Tổ Bịp
- 7072 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 59. Không giết được mày, thì làm mày tức chết
Đại thù đã báo, cánh tay của tôi cuối cùng cũng đến lúc phải chữa trị.
Gã hòa thượng béo không có thuốc tê, loại thuốc đó thời bấy giờ chỉ có thể tìm thấy trong các hiệu thuốc Tây ở những thành phố lớn. Hòa thượng bảo tôi uống cạn một cân rưỡi rượu mạnh. Tôi uống đến say khướt, túy lúy trời đất. Sau đó, gã cố định cánh tay trái của tôi, dùng xà beng nạy gãy đoạn xương cũ, nắn lại cho chuẩn rồi dùng hai cành cây làm nẹp, dùng dây thừng buộc chặt. Khúc xương vốn đã mọc lệch trước kia giờ đây buộc phải phá đi để tái sinh.
Lúc tỉnh lại, cánh tay đau nhức khôn thấu, cái đau ấy thực sự là thấu tận tâm can, buốt qua xương tủy. Tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục mượn rượu giải sầu. Cũng từ đó, tôi rèn được một tửu lượng kinh người.
"Tân Phong mỹ tửu đấu thập thiên,
Hàm Dương du hiệp đa thiếu niên.
Tương phùng ý khí vị quân ẩm,
Hệ mã cao lâu thùy liễu biên."
Đó là những vần thơ của vương Duy đời Đường. Thuở nhỏ còn ở thư đường, tôi từng thuộc làu làu nhưng chẳng hề hiểu ý. Sau bao năm lăn lộn chốn giang hồ, tôi mới thực sự thấu cảm được cái vị mặn mòi, phóng khoáng trong đó.
Đàn ông sao có thể thiếu rượu? Rượu là gan, rượu là hồn của kẻ trượng phu.
Lão Đồng đã chết, quân Nhật chắc chắn sẽ trả thù điên cuồng, chúng tôi không thể nán lại chùa Lạt Ma thêm nữa.
Tam sư thúc lại bắt đầu hành trình độc hành lãng tích thiên nhai. Cả đời y là một chuỗi ngày phiêu bạt, gắn liền với những mối tình duyên dắt dây, rối rắm với nữ nhân. Nếu rượu là lẽ sống của tôi, thì đàn bà chính là sinh mệnh của Tam sư thúc. Y từng dõng dạc tuyên bố rằng muốn nếm trải hương vị của phụ nữ từ mọi sắc tộc trên thế gian, để đến lúc xế chiều, khi sức cùng lực kiệt không thể hành lạc được nữa, y có thể an lòng mà tự nhủ: "Ta đã không sống hoài sống phí một kiếp người."
Đôi khi tôi cũng tự vấn, mình đến với cõi đời này để làm gì? Kiên cường sống sót giữa muôn vàn cay đắng này rốt cuộc là vì lẽ gì? Phải chăng tạo hóa ban xuống bao nhiêu khổ ải và trắc trở chỉ để bồi đắp cho một nửa đời sau tốt đẹp hơn? Hay đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tôi vẫn sẽ ra đi trong niềm nuối tiếc khôn nguôi?
Gã hòa thượng béo cũng rời đi. Gã cởi bỏ cà sa, khoác lên mình chiếc trường bào, quay lại với kiếp huyền hồ tế thế. Một buổi hoàng hôn, có hai gã đàn ông ăn vận như thương nhân, phi ngựa nước đại đến đón gã đi. Họ mang theo một bao tải vàng thỏi, hứa rằng chỉ cần gã chữa khỏi thương bệnh cho Đại đương gia, số vàng này sẽ thuộc về gã. Hòa thượng bảo gã trị bệnh cứu người không phải vì tiền, mà vì người đó có bệnh. Gã chẳng màng bệnh nhân là ai, thân thế thế nào hay sẽ trả bao nhiêu bạc. Có tiền gã chữa, không tiền gã cũng chẳng từ nan.
Lai lịch hai kẻ đó vô cùng khả nghi. Dù mặc đồ buôn bán nhưng mở miệng ra toàn là hắc thoại giang hồ. Lúc tiễn biệt, tôi ghé tai hỏi nhỏ, hòa thượng mới tiết lộ đó là hai tên "hồ tử" (thổ phỉ), còn vị Đại đương gia mà họ nhắc đến chính là "phiêu bả tử" (thủ lĩnh thổ phỉ).
Tôi bàng hoàng nhớ lại cảnh tượng năm nào theo sư phụ Lăng Quang Tổ trong đại ngàn Đại Biệt Sơn. Sư phụ cũng từng bị một tên phiêu bả tử ép đi xem quẻ. Thuở ấy, tôi và Nhị sư thúc phải hao tâm tổn tứ, bày mưu tính kế mãi mới giúp người thoát khỏi miệng cọp. Chẳng rõ chuyến đi này của hòa thượng béo là hung hay cát.
Ngôi chùa Lạt Ma từng náo nhiệt là thế, giờ chỉ còn lại bốn người: Báo Tử, Hắc Bạch khất cái và tôi.
Chúng tôi rời Đa Luân, nhắm hướng Trương Gia Khẩu mà tiến. Ở đó có đoàn lạc đà từng cứu mạng chúng tôi và Tam sư thúc. Báo Tử và Hắc Bạch khất cái đều là những tay giang hồ trọng nghĩa khinh tài, chúng tôi phải tìm đến đó để báo ân.
Hôm ấy, chúng tôi đặt chân tới Cố Nguyên.
Nơi đây có di tích Cửu Liên Thành, những bức tường đất nối tiếp nhau chạy dài hàng chục dặm. Cứ cách quãng lại có một tòa thành đất cao lớn, uy nghiêm, đủ để hậu thế hình dung ra sự huy hoàng của một thời oanh liệt. Bạch khất cái bảo, thời nhà Kim, Cửu Liên Thành là nơi nhân yên trù mật, hưng thịnh bậc nhất, vốn là cửa ải trọng yếu của đế quốc Đại Kim. Sau này khói lửa chiến tranh tràn qua, biến nơi đây thành một đống tro tàn hoang phế.
Chúng tôi đi dọc theo chân thành cổ rất lâu mà chẳng thấy bóng người, chỉ có lũ quạ đen đậu trên vách tường đổ nát kêu oang oác. Tiếng kêu chói tai như tiếng mảnh ngói cứa vào nhau. Mãi khi vào đến huyện thành Cố Nguyên, chúng tôi mới thấy hơi người nhộn nhịp.
Tại cổng Bắc huyện thành, dân chúng đang vây quanh xem một tấn trò lạ. Một gã đàn ông mặt mày thô lỗ đang ra sức kéo tay một người phụ nữ, miệng không ngừng van nài. Người phụ nữ kia ăn mặc chỉn chu, dung mạo khá xinh đẹp nhưng gương mặt lại tràn đầy vẻ kinh hoàng.
Gã đàn ông khóc lóc:
"Về nhà đi em ơi, con đã đứt sữa hai ngày rồi, nó đói khóc thảm thiết lắm. Sao em nỡ lòng nào bỏ con ở nhà mà chạy đi biệt tích hai ngày trời, làm anh tìm khổ sở quá."
Người phụ nữ nức nở đáp trả:
"Tôi không quen biết anh!"
Gã kia lại gào lên:
"Vợ chồng cãi vã thì thôi, nhưng đừng để con trẻ phải khổ. Mau theo anh về nhà ngay!"
Người phụ nữ khóc nghẹn, cầu cứu đám đông:
"Tôi không biết anh ta là ai cả, xin các người hãy để tôi đi!"
Dân chúng đứng xem chẳng rõ thực hư, chỉ lẳng lặng quan sát. Đúng lúc đó, hai gã đàn ông khác từ ngoài đám đông chen vào, mặt mày nhễ nhại mồ hôi. Họ xông đến giúp một tay giữ chặt người phụ nữ, mắng mỏ:
"Cô bảo không biết chú ấy, thế chắc cũng định bảo không biết bọn tôi luôn hả? Hàng xóm láng giềng cả đây! Đứa bé ở nhà khóc đến khản cả cổ vì thiếu sữa, làm mẹ mà sao cô nhẫn tâm thế, bỏ mặc con mà chạy trốn là sao?"
Đến lúc này, đám đông dường như đã "hiểu" ra câu chuyện. Họ bắt đầu chỉ trỏ, trách mắng người phụ nữ bạc tình bạc nghĩa. Cô ta uất ức phân trần nhưng chẳng ai tin. Họ bảo: "Vợ chồng đầu giường cãi nhau cuối giường hòa, về đi thôi."
Từ phía xa, một chiếc xe ngựa lao thẳng vào đám đông khiến mọi người hốt hoảng dạt ra hai bên. Mấy gã đàn ông nhanh tay lẹ mắt nhấc bổng người phụ nữ quăng lên xe. Chiếc xe lập tức quay đầu, phi nước đại ra khỏi cổng thành.
Đám đông vẫn còn xì xào bàn tán:
"Đàn bà gì mà ác thế, bỏ cả con mọn. May mà chồng nó tìm được, chứ không thì..."
Tôi đứng đó chứng kiến toàn bộ, trong lòng cũng thầm nghĩ người phụ nữ kia có phần tuyệt tình quá đỗi.
Bạch khất cái chợt kéo tay tôi, trầm giọng bảo:
"Bám theo, xem chúng đưa cô ta đi đâu."
Tôi ngơ ngác hỏi: "Có chuyện gì vậy?"
Bạch khất cái gằn giọng:
"Cậu vẫn chưa nhìn ra sao? Đó là một lũ Cái Bang. Chúng nhắm trúng nữ nhân xinh đẹp, rồi giả làm người thân, hàng xóm để bắt cóc giữa ban ngày ban mặt, trước mắt bao nhiêu người. Tội nghiệp người phụ nữ kia, tình ngay lý gian, chẳng ai thèm giúp, thậm chí còn đứng về phía bọn lưu manh. Cuối cùng, nạn nhân sẽ bị bắt về sào huyệt để làm nô lệ tình dục."
Nghe đến đó, tôi rùng mình ớn lạnh, lập tức cùng Báo Tử và Hắc Bạch khất cái bám sát theo sau.
Chiếc xe ngựa vừa ra khỏi thành đã chạy điên cuồng trên con đường rải xỉ than ngoại ô. Chúng tôi dốc sức đuổi theo không rời nửa bước.
Chạy được chừng hai ba mươi dặm, chiếc xe rời đại lộ, rẽ vào một lối mòn nhỏ rồi chui tọt vào cánh rừng. Trong rừng có một ngôi làng nhỏ, chiếc xe dừng lại trước một căn nhà.
Chúng tôi nấp sau những thân cây lớn, thấy mấy gã đàn ông lôi người phụ nữ xuống xe. Cô ta lúc này đã sợ đến nhũn cả người, bị chúng kéo lê trên mặt đất vào trong viện rồi đóng chặt cổng lại.
Dưới sự che chở của lùm cây, chúng tôi âm thầm áp sát rồi gõ cửa.
Bên trong vang lên tiếng chó sủa dữ dội. Tôi cúi người nhặt mấy viên đá dắt vào lưng. Cổng mở, một gã trọc đầu ló mặt ra, hung quang lộ rõ hỏi chúng tôi muốn gì.
Bạch khất cái bảo: "Đi đường xa mệt quá, xin ngụm nước uống."
Gã trọc gắt gỏng: "Đi chỗ khác mà xin!" nói đoạn định đóng sập cửa lại.
Chúng tôi đồng loạt đẩy mạnh, ập vào trong sân. Gã trọc quát lớn: "Chúng mày muốn gì? Muốn gì hả?"
Hắc khất cái chẳng nói chẳng rằng, vung tay chém một chưởng sấm sét vào cổ gã. Tiếng quát im bặt, gã đổ rụp xuống như một đống thịt nhão.
Từ trong nhà, bảy tám gã đàn ông khác vọt ra, con chó đen to như con bê cũng được tháo xích, lao tới như gió cuốn. Tôi rút đá ra, nhắm thẳng thân chó mà ném. Viên đá trúng đích, con vật khựng lại, rên ư ử như chịu uất ức lắm. Tôi bồi thêm phát nữa, nó cụp đuôi, chạy mất dạng vào góc tối.
Bảy tám gã kia vây quanh chúng tôi, không nói nửa lời đã lao vào giáp lá cà. Báo Tử gầm lên một tiếng, mỗi quyền tung ra là một mạng ngã xuống. Thấy tình hình không ổn, một gã huýt một tiếng sáo dài. Ngay lập tức, các cổng nhà trong làng đồng loạt mở toang, mỗi nhà lại có một hai gã cầm gậy gộc lao ra tiếp ứng.
Bạch khất cái hét lớn: "Ngai Cẩu, mau vào trong cứu người!"
Tôi lao nhanh vào nhà. Hai gã tay không tấc sắt đuổi theo phía sau, tôi quay người ném đá trúng ngay mặt một đứa. Máu bắn tung tóe, gã ôm mặt quỵ xuống, đứa còn lại thấy thế cũng chùn bước. Con chó đen lúc nãy chỉ dám đứng từ xa sủa đổng, thấy tôi vẫn lăm lăm đá trên tay thì chẳng dám bén mảng tới gần.
Vào đến phòng, tôi thấy người phụ nữ đang co rúm ở góc giường, mặt mũi đầm đìa nước mắt. Thấy tôi, cô ta kinh hoàng né tránh. Tôi trấn an: "Tôi đến để cứu chị đây."
Giữa phòng có một chiếc bàn vuông bày sẵn thức ăn, còn có một đĩa ớt chưng dầu đỏ ối. Hóa ra bọn chúng đang định ăn cơm thì bị chúng tôi phá đám. Tôi vừa dắt người phụ nữ định rời đi thì hai gã hung hãn khác lại xông vào. Tiện tay, tôi chộp lấy đĩa ớt chưng ném thẳng vào mặt gã đi đầu. Ớt đỏ chói lọt vào mắt, gã gào lên đau đớn, quỵ xuống dụi mắt lia lịa.
Tên còn lại thấy cảnh tượng thảm khốc đó thì khựng lại một nhịp. Tôi chộp luôn cái liễn trên bàn ném tới. Liễn đựng đầy canh gà nóng hổi, thứ nước béo ngậy dính dớp dội thẳng lên người khiến gã kêu la oai oái, quay đầu chạy biến.
Tôi dắt người phụ nữ chạy ra cổng, thấy trên lối đi trong làng đang diễn ra một trận kịch chiến. Báo Tử và Hắc Bạch khất cái mỗi người cầm một cây gậy bạch lạp, chống chọi với hơn mười gã đàn ông.
Thấy ba người họ vẫn chiếm thế thượng phong, tôi đoán chắc họ sẽ thoát được nên định đưa người phụ nữ đi trước. Thế nhưng vừa tới đầu làng, tôi đã thấy hai ba mươi tên Cái Bang khác đang kéo tới. Bọn chúng ăn mặc rách rưới nhưng đứa nào mặt mũi cũng lộ vẻ âm độc. Đứa cầm bát mẻ, đứa chống gậy trúc, vây chặt lấy hai chúng tôi.
Hóa ra chúng tôi đã lọt vào sào huyệt của Cái Bang. Ban ngày chúng đi ăn xin khắp nơi, hoàng hôn lại tụ tập về đây trú ngụ.
Cạnh làng có một gò đất cao, thấy tình thế bất ổn, tôi dắt người phụ nữ chạy lên đó. Đám Cái Bang vây kín gò đất. Bảy tám tên lúc nãy còn giả vờ què quặt giờ đây chân cẳng nhanh thoăn thoắt, vung gậy đả cẩu tiến sát lại gần.
Tôi không có sức mạnh thần thánh như Báo Tử hay hai sư thúc, tuyệt đối không phải đối thủ của lũ này. Mà ba người họ vẫn đang bị đám người trong làng kìm chân, làm sao đây?
Bất chợt, mấy tên bò lên gò đất khựng lại, vẻ mặt đầy kinh hãi.
Chúng nhìn thấy trên tay tôi là một khẩu súng ngắn.
Đó là khẩu súng phòng thân của Lão Đồng. Trong băng chỉ còn vài viên đạn, nếu không tới đường cùng tôi chẳng nỡ dùng. Nhóm Báo Tử không ai biết bắn súng nên tôi là người giữ nó.
Phía trong làng, đám Cái Bang vẫn đang vây đánh nhóm Báo Tử. Ba người họ dần thoát vòng vây, tiến dần về phía gò đất. Trên lối đi đã có mấy tên nằm đo đất, số còn lại không dám tiến tới.
Chúng tôi hội quân trên gò đất, đám ăn mày vây vòng trong vòng ngoài. Báo Tử giật lấy khẩu súng từ tay tôi, chỉ thẳng vào mặt chúng:
"Thằng nào chán sống thì cứ bước lên!"
Báo Tử cầm súng đi tiên phong xuống gò, chúng tôi bám sát phía sau. Thực tế Báo Tử chẳng biết bắn súng là gì, nhưng lũ ăn mày kia đâu có biết. Thấy Báo Tử uy phong lẫm liệt như thiên thần hạ phàm, chúng tự khắc nhường lối.
Chúng tôi thuận lợi thoát ra đại lộ.
Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi gặp một nhóm đàn ông đang đốt đuốc tìm người, ai nấy đều phong trần mệt mỏi. Người phụ nữ vừa thấy họ đã bật khóc nức nở. Đó chính là gia đình cô ấy.
Nhà ngoại cô ở huyện thành, gả về một thị trấn cách đó mấy chục dặm. Hôm nay cô về thăm mẹ đẻ, nhà ngoại đợi mãi không thấy bèn cử người đi đón thì được tin cô đã đi từ tờ mờ sáng. Hoảng quá, hai bên gia đình cùng đổ xô đi tìm dọc đường. Họ không ngờ con gái mình lại bị Cái Bang bắt cóc.
Gia đình cô tha thiết mời chúng tôi về nhà. Đằng nào đêm nay cũng chưa có chỗ trú chân, chúng tôi đành nhận lời. Sáng hôm sau khi chúng tôi từ biệt, họ tặng rất nhiều tiền bạc nhưng chúng tôi đều từ chối.
Báo Tử bảo:
"Hành hiệp trượng nghĩa là bản sắc của người trong giang hồ. Nếu cứu một người mà đòi lấy một món tiền, thì khác gì phường gian thương?"
Chúng tôi tiếp tục hành trình hướng về phía Nam trên con đường cái quan. Nhưng rồi, chuyện kỳ lạ bắt đầu xảy ra.
Phía sau chúng tôi xuất hiện một lũ ăn mày rách rưới, dáng đi xiêu vẹo, cứ giữ khoảng cách không xa không gần mà bám theo. Chúng tôi đi, chúng đi; chúng tôi dừng, chúng cũng dừng.
Đến trưa, vào một thị trấn nhỏ, chúng tôi chọn một quán ăn. Thức ăn vừa bưng ra còn chưa kịp động đũa thì lũ ăn mày kia cũng ùa vào quán. Chúng khiêng theo mấy tấm ván gỗ, bên trên đặt xác mèo chết chó thối, mùi tử khí bốc lên nồng nặc. Khách đi đường thấy cảnh đó vội vã né tránh. Thực khách trong quán dù đã ăn hay chưa cũng đều kinh hãi bỏ chạy tán loạn.
Một tên cầm đầu gào lên:
"Chưởng quỹ ơi, có thịt chó tươi mèo ngon đây, mang tận nơi bán rẻ cho ông này!"
Chưởng quỹ cầm dao phay từ bếp chạy ra định quát tháo, nhưng vừa nhìn thấy bộ mặt hung thần ác sát của lũ vô lại đó thì đành nín nhịn.
Lũ ăn mày quăng xác súc vật thối rữa xuống ngay sàn quán, ruồi nhặng vo vo kéo tới chung vui. Chúng tôi bịt mũi nhưng mùi hôi thối vẫn cứ len lỏi qua từng kẽ tay. Trong các loại mùi, mùi xác thối chính là thứ không thể chịu đựng nổi.
Ngoài quán, dân chúng vây xem đông nghịt. Chúng tôi biết rõ lũ này cố tình quấy phá không cho chúng tôi ăn cơm, nhưng cũng chẳng tiện ra tay, đành lẳng lặng bước ra ngoài.
Lũ ăn mày lại lếch thếch kéo ra, tiếp tục bám theo sau.
Đêm đó, chúng tôi nghỉ chân tại một quán trọ.
Vừa mới chợp mắt, tiếng pháo nổ đì đùng ngoài cửa vang lên, theo sau là đủ loại tiếng khóc mướn, kêu oan thảm thiết, kéo dài không dứt. Tất cả chúng tôi đều bị đánh thức, không tài nào chợp mắt nổi.
Tôi mở cửa nhìn ra, thấy một đám người đang quỳ dưới đất gào khóc, cứ như phải chịu nỗi oan khuất thấu trời xanh. Tiểu nhị quán trọ đốt đuốc lên, tôi nhận ra ngay đám người rách rưới kia, vẫn là lũ ăn mày bám theo chúng tôi ban ngày.
Bạch khất cái gọi tôi vào, bảo:
"Lũ này là hạng rác rưởi, đừng có chấp nhặt với chúng."
Cái Bang vốn nổi danh với trò bám dai như đỉa, chuyên làm những chuyện ghê tởm người khác. Gặp phải hạng vô lại này, thực sự không có cách nào hay hơn.
Đêm đó, tiếng khóc than của chúng kéo dài ròng rã hai canh giờ. Không chỉ la hét, chúng còn đốt vàng mã, tàn giấy bay lả tả vào khắp các phòng trong quán trọ.
Dân trấn chẳng ai làm gì được lũ mặt dày đó. Có nhà đứng trên cửa sổ mắng chửi vài câu, lập tức có nửa viên gạch từ bóng tối bay vào làm vỡ nát đồ đạc bên trong, tiếng đổ vỡ loảng xoảng vang lên khô khốc. Nhà kia sợ quá, vội vàng đóng chặt cửa, không dám hó hé thêm nửa lời.
Chúng tôi biết rõ chúng nhắm vào mình, nhưng cũng không tiện ra mặt vì sợ chúng sẽ thừa cơ đập phá quán trọ. Dẫu đêm nay chúng tôi có đuổi được chúng đi, cũng chẳng ai đảm bảo sau này chúng không quay lại quấy nhiễu chủ quán.
Mãi đến lúc rạng đông, trời hửng sáng, lũ ăn mày mới lục tục rời đi. Dưới ánh sáng ban mai, trước cửa quán trọ là một bãi chiến trường: tàn tro vàng mã, xương xẩu gặm dở, lại còn cả uế tạp hôi hám của lũ súc sinh kia để lại.
Tất cả những điều này chỉ vì quán trọ đã dung chứa chúng tôi.
Trời sáng hẳn, chúng tôi với đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ lại tiếp tục lên đường.
Đi được hơn mười dặm, khi mặt trời đã lên cao bằng con sào, tôi ngoảnh lại không thấy bóng dáng lũ rách rưới kia nữa, bèn thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng Bạch khất cái lại bảo:
"Đừng có mơ mộng hão huyền về lũ này, chúng tuyệt đối không buông tha dễ thế đâu."
Tôi cãi: "Chúng ta đã đi xa thế này, chúng có đuổi cũng mất nửa ngày."
Lời vừa dứt, từ bìa rừng phía sau lại xuất hiện một đám ăn mày rách rưới, số lượng lên tới hai ba mươi tên. Đứa bê bát, đứa chống gậy, đi đứng lờ đờ như một đống rác chưa kịp dọn.
Báo Tử nhìn qua rồi bảo:
"Mẹ kiếp, chúng thay người rồi. Chơi trò chạy tiếp sức đây mà, lũ này không phải đám hôm qua."
Tôi nhìn kỹ, quả nhiên toàn là những gương mặt mới.
Tôi tự an ủi: "Biết đâu chúng chỉ là khách qua đường, chẳng liên quan gì đến mình."
Bạch khất cái cười hắc hắc:
"Các cậu đều coi thường bản lĩnh của lũ rác rưởi này rồi. Chúng chính là loại cao dán da chó, muốn dứt không được, muốn bóc không xong, cuối cùng chỉ có nước khoét cả miếng thịt đó đi thôi."
Chúng tôi dừng lại bên đường, định đợi chúng tiến lại gần để dạy cho một bài học. Nhưng cũng như hôm trước, chúng cứ giữ khoảng cách, chúng tôi dừng, chúng dừng; chúng tôi đi, chúng đi.
Cả đêm không ngủ khiến ai nấy đều cáu kỉnh. Báo Tử sầm sập lao về phía sau định túm vài đứa tẩn cho một trận. Nhưng Báo Tử vừa chạy, chúng đã vắt chân lên cổ mà chạy, còn nhanh hơn cả y. Báo Tử nổi trận lôi đình, nhặt đá ném theo nhưng vì khoảng cách quá xa, đá chưa tới nơi đã rơi xuống đất.
Báo Tử trợn mắt siết quyền, lũ kia biết y chẳng làm gì được mình bèn đứng thành hàng vỗ tay cười nhạo. Có mấy tên còn tụt cả quần, chổng mông về phía Báo Tử mà nhục mạ.
Báo Tử vô kế khả thi, quay lại bảo tôi: "Ngai Cẩu, cho chúng nó một phát súng đi!"
Tôi rút súng ra ước lượng, khoảng cách phải đến hai ba mươi trượng, vượt quá tầm bắn hiệu quả. Dù tôi có bắn chuẩn đến đâu, đạn bay xa thế cũng chẳng còn uy lực, đúng là "mũi tên bắn hết đà không xuyên nổi tấm lụa mỏng". Huống hồ, tài bắn súng của tôi vốn chẳng ra làm sao, tầm xa thế này chắc chắn bắn trượt.
Nhưng lòng không cam, tôi cứ cầm súng huơ qua huơ lại về phía lũ Cái Bang. Bạch khất cái can:
"Thôi đi, đừng lãng phí đạn. Mấy viên này sau này còn có ích. Mình cứ đi đường mình, mặc kệ chúng."
Chúng tôi quay lưng đi tiếp, lũ ăn mày lại lẵng nhẵng theo sau.
Đến trưa, chúng tôi tới một thị trấn lớn đang vào phiên chợ, người xe nườm nượp, vai chạm vai, chân nối chân. Trong trấn có một tửu lầu hai tầng trông rất bề thế. Đi bộ nửa ngày bụng đói cồn cào, chúng tôi bèn bước vào.
Hắc khất cái vừa vào quán đã oang oang:
"Chưởng quỹ, cho đĩa thịt bò, một đĩa chân giò hầm, thêm hai cân rượu!"
Chưởng quỹ từ bếp bước ra, nhìn chúng tôi từ đầu đến chân rồi hỏi: "Mấy vị khách quan từ đâu tới?"
Hắc khất cái gắt: "Ông chủ này lạ nhỉ, bọn tôi trả tiền, ông đưa cơm, hỏi gốc gác làm cái gì?"
Chưởng quỹ dè dặt hỏi: "Có phải mấy vị từ Cố Nguyên tới không?"
Hắc khất cái buột miệng: "Phải đấy."
Thái độ chưởng quỹ lập tức quay ngoắt 180 độ: "Bán hết rồi, mời mấy vị đi chỗ khác cho."
Hắc khất cái chỉ vào những thực khách khác trong quán:
"Người ta đang ăn rành rành ra kia mà ông bảo hết là thế nào? Ông sợ bọn tôi không có tiền trả hay sao?"
Chưởng quỹ bảo: "Tôi biết các vị có tiền, nhưng quán thực sự hết sạch đồ ăn rồi, không còn gì cả."
Hắc khất cái chửi thề, định đập phá quán cho bõ tức nhưng Báo Tử và Bạch khất cái kịp ngăn lại. Tôi vô tình ngoảnh lại, thấy ngoài cửa quán có một tên ăn mày đang ra hiệu cho chưởng quỹ.
Nhìn thấy tên ăn mày, tôi lập tức hiểu ra tất cả. Tôi lao khỏi quán định tóm lấy gã tẩn một trận, nhưng bộ đồ bẩn thỉu của gã đã nhanh chóng chìm lấp trong đám đông.
Báo Tử mắng: "Cả thiên hạ này đâu chỉ có mình quán nhà ông bán cơm. Ông chủ, làm ăn thế này là thất đức lắm đấy!"
Chúng tôi rời tửu lầu, thấy bên lề đường có một sạp mì nhỏ. Vừa ngồi xuống ghế dài, chủ sạp đã niềm nở hỏi: "Mấy vị dùng gì ạ?"
Báo Tử bảo: "Bốn bát mì lớn, nhanh lên nhé!"
Chủ sạp đáp: "Có ngay!" rồi kéo bễ lò phập phù, ngọn lửa đỏ rực liếm đáy nồi, nước trong nồi sôi sùng sục. Ông ta thả bốn nắm mì sợi to bản vào nồi. Mùi thơm của tinh bột lập tức lan tỏa, tôi không kìm được nuốt nước miếng một cái thật mạnh.
Mì chín, chủ sạp một tay cầm đũa, một tay bưng bát lớn định vớt mì. Bất chợt, từ trên không trung một con chuột chết bay tới, rơi tõm vào nồi nước dùng. Nước nóng bắn tung tóe lên mặt mũi và quần áo chúng tôi.
Tôi quay lại thấy một đứa trẻ đang lẻn vào đám đông trốn chạy. Tôi lập tức đuổi theo. Đứa trẻ chạy cực nhanh, lách qua khe hở giữa dòng người trơn tru như một con trạch. Tôi thầm nhủ hôm nay dù thế nào cũng phải tóm bằng được thằng ranh này nên điên cuồng bám đuổi.
Đứa bé cởi truồng, mình mẩy đầy bùn đất, vô cùng trơn tuột. Vừa tưởng sắp chộp được nó, nó lại đột ngột đổi hướng chui vào đám đông. Sợ mất dấu, tôi gào lên: "Tránh ra! Em tôi bị động kinh, gặp ai cũng cắn đấy!" Mọi người nghe thế vội vã dạt ra hai bên.
Đuổi thêm mười trượng, cuối cùng tôi cũng đuổi kịp, bồi cho nó một đá vào mông khiến nó ngã nhào. Tôi xách cổ nó dậy, quát: "Sao mày ném chuột vào nồi?"
Đứa bé chối phắt: "Không phải cháu!"
Tôi quát: "Không phải mày? Thế mày chạy cái gì?"
Nó lý sự: "Chú đuổi thì cháu chạy thôi."
Tôi mắng: "Mẹ kiếp, ông đây bắt quả tang mà mày còn cứng họng à!" Nói đoạn bồi thêm hai đá vào mông nó.
Đứa trẻ khóc thét lên, nó quệt hai dòng nước mũi vàng khè đặc quánh rồi bôi thẳng lên người tôi. Nhìn bộ dạng bẩn thỉu của nó, tôi vội né tránh. Thấy tôi chùn bước, nó lại nhổ một bãi đờm đặc về phía tôi, tôi lại phải tránh ra.
Thằng ranh này đích thị là một tiểu khất cái, chuyên trò quấy nhiễu, xảo quyệt và cực kỳ bẩn thỉu. Nó lao vào tôi như một con chó dại đang nhe răng, mình đầy uế tạp, khiến tôi chỉ biết né tránh. Tránh qua tránh lại, tôi lựa thế vòng ra sau lưng, tung một cú đá trời giáng khiến nó ngã lăn quay lần nữa.
Tiểu khất cái bò dậy, lần này không bôi nước mũi hay nhổ đờm nữa, mà dùng bộ móng tay đen sì dài ngoằng tự cào nát mặt mình đến chảy máu ròng ròng, rồi gào khóc thảm thiết:
"Giết người rồi! Giết người rồi! Mọi người ơi xem này, nó giết người!"
Đối mặt với đứa trẻ tự hành hạ mình thế này, tôi thực sự chẳng biết phải làm sao. Đánh tiếp thì không nỡ, mà không đánh thì không trút được hận lòng.
Đột nhiên, từ trong đám đông vọt ra mười mấy tên ăn mày rách rưới, mặt mũi nhem nhuốc. Chúng vây chặt lấy tôi, đứa dùng gậy đánh, đứa dùng chân đá, miệng không ngừng mắng nhiếc:
"Cái thằng thanh niên to xác này, đánh một đứa trẻ thế mà coi được à? Đạo đức của mày để đâu hả? Không biết xấu hổ à!"
Lũ ăn mày vây lấy đánh tôi ngã xuống đất. Ngay lúc tôi định rút súng ra cho chúng biết tay thì bọn chúng đột ngột giải tán, lẩn vào đám đông. Tôi lóp ngóp bò dậy thì thấy nhóm Báo Tử đã tới.
Bạch khất cái thở dài:
"Lũ rác rưởi này thực sự là nan giải, đã bị chúng ám thì khó mà dứt ra được."
Hôm đó chẳng còn cách nào khác, chúng tôi đành mua vài chiếc bánh nướng bên lề đường rồi vừa đi vừa ăn. Lũ ăn mày bệ rạc kia vẫn lẵng nhẵng bám theo sau.
Đêm đến, chúng tôi tới Sùng Lễ trú chân.
Trong huyện thành Sùng Lễ có vài quán trọ, thế nhưng gõ cửa quán nào cũng đều nhận được câu trả lời là đã hết phòng.
Hắc khất cái cáu tiết: "Cái huyện thành lớn thế này sao lại hết phòng toàn bộ được? Để tôi vào từng phòng mà lục, thấy phòng trống là tôi ở lỳ luôn!"
Bạch khất cái bảo: "Rõ ràng là Cái Bang địa phương đã đánh tiếng trước để không cho mình ngủ lại rồi. Dẫu có ở lại được thì cũng như đêm qua thôi, chúng quấy nhiễu cả đêm thì sao mà ngủ?"
Báo Tử nói: "Người trong giang hồ, gió sương quen rồi, kiếm đại chỗ nào ngả lưng qua đêm là được."
Bất đắc dĩ, chúng tôi đành lững thững đi dọc phố huyện Sùng Lễ, phía xa là lũ ăn mày bám đuôi như một cái đuôi không dứt.
Cuối phố Tây Sùng Lễ có một sân khấu lộ thiên. Khi có đoàn hát tới thì biểu diễn, không có thì bỏ trống. Đêm đó, chúng tôi chọn nơi này làm chỗ ngả lưng.
Đi bộ cả ngày ai nấy đều mệt lử, cứ ngỡ Cái Bang sẽ lại tới quấy rối nên ai cũng ngủ trong tư thế cảnh giác, mắt nhắm mắt mở. Thế nhưng Cái Bang lại không thấy đâu.
Đến nửa đêm, mọi người mới thực sự yên tâm, buông lỏng tay chân định đánh một giấc thật ngon. Bất chợt, từ xa vang lên một tiếng hú dài như quỷ gọi hồn, âm thanh thê lương, mảnh và kéo dài. Sau tiếng hú đầu tiên là hàng loạt tiếng kêu rùng rợn khác: tiếng dồn dập, tiếng khoan thai, tiếng lanh lảnh, tiếng trầm đục. Mỗi âm thanh đều chói tai đến rợn người. Dưới ánh trăng xa xa, một lũ quái vật đang uốn éo nhảy múa.
Chúng tôi là người trong nghề nên thừa hiểu chuyện gì đang xảy ra, chứ nếu là người thường chắc đã sợ đến mất mật.
Hắc khất cái chửi thề một tiếng, vơ lấy cây gậy gỗ bên cạnh lao về phía lũ ăn mày đang hóa trang thành ma quỷ kia, tôi cũng cầm gậy đuổi theo. Chạy được chừng hai ba mươi trượng, một mùi hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi khiến tôi suýt nôn mửa. Cảm thấy dưới chân có gì đó không ổn, nhìn xuống thì thấy đôi giày đã dính đầy phân uế, cả đoạn đường phía trước đều phủ một lớp chất thải trơn trượt, mùi thối bốc lên thấu trời.
Hóa ra lũ ăn mày vô liêm sỉ này đã bày ra cái "xú xí trận" (trận đồ phân thối) để chờ chúng tôi.
Phía trước là biển chất thải mênh mông, mùi thối bủa vây tứ phía, xộc vào mũi, vào miệng, vào cả tai khiến chúng tôi không thể chịu đựng nổi. Chúng tôi chẳng còn can đảm mà tiến bước. Nhìn lũ ăn mày từ xa múa may quay cuồng, ca hát nhảy múa, chúng tôi hoàn toàn bất lực.
Ngày mai chắc chắn sẽ lại có một lứa ăn mày khác thay ca, chúng sẽ lại dùng những chiêu trò cũ, chúng tôi định sẵn là phải chịu sự dày vò vô tận này, ăn không ngon, ngủ không yên, tâm lực giao tụy.
Chúng tôi quay lại sân khấu, nhìn nhau không nói nên lời. Báo Tử vốn là gã trượng phu cương trực, y chưa từng biết trên đời lại có hạng rác rưởi thế này, có những thủ đoạn hèn hạ đến tột cùng như thế, y cứ lắc đầu lia lịa. Bạch khất cái vốn đa mưu túc trí nhưng gặp phải hạng hạ đẳng này cũng vô phương cứu chữa. Hắc khất cái tính tình nóng nảy, nghiến răng kèn kẹt, đấm mạnh vào cột gỗ sân khấu như muốn đánh gãy nó cho bõ ghét. Tôi thì bịt tai, nhìn đám "quỷ dữ" múa lượn đằng xa mà thở ngắn than dài.
Đêm đó, chúng tôi lại trải qua một đêm thống khổ chờ sáng.
Trời sáng, lũ ăn mày bẩn thỉu kia rời đi, mặt đất chỉ còn lại dấu vết uế tạp của chúng.
Chúng tôi tiếp tục hướng về phía Nam. Phía sau lại có một tốp ăn mày khác đuổi theo, lần này toàn gương mặt mới. Chúng cứ giữ khoảng cách không xa không gần, chúng tôi dừng, chúng dừng; chúng tôi đi, chúng đi. Chúng tôi quay đầu đuổi, chúng quay đầu chạy.
Lũ ăn mày này thực sự rỗi hơi đến mức bệnh hoạn. Chúng phân chia địa bàn rõ ràng, dọc đường đi này cứ như chạy tiếp sức, và chúng tôi chính là cái gậy tiếp sức trên tay chúng.
Đi tiếp một đoạn, chúng tôi thấy một cánh rừng và một ngôi bảo tháp thấp thoáng bên trong. Nơi đây đã gần Trương Gia Khẩu lắm rồi, nghe người dân địa phương bảo đứng trên đỉnh tháp có thể nhìn thấy thành phố.
Trong rừng có một lối mòn nhỏ dẫn thẳng tới Trương Gia Khẩu. Hắc khất cái bảo chúng tôi cứ đi trước, gã quyết định ẩn mình trong lùm cây rậm rạp để dạy cho lũ rác rưởi kia một bài học nhớ đời.
Bạch khất cái dặn dò: "Đừng có gây ra án mạng, quan phủ mà nhúng tay vào là rắc rối lắm."
Hắc khất cái bảo: "Không sao đâu, lũ rác rưởi này không dạy cho một bài học, chúng lại tưởng mình dễ bắt nạt."
Ba chúng tôi tiếp tục bước đi, cố tình đi thật nhanh. Lũ ăn mày cậy đông thế mạnh, hú hét đuổi theo phía sau. Khi chúng tôi đi tới chân bảo tháp thì đột ngột dừng lại, lũ ăn mày cũng khựng lại theo.
Tôi chỉ tay vào chúng mắng: "Mẹ kiếp chúng mày, lại đây!"
Trong đám ăn mày có một lão già râu tóc bạc phơ, lão chỉ huy đám ăn mày đứng thành mấy hàng ngay ngắn, lão đứng đầu hàng vung tay hô hào. Cứ mỗi lần lão vung tay, đám ăn mày lại đồng thanh mắng lại: "Mẹ kiếp chúng mày, lại đây!"
Tôi gào lên: "Đồ chó đẻ, quân khốn nạn!"
Lão ăn mày đưa tay lên rồi hạ xuống, đám ăn mày lại đồng thanh đáp lễ: "Đồ chó đẻ, quân khốn nạn!"
Lũ mặt dày này cứ nhại theo lời tôi, tôi mắng gì chúng mắng nấy, mà giọng còn to hơn, đều hơn. Tôi định rủ Báo Tử và Bạch khất cái cùng mắng nhưng cả hai đều lắc đầu bỏ ra chỗ khác. Họ không thèm làm cái trò vô bổ tột cùng này.
Bất chợt tôi nảy ra một ý, nhớ lại vở kịch "Tô Tam khởi giải". Đây là vở hí kịch cổ điển rất phổ biến, kể về nàng kỹ nữ Tô Tam bị hàm oan ở huyện Hồng Đồng, tỉnh Sơn Tây. Từ tri huyện đến mụ tú bà đều vu oan giá họa cho nàng. Lúc rời huyện Hồng Đồng, Tô Tam có hát một đoạn liệt kê chín nỗi hận trong lòng, câu cuối là: "Huyện Hồng Đồng chẳng có kẻ nào tốt."
Tôi bèn nhắm hướng lũ ăn mày mà nghêu ngao hát:
"Lũ chó chết đối diện nghe cho rõ, ông đây hát hí kịch cho mà nghe:
Một hận cha mẹ bay quá nhẫn tâm, để bay lọt vào cửa Cái Bang;
Hai hận bay mặt dày không biết xấu hổ, lười làm ham ăn hám bạc vàng;
Ba hận thế gian mỹ nữ nhiều vô kể, sao chẳng một nàng nhắm mắt đưa chân;
Bốn hận năm hận thêm sáu hận, hận ta chẳng còn lấy một người thân;
Bảy hận tám hận thêm chín hận, cả đời nghèo khó kiếp lầm than;
Hận đi hận lại đều do lũ bay, bởi bay mẹ kiếp chẳng phải hạng người lương thiện!"
Tôi vừa hát vừa lắc lư cái đầu đắc ý nhìn lũ ăn mày, hát xong thì mỉm cười chờ chúng mắng lại. Thế nhưng đám ăn mày kia ngây người ra nhìn nhau, chúng chẳng thể nào nhớ nổi những gì tôi vừa hát.
Lão ăn mày già thẹn quá hóa giận, quay lại quát tháo đám đàn em. Lũ ăn mày xấu hổ, đứa nào đứa nấy cúi gầm mặt xuống. Thấy cảnh đó, tôi cười ha hả, niềm vui sướng lộ rõ trên mặt. Xem ra "tú tài gặp kẻ mù chữ" chung quy vẫn hơn một bậc.
Đột nhiên, từ phía sau đám ăn mày, Hắc khất cái vọt ra, một tay bóp nghẹt cổ lão ăn mày già. Sự việc xảy ra quá bất ngờ, đám ăn mày sợ đến mức đồng loạt lùi lại.
Thấy Hắc khất cái đã đắc thủ, chúng tôi lập tức chạy tới. Lũ ăn mày thấy chúng tôi lao đến thì run cầm cập, muốn chạy trốn nhưng lại sợ sau này bị lão già râu bạc trừng phạt; không chạy thì sợ bị chúng tôi tẩn cho nhừ đòn.
Tôi chạy đến trước mặt một tên, vung tay lên, gã sợ quá vội quỳ sụp xuống đất. Đám còn lại thấy thế cũng quỳ rạp theo. Lòng bàn tay tôi giáng thẳng vào mặt gã, tạo nên tiếng "chát" giòn giã trên khuôn mặt bẩn thỉu. Sau khi tát cho gã một trận, tôi cảm thấy lòng bàn tay nhơn nhớt, nhìn lại thì thấy dính đầy ghét bẩn và nước mũi trên mặt gã.
Tôi hận thù chửi mắng: "Mẹ kiếp, bẩn thế không biết!" rồi lau sạch uế tạp đó vào chính áo của gã.
Lão già râu bạc cũng quỳ xuống, tội nghiệp van xin:
"Các đại gia, không phải việc của tôi, là do 'trạm trước' bảo chúng tôi làm thế đấy ạ."
Hắc khất cái hỏi: "Trạm trước là đứa nào?"
Lão già bảo: "Trạm trước chính là Bang chủ bên phía Sùng Lễ, lão bảo chúng tôi phải bám sát các ông, không để các ông ăn ngon ngủ yên."
Hắc khất cái giơ nắm đấm to như cái bát ăn cơm lên huơ huơ trước mặt lão:
"Thế mày nghe lời bọn tao, hay nghe lời Bang chủ Sùng Lễ?"
Lão già râu bạc vội vàng dập đầu, trán chạm xuống đất kêu "bàng bàng". Dập đầu xong, lão thưa: "Dĩ nhiên là nghe lời các ông nội rồi ạ."
Hắc khất cái bảo: "Nghe lời thì mau dắt lũ chó lưu manh này biến đi cho khuất mắt, đừng để ông đây thấy mặt lần nữa."
Lão già hứa sống hứa chết: "Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi. Nếu tôi còn dám bám theo các ông, tôi là đồ con hoang do đĩ đẻ ra!"
Hắc khất cái buông tay, đá cho lão một phát: "Cút!"
Lão già râu bạc như con gà chọi bại trận, rũ rượi rời đi, theo sau là lũ rác rưởi xiêu vẹo.
Chúng tôi hân hoan bước tiếp, cứ ngỡ từ nay thái bình vô sự. Ngờ đâu đi được chừng hai ba dặm, tôi vô tình quay đầu lại, vẫn thấy lũ chó chết kia đang lẵng nhẵng theo sau.
Chúng tôi dừng, chúng dừng. Chúng tôi nhìn chúng, chúng nhìn chúng tôi.
Tôi gào lên với lão già râu bạc: "Mẹ kiếp nhà lão thật vô liêm sỉ, vừa thề thốt xong đã quên sạch rồi à?"
Lão già ngửa mặt cười ha hả: "Lúc nấy khác, lúc này khác, chẳng lẽ ông chưa nghe câu 'binh bất yếm trá' sao?"
Chúng tôi nhìn nhau, dở khóc dở cười. Một hạng hạ đẳng vô lại thế này mà cũng bày đặt dạy chúng tôi về binh pháp. Báo Tử bảo: "Thôi thôi, đừng dây dưa với chúng nữa, dù sao cũng sắp tới Trương Gia Khẩu rồi."
Bạch khất cái thở dài:
"Càng gần Trương Gia Khẩu càng phải cắt đuôi được chúng, không thể mang rắc rối này tới tiêu cục của đoàn lạc đà được. Ai mà dây phải lũ lưu manh này thì coi như đen đủi tám kiếp."
Báo Tử hỏi: "Thế giờ làm sao?"
Bạch khất cái than thở: "Ôi, tôi cũng chịu, chẳng còn cách nào cả."