấy tôi. Đột nhiên tôi thấy mặt mình nằng nặng, đưa tay quẹt ngang mới thấy nước mắt chảy dài từ lúc nào.
Nằm trong chăn, tôi vẫn nghe loáng thoáng tiếng bà cụ và Thúy Nhi nói về phong tục tập quán vùng này. Tôi ngáp một cái thật dài rồi chìm vào giấc ngủ.
Khi tỉnh dậy trời đã sáng rõ, Thúy Nhi đang tựa đầu vào tường, người vẫn vùi trong chăn. Mắt chị đỏ hoe sưng húp, như mới vừa khóc xong.
Tôi chui vào chăn Thúy Nhi, chọc tay cù lét vào người chị trêu:
"Ha ha, chị khóc rồi nhé, chị khóc rồi nhé!"
Thúy Nhi bực bội gạt tay tôi ra:
"Đừng nghịch, để chị yên."
Tôi không dám giỡn nữa, khẽ hỏi:
"Đêm qua mấy giờ chị mới ngủ?"
"Cả đêm chị không ngủ."
"Sao chị không ngủ? Chị không buồn ngủ à?"
"Không có gì, chị không buồn ngủ."
Thật lạ lùng, rõ ràng chẳng làm gì mà lại thức cả đêm, tôi nghĩ mãi chẳng ra.
Đang lúc vò đầu bứt tai thì có tiếng gõ cửa, là cô con dâu gọi:
"Dậy chưa hai đứa? Dậy ăn cơm thôi."
Thúy Nhi đáp lời rồi đi ra ngoài. Tôi lẽo đẽo theo sau, thấy mặt trời đã lên tới ngọn cây phía Đông.
Ăn sáng xong, chúng tôi cùng bà cụ lên núi chơi, còn vợ chồng người con trai lại lên huyện thành làm ăn.
Cách làng khoảng ba bốn dặm có một ngọn núi. Núi không cao nhưng vách đá khá hiểm trở. Trên đỉnh núi có một ngôi miếu cổ kính, con đường đá dẫn từ chân lên đỉnh đã mòn dấu chân người. Thời đó chùa chiền không thu tiền vào cửa, cũng chẳng đông đúc khách thập phương như bây giờ.
Trên đỉnh núi thông bách xanh rì, dù là giữa đông vẫn một màu xanh mướt. Ngôi miếu nằm lọt thỏm giữa rừng cây, trông cực kỳ u tịch và trang nghiêm. Công trình thờ Bồ Tát này thực chất là một am thất, vì người trụ trì là một sư cô.
Sư cô tay cầm phất trần, gương mặt an nhiên, ánh mắt tĩnh lặng, chẳng ai đoán được tuổi tác hay tâm tư của người.
Bà cụ và Thúy Nhi cùng thắp hương, quỳ lạy trước tượng Bồ Tát. Vẻ mặt Thúy Nhi lúc ấy trang nghiêm lắm, động tác chậm rãi nhẹ nhàng, đó là lần đầu tôi thấy chị có biểu cảm như vậy.
Lễ xong, bà cụ và Thúy Nhi theo sư cô vào gian phòng trong. Tôi cũng định lẻn theo nhưng Thúy Nhi đẩy tôi ra:
"Ra ngoài kia mà chơi, đừng có vào đây."
Tôi lủi thủi ra sân xem đàn chim sẻ tranh nhau mồi dưới thềm đá. Một con sẻ ngậm được sâu bay đi mất, cả đàn ríu rít đuổi theo. Chim bay đi rồi, tôi thấy buồn chán quá nên lại mò đến trước cửa phòng trong, kê hai hòn đá dưới chân, dòm qua khe cửa sổ xem họ làm gì bên trong.
Sư cô ngồi trên bồ đoàn, bà cụ ngồi một bên, Thúy Nhi ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ.
Tôi nghe thấy Thúy Nhi bắt đầu kể về gia cảnh của mình, những điều mà trước đây chị chưa từng hé môi với tôi.
Thúy Nhi và Thanh Nhi là hai chị em ruột, cha mất sớm, người mẹ không nơi nương tựa nên dắt díu hai đứa gả cho một gã chuyên đi diễn xiếc giang hồ, chính là Cao Thụ Lâm.
Cao Thụ Lâm dạy hai chị em diễn tạp kỹ. Lão sinh ra trong gia đình có truyền thống về nghề này. Từ khi còn rất nhỏ, hai chị em đã thuộc lòng các ngón nghề và có thể tự mình lên sân khấu. Đêm đêm, bốn người bọn họ đều ngủ chung trên một chiếc giường, chuyện đó đã thành thói quen từ thuở bé.
Hai chị em lớn dần, trổ mã xinh đẹp hẳn ra. Thế nhưng, Cao Thụ Lâm và người mẹ bắt đầu cãi vã thường xuyên hơn. Rồi một ngày nọ, người mẹ đột ngột qua đời, chẳng rõ là mắc chứng bệnh gì.
Từ đó, trên giường chỉ còn lại ba người. Đêm ngủ, ba người vẫn chung một chăn như cũ, hai chị em chẳng thấy có gì là sai trái, bởi từ nhỏ đến lớn vẫn vậy.
Sau này, Thụ Trang gia nhập gánh xiếc. Gã biểu diễn xiếc khỉ có thâm niên trong giới giang hồ. Theo gợi ý của Thụ Trang, họ bắt đầu dùng xe ngựa đi diễn xiếc lưu động. Nhờ tiết mục phong phú, gánh xiếc dần có tiếng tăm trong vùng.
Rồi tiếp đó là Diêu Tử, Tuyến Can, Bồ Đề và tôi lần lượt gia nhập. Đoàn người ngày một đông, vừa diễn xiếc vừa trộm cắp dọc đường.
Ngoài cửa sổ, tôi nghe thấy Thúy Nhi nhắc đến tên mình, bèn dỏng tai nghe thật kỹ.
Sư cô hỏi:
"Lúc mẹ con mất có triệu chứng gì?"
Thúy Nhi rùng mình kể:
"Mặt bà tím tái, hai mắt mở trừng trừng, trông đáng sợ lắm ạ."
"Thế lúc con ngủ cùng lão ta, lão đã làm những gì?"
"Lão đè lên người con..."
"Tại sao con lại để lão làm thế?"
Thúy Nhi thật thà đáp:
"Lão là cha con mà, lão bảo cha con thì đều ngủ chung giường và làm như thế cả."
Sư cô và bà cụ nhìn nhau, đồng thanh thở dài một tiếng não nề.
Căn phòng chìm vào im lặng. Tôi cứ ngỡ họ sẽ nói về mình, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy nhắc thêm lời nào nữa.
Thấy mất hứng, tôi định rời đi thì bỗng nghe tiếng sư cô. Người nói:
"Mọi chuyện không giống như con nghĩ, và cũng chẳng giống những gì lão đã lừa gạt con đâu."
Thúy Nhi ngước nhìn sư cô đầy thắc mắc.
Sư cô tiếp lời:
"Mẹ con dẫn hai chị em đến nhà lão, lão dạy các con diễn xiếc. Khi các con lớn lên, lão nảy sinh tà ý, muốn chiếm đoạt cơ thể các con. Mẹ con không chịu nên lão đã hạ độc giết chết bà ấy. Không còn người cản đường, lão thuận tay chiếm đoạt cả hai chị em. Để các con cam tâm tình nguyện, lão dùng lời dối trá lừa phỉnh rằng cha con nào cũng làm thế. Lão sợ các con sẽ tỉnh ngộ nên luôn tìm cách ngăn các con tiếp xúc với thế giới bên ngoài, đặc biệt là không cho gần gũi với đàn ông trưởng thành."
Thúy Nhi nhìn bà cụ rồi lại nhìn sư cô, run rẩy hỏi:
"Có... có thật là như vậy không ạ?"
"Đúng là như vậy."
Thúy Nhi vẫn nửa tin nửa ngờ:
"Sao người lại biết rõ thế?"
Sư cô ngẩng đầu, đôi mắt rực sáng như xuyên thấu cả bức tường:
"Xưa kia ta là người của Hồng Đăng Chiếu, từng cùng các chị em vung đao tiến vào Bắc Kinh, quyết một lòng phò tá nhà Thanh diệt Tây Dương, cứu nguy xã tắc. Nào ngờ Lão Phật gia phản bội chúng ta, cấu kết với quân giặc để tàn sát Hồng Đăng Chiếu. Ta bò ra từ đống xác chết, về Hà Bắc thay tên đổi họ, kết duyên cùng đại sư huynh, mong có ngày yên ổn. Nhưng một năm sau quân triều đình lại tìm tới tận nơi ẩn cư, sư huynh bị sát hại, ta xuống tóc đi tu, thấm thoắt đã hơn hai mươi năm rồi."
Sư cô nói tiếp:
"Ta cũng có cha, nhưng từ khi ta mười tuổi, cha chưa bao giờ chạm vào cơ thể ta. Cha là người để che chở, bảo vệ con cái. Thân thể ta chỉ có đại sư huynh, tức là người chồng sau này mới được phép đụng vào. Lão ta không phải chồng con, đương nhiên không được làm thế."
Thúy Nhi thốt lên một tiếng kinh hãi, hai tay ôm chặt lấy mặt, tiếng nấc nghẹn ngào thoát ra qua kẽ tay:
"Sao có thể như vậy cơ chứ?!"
Những lời họ nói tôi nghe câu được câu mất. Thấy Thúy Nhi khóc, tôi định đẩy cửa lao vào, bởi trong thâm tâm tôi luôn coi chị là chỗ dựa. Nhưng sực nhớ lúc nãy chị vừa đẩy mình ra, tôi lại chẳng dám bước tới.
Trong phòng không còn tiếng nói, chỉ còn tiếng khóc sụt sùi của Thúy Nhi. Tôi cứ đợi họ nhắc đến Ngai Cẩu, nhưng họ tuyệt nhiên không nói, thấy thất vọng quá, tôi nhảy xuống khỏi hòn đá, đi quanh miếu tìm thứ gì đó hay ho.
Giữa miếu có một cây ngân hạnh khổng lồ, dưới đất đầy sỏi nhỏ. Để giải khuây, tôi nhặt sỏi ném từng viên vào thân cây. Vừa ném được mấy viên thì thấy họ từ trong phòng bước ra.
Mắt Thúy Nhi đỏ hoe, chị nắm lấy tay tôi dắt ra khỏi miếu. Bà cụ đi phía sau, vẫy tay chào sư cô đang đứng trên thềm đá.
Suốt dọc đường về, Thúy Nhi lầm lì cúi đầu, chẳng nói với tôi câu nào. Tôi định bắt chuyện nhưng thấy gương mặt chị âm u đáng sợ quá nên lại thôi.
Về đến nhà bà cụ đã là quá trưa, bà cụ tất tả đi nấu cơm, Thúy Nhi dắt tôi vào nhà trên. Chị nhìn tôi rất nghiêm túc, đôi mắt đỏ hoe làm tôi thấy sờ sợ.
Thúy Nhi hỏi:
"Em có thích chị không?"
Tôi gật đầu lia lịa.
"Thế em làm người đàn ông của chị nhé. Chị nuôi em lớn, sau này chị già rồi thì em chăm sóc chị, có được không?"
Tôi chợt nhớ tới Ni tử, trong lòng tôi vốn muốn làm người đàn ông của Ni tử cơ. Nhưng cái làng của Ni tử xa quá, chúng tôi cứ đi miết về hướng Nam, chẳng bao giờ quay lại đường cũ, biết tính sao đây? Thôi thì cứ làm người đàn ông của Thúy Nhi trước vậy, ít ra chị ấy còn ôm mình ngủ, còn cho mình mút ti nữa. Nghĩ vậy, tôi lại gật đầu thật mạnh.
Thúy Nhi lại hỏi:
"Thân thể chị không còn trong sạch nữa, em có còn thích chị không?"
Tôi lúc ấy nào đã hiểu thế nào là "không còn trong sạch". Mãi mấy năm sau tôi mới thấu hiểu khái niệm đó, rằng một người đàn bà mất đi sự trong trắng cũng giống như người đàn ông mất đi chân tay, cuộc đời sau này ắt hẳn sẽ lắm gian truân, trắc trở. Nhưng thấy mình cứ gật đầu là Thúy Nhi vui, nên tôi lại gật đầu cái rụp.
Thúy Nhi bảo:
"Vậy sau này em phải nghe lời chị, rõ chưa?"
Tôi vẫn gật đầu.
"Bọn họ đã lấy trộm bạc và tiền của nhà bà cụ, chị phải tìm cách lấy lại. Có tiền rồi, chúng ta sẽ quay lại đây sống thật tử tế. Chị làm con gái bà cụ, còn em làm con rể."
Tôi sợ Thúy Nhi bỏ rơi mình ở đây một mình nên vội vàng kêu lên:
"Em cũng đi với chị!"
Thúy Nhi khẽ bảo:
"Được rồi. Ăn cơm xong chúng ta xuất phát."