Tổ Bịp
- 4340 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 41. Lằn ranh sinh tử
Gió thốc ngược từ chân dốc lên, mang theo hơi lạnh gai người. Tôi và Nguyên Mộc dán chặt bụng xuống đám cỏ rậm, cố căng tai nghe ngóng động tĩnh bên dưới. Tiếng rì rầm của hai gã đàn ông vọng lại, nhưng gió tạt ngang khiến câu chữ đứt đoạn, chẳng nghe rõ nội dung.
Tôi xốc lại khẩu súng trường trên vai, bấu tay vào đám cỏ hoang, trườn xuống chân dốc êm như một con rắn. Nguyên Mộc bám sát ngay sau lưng. Xuống đến nơi, chúng tôi mới phát hiện một cái hầm đất nông choẹt khoét ngay vào vách đá dựng đứng. Hai gã đàn ông đang chui rúc trong đó.
Bọn họ đang bàn tán về mấy loại dược liệu, chốc chốc lại nhắc đến "Gậy sắt rỉ", lát sau lại là "Nhục thung dung". Mấy thứ này tôi chẳng lạ gì. Dân trong Quan (vùng Trung Nguyên) chỉ biết đến Viễn chí, Phòng phong, Sài hồ hay Hoàng cầm, còn đám "Gậy sắt rỉ" và Nhục thung dung lại là báu vật của miền biên viễn sa mạc, chuyên trị cái khoản "trên bảo dưới không nghe".
Người ta đem "Gậy sắt rỉ" phối với Nhục thung dung, thêm đại táo, kỷ tử theo đúng tỷ lệ, ngâm rượu mười ngày là thành tiên dược. Ngày trước ở tiệm chữ họa huyện Bảo Hưng, tôi vẫn thấy lão chủ tiệm nốc thứ nước màu cam đỏ ấy, rồi đi khắp nơi khoe khoang chiến tích phòng the oanh liệt không kém gì trai trẻ.
Hóa ra hai gã này là dân đào thuốc.
Tôi lững thững bước ra chào hỏi. Sự xuất hiện đường đột của khách không mời giữa đêm khuya khiến hai gã giật mình thon thót. Tôi bịa chuyện mình là khách lỡ độ đường, rồi lân la bắt chuyện về công dụng của đám thần dược kia. "Gậy sắt rỉ" tên chữ là Tỏa dương. Chuyện trò từ Tỏa dương, Nhục thung dung lan man sang cả dược liệu vùng Trung Nguyên, không khí bớt phần căng thẳng.
Thuở nhỏ tôi tuy không trực tiếp đi hái thuốc, nhưng lão trường công và con trai lão đi làm đồng về thường tiện tay mang theo bó Viễn chí hay Phòng phong. Hai loại này chỉ lấy rễ. Rễ Viễn chí có lõi, phải rút bỏ; rễ Phòng phong đặc ruột, nhưng giá rẻ bèo. Chúng đều là thuốc trị thương hàn, hóa đờm thông dụng, sườn đồi nào cũng mọc, chẳng bì được với sự quý hiếm và công năng kỳ diệu của đám dược liệu vùng biên ải này.
Câu chuyện thuốc thang kéo gần khoảng cách đôi bên. Hai gã mời chúng tôi hút tẩu thuốc. Tôi xua tay từ chối, lái câu chuyện sang hướng khác:
• Các bác có thấy ai đi ngang qua đây không?
Họ kể, đêm qua có người lăn từ trên sườn dốc xuống, rồi súng nổ ran trong thung lũng. Đạn bay vèo vèo như đom đóm, hai gã sợ xanh mặt, nín thở nằm im thin thít. Sáng ra mới dám mò đi xem, thấy một cái xác nằm chỏng chơ giữa thung lũng.
Tôi giật thột:
• Kẻ nào chết?
• Một gã đàn ông mặc đồ đen, ngực bị thủng một lỗ, cắm phập cái mũi lao.
Tôi thở phào nhẹ nhõm. "Mũi lao" trong miệng dân hái thuốc chính là phi tiêu của Yến Tử. Trong màn đêm đặc quánh, chỉ cần nghe tiếng súng mà đoán trúng vị trí đối phương rồi ra tay đoạt mạng, công phu của nàng quả thực kinh người.
• Thế các bác thấy mấy người đuổi, mấy người chạy?
• Trời tối như hũ nút, chịu chết không rõ bao nhiêu người đánh nhau.
• Rồi sau đó thế nào?
Họ chỉ tay về phía xa:
• Đám người đó chạy dọc theo thung lũng, hút về phía kia rồi.
Yến Tử rời đi đã một ngày một đêm, chậm chân là hỏng việc.
• Đi dọc thung lũng thì tới đâu?
Hai gã cho biết thung lũng này hình vòng cung, đi hết nửa vòng sẽ dẫn lên thảo nguyên. Nếu muốn đi tắt đón đầu thì cứ leo ngược dốc đá này lên, đỡ được khối đường vòng vèo.
Nguyên Mộc hỏi chen vào:
• Gần đây có lều trại nào không?
• Lên dốc, đi về hướng Đông Bắc chừng mươi dặm là có.
Nguyên Mộc nháy mắt với tôi. Thằng nhãi này tinh ranh, tôi hiểu ngay ý nó. Yến Tử và đám truy sát đều chạy bộ, nếu chúng tôi "mượn" được ngựa thì chẳng mấy chốc sẽ bắt kịp.
Leo lên sườn dốc bên kia, thảo nguyên bao la lại trải rộng trước mắt. Vô vàn đóa hoa dại run rẩy trong gió đêm, hòa cùng ngàn vạn tinh tú trên cao, dệt nên một bức gấm thêu hoa tráng lệ. Cảnh đẹp đến nao lòng, nhưng tâm trí tôi lúc này chỉ ngập tràn hình bóng Yến Tử.
Đi được chừng ba bốn dặm trong biển hoa, chúng tôi bắt gặp một con đường mòn. Gọi là đường cho sang, thực ra chỉ là hai vệt bánh xe bò lún xuống cỏ. Xe bò ở đây gọi là xe Lặc-lặc, mệnh danh "Thảo thượng phi" (Bay trên cỏ). Bò và cừu chống đỡ cả bầu trời thảo nguyên. Trời xanh thăm thẳm, đồng cỏ mênh mông, gió thổi cỏ rạp lộ dê cừu. Người thảo nguyên ăn thịt thay cơm, uống sữa thay trà, cưỡi ngựa thay xe, bầu bạn cùng chó.
Con bò là kho báu biết đi: thịt để ăn, sữa để uống, da làm áo, phân để đốt. Trong Quan, phân bò là thứ xú uế, nhưng ở đây lại là vật phẩm thiết yếu. Trước mỗi lều Mông Cổ đều có đống phân bò cao ngất ngưởng. Dùng phân bò nướng thịt, hương vị thơm ngon lạ lùng.
Ở vùng rìa thảo nguyên khô hạn, phân bò còn dùng để rửa bát. Ăn xong, tiếc nước không nỡ rửa, người ta bốc nắm phân bò khô chà một vòng trong lòng bát, thổi phù một cái cho bay hết vụn, thế là sạch bong.
Sữa lại càng là huyết mạch. Trà sữa, sữa chua, bơ, váng sữa, rượu sữa... Thảo nguyên mà thiếu sữa chẳng khác nào làng quê thiếu nước. Nghi thức vắt sữa cũng trang trọng vô cùng: rửa tay, thắp hương, vòng quanh mình bò và dưới bụng bò ba vòng, cắm hương trước chuồng rồi mới được vắt. Ấy là để tạ ơn bò mẹ.
Đi dọc theo lối mòn một lúc, chúng tôi đến bìa một cánh rừng. Bỗng phía trước vang lên tiếng động lạ. Tôi áp tai xuống đất, tiếng vó ngựa dồn dập như tiếng trống trận, mỗi lúc một gần.
• Có kẻ cưỡi ngựa đang tới. - Tôi thì thầm.
Nguyên Mộc hớn hở:
• Cầu được ước thấy!
Tôi tháo cuộn dây thừng bên hông - thứ vốn định dùng để vượt tường ngục, nay lại đắc dụng. Buộc dây ngang thân cây hai bên đường xong xuôi, tôi và Nguyên Mộc lẩn nhanh vào bụi rậm.
Vừa xong thì ngựa tới. Dưới ánh sao lờ mờ, bóng kỵ sĩ nhấp nhô trên lưng ngựa. Dây thừng vừa căng, con ngựa vấp mạnh, hí vang một tiếng rồi khuỵu xuống. Gã kỵ mã bị hất văng ra xa cả chục mét, lăn lông lốc.
Nguyên Mộc lao ra tóm lấy cương ngựa, còn tôi chĩa súng vào đầu gã đàn ông đang nằm rên hừ hừ dưới đất. Hắn còn khá trẻ.
• Hảo hán tha mạng! - Hắn vừa xuýt xoa vừa van lơn.
• Mày làm gì ở đây?
• Tôi là người đưa tin.
• Tin gì?
• Vây được hai nữ tướng cướp rồi, tôi về gọi thêm viện binh.
Tim tôi thót lại. Hai nữ tướng cướp, đích thị là Yến Tử và cô gái biết bắn súng kia. Họ đang lâm nguy!
• Các người là ai?
Gã cười cầu tài, lộ hàm răng trắng ởn dưới ánh trăng:
• Thì cũng như đại ca thôi, đều là "Huc-tử" cả.
"Huc-tử" (Râu) là tiếng lóng giang hồ bốn tỉnh Đông Bắc, chỉ bọn thổ phỉ chuyên nghề cướp bóc.
• Tao là "Ngoại mã", chú là "Bì tử" hả?
Hắn dập đầu lia lịa:
• Phải, phải, đại ca "chiêu tử" sáng thật, em là "Bì tử", anh em mình là "người trong mã" cả.
Ý tôi hỏi hắn có phải lính mới nhập băng không, hắn khen tôi mắt sáng, nhận ngay là người cùng hội cùng thuyền.
Thấy tôi là "người nhà", tên thổ phỉ nhãi nhép tuôn ra một tràng. Một tên "Tẩu đầu tử" (kẻ buôn hàng cho thổ phỉ) phát hiện hai người đẹp, bám theo rồi báo cho Đại đương gia. Đại đương gia phái năm tên đi bắt cóc, ngờ đâu hai cô nàng võ nghệ cao cường, hạ gục ngay hai tên. Ba tên còn lại dồn được hai cô vào hang núi, nhưng sợ uy không dám vào bắt, bèn phái tên "Bì tử" này về cầu viện.
• Cái hang đó ở đâu?
• Dọc đường này đi bốn năm mươi dặm, rẽ vào thung lũng đi thêm chừng hai mươi dặm nữa là tới.
• Đã là anh em một nhà, bọn tao giúp chú mày bắt hai con "Đậu hoa tử" (cô gái) này dâng lên Đại đương gia, cho bọn tao nhập hội, thế nào?
• Thế thì còn gì bằng! - Hắn mừng rơn.
Con ngựa này cũng là đồ ăn trộm. Ngựa trên thảo nguyên nhiều như gà trong Quan, mà trộm ngựa ở đây còn dễ hơn trộm gà. Ba người chúng tôi chất lên một con ngựa: tên Bì tử ngồi đầu, Nguyên Mộc đoạn hậu, kẹp chặt tôi - kẻ mù tịt về cưỡi ngựa - ở giữa. Con ngựa phi nước đại trên thảo nguyên êm ru như thuyền lướt sóng.
Trời tảng sáng. Chân trời phía Đông ửng hồng, đàn chim xếp đội hình bay ngang bầu trời, nhìn xa như thể bay ra từ chính đĩa mặt trời đỏ rực đang lăn lên khỏi đường chân trời như một bánh xe lửa. Mây trắng trên đầu, núi non xa xa đều được dát một viền vàng rực rỡ.
Giờ này ở trại giam chắc đang đến giờ xả hơi. Lão Đồng không thấy tôi đâu chắc đang lồng lộn, cai ngục không tìm thấy tù nhân chắc đang điên tiết. Nhưng mặc kệ, tôi chỉ cần tìm thấy Yến Tử.
Mặt trời lên cao bằng con sào thì chúng tôi tới cửa thung lũng. Hai bên vách núi dựng đứng như cổng trời, chỉ độc một lối mòn dẫn vào. Tên Bì tử chỉ dẫn:
• Vào cửa, rẽ trái là thung lũng. Qua miếu Thổ Địa, xuyên qua rừng cây là đến cửa hang. Hai ả "Đậu hoa tử" trốn trong đó.
Chúng tôi thúc ngựa phi tiếp. Quả nhiên thấy miếu Thổ Địa, rồi đến cánh rừng. Qua rừng là một sườn dốc. Dưới chân dốc, hai gã đàn ông đang nấp sau tảng đá, lưng quay về phía chúng tôi, súng chĩa thẳng vào miệng hang đen ngòm cách đó vài chục mét.
• Xuống ngựa, đi bộ. - Tôi ra lệnh.
Tên Bì tử hớn hở xuống ngựa định dẫn đường, tôi vươn tay bóp chặt cổ họng hắn. Hắn trợn mắt kinh hoàng. Tôi ra hiệu cho Nguyên Mộc xé vạt áo, nhét giẻ vào mồm hắn, rồi trói gô vào gốc cây non.
Tôi và Nguyên Mộc quay lại miếu Thổ Địa, khuân hết mấy bức tượng đất ra, đặt sau các tảng đá, chỉ để lộ mỗi cái đầu. Tôi bẻ một bó cành cây lớn buộc vào đuôi ngựa, bảo Nguyên Mộc:
• Cưỡi ngựa chạy vòng trong rừng.
• Để làm gì? - Nguyên Mộc ngơ ngác.
• Nghi binh. Cứ làm theo lời tao.
Lúc ấy, tôi chợt nhớ đến những buổi nghe lén hát xẩm ngày xưa. Ông thầy bói mù kể chuyện Trương Phi đại náo cầu Trường Bản, dùng hai mươi kỵ binh mà dọa lui mười vạn quân Tào, cũng chính bằng kế nghi binh này.
Nguyên Mộc thúc ngựa chạy rầm rập trong rừng, cành cây quét đất bụi mù trời. Tôi quay lại dọa tên Bì tử:
• Tự cởi được trói thì sống, không thì tao cho một viên đạn về chầu ông bà.
Hắn giãy giụa điên cuồng, lá cây rụng lả tả.
Tôi bò đến vị trí cách tên Bì tử cả trăm mét, ngắm vào mông một gã thổ phỉ dưới dốc. Súng chỉ còn đúng một viên đạn. Tôi tính hạ một tên, tên kia sẽ dễ xử. "Đoàng!" Viên đạn rít lên, bay tít đi đâu không rõ. Hai gã thổ phỉ vẫn bình chân như vại. Tài bắn súng của tôi đúng là thảm họa.
Nghe tiếng súng nổ sau lưng, hai gã quay phắt lại. Thấy trên dốc bụi cuốn mù mịt, cây cối rung chuyển, lại thấp thoáng cả chục cái đầu người lố nhố sau tảng đá, chúng hồn xiêu phách lạc. Tôi chớp thời cơ, đứng phắt dậy, chĩa khẩu súng rỗng tuếch xuống, quát lớn:
• Buông súng! Buông súng ngay!
Hai gã sợ mất mật, vội quẳng súng xuống đất. Tôi hét tiếp, giọng đầy uy lực:
• Đại đội một dừng tấn công! Đại đội hai vu hồi bọc lót! Nguyên Mộc, kỵ binh tiến lên! Chúng mày đi về phía trái, cấm quay đầu lại, ngoái lại là bố bắn vỡ sọ!
Hai gã răm rắp nghe theo, lầm lũi đi về phía trái. Nguyên Mộc phi ngựa tới, thấy hai tên kia đã đi khuất, liền lao xuống dốc thu lấy hai khẩu súng.
Tôi chạy ào tới, giật lấy súng từ tay Nguyên Mộc, nhắm vào bóng lưng hai tên thổ phỉ đang chạy cách đó vài chục mét, bóp cò liên tục. Trượt sạch. Nhưng tiếng súng nổ sau lưng cũng đủ làm chúng vỡ mật, co giò chạy bán sống bán chết khỏi thung lũng.
Nguyên Mộc nhìn tôi đầy ngưỡng mộ:
• Anh, anh đúng không phải người thường.
• Anh mày vốn là thằng đần, dòng đời xô đẩy, giang hồ ép uổng mà nên thôi.
Giang hồ đúng là trường học khắc nghiệt mà hiệu quả nhất.
Thung lũng đã sạch bóng quân thù, tôi chạy đến cửa hang hét lớn:
• Yến Tử! Yến Tử! Ngai Cẩu đây! Chồng em đây!
Im lặng.
Tôi gào lên:
• Yến Tử ơi, Ngai Cẩu đây mà!
Vẫn bặt vô âm tín.
Nỗi sợ hãi ập đến bóp nghẹt tim tôi. Tôi xách súng lao vào hang, Nguyên Mộc bám gót. Chạy sâu vào chừng hai ba mươi mét, tôi thấy Yến Tử ngồi dựa lưng vào vách đá. Bên cạnh là một cô gái khác, chân quấn vải trắng loang lổ máu, tay vẫn nắm chặt khẩu súng lục nhỏ xíu.
Tôi nhào tới quỳ xuống trước mặt nàng, lay mạnh vai:
• Yến Tử, anh đến rồi đây, em trả lời anh đi!
Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài từ khóe mắt nàng.
Họ đã đói lả đi. Phi tiêu của Yến Tử đã cạn, súng của cô gái kia cũng hết đạn, nhưng bọn thổ phỉ bên ngoài nào có hay.
Chiều hôm đó, sau khi được ăn uống lại sức, Yến Tử và cô gái kia đã có thể túc tắc đi lại.
• Cô này là ai? - Tôi hỏi.
• Đặc tình của Nam Kinh phái tới. - Yến Tử đáp.
Hèn gì thân thủ phi phàm, lại thạo súng ống, hóa ra là người của thành phố lớn phương Nam.
Yến Tử kể, đêm đó ở khách sạn tại Xích Phong, nàng ra ngoài thám thính tình hình thì gặp cảnh sát đi tuần tra tìm gián điệp Nhật. Tôi chủ quan, bị chúng lục ra viên kim cương lớn, lại thêm sự xuất hiện của Yến Tử, thế là thành tội trộm cắp, bắt cóc tiểu thư, tống thẳng vào ngục.
Trong tù, tôi bị tra tấn thừa sống thiếu chết nhưng vẫn cắn răng không khai, vì tin Yến Tử sẽ có cách giải quyết, sợ khai lung tung lại hỏng việc. Ngờ đâu bọn chúng tham lam muốn chiếm đoạt viên kim cương nên định giam lỏng chúng tôi cả đời.
Yến Tử vượt ngục ngay ngày hôm sau bằng cách đu dây qua tường nhà xí. Nàng đào lại đống phi tiêu chôn giấu, quyết tâm đơn thương độc mã cướp lại kim cương và cứu tôi.
Lần theo dấu vết, nàng biết kim cương đang nằm trong tay viên Đội trưởng cảnh sát - một tên cáo già chuyên trấn lột khách thương. Hắn có một căn hầm bí mật chứa đầy của cải phi nghĩa. Yến Tử lẻn vào nhưng bó tay trước ổ khóa đồng to tướng treo trên cửa hầm.
Rời nhà tên Đội trưởng, Yến Tử phát hiện một bóng đen khác cũng lẻn vào. Đó là một người phụ nữ. Người này cạy cửa phòng ngủ, chuông báo động reo vang. Một cuộc đọ súng diễn ra. Yến Tử từ trên mái nhà phóng phi tiêu hạ gục tên lính cầm súng, giải vây cho người phụ nữ kia.
Người đó chính là Đào Lệ, đặc tình Nam Kinh, nhiệm vụ là tìm chiếc "Mũ Đồng". Theo tin mật báo, Nhật Bản cũng đã phái người đến thảo nguyên săn lùng báu vật này. Mũ Đồng có khả năng hiệu triệu triệu người thảo nguyên, tuyệt đối không thể rơi vào tay giặc.
Đào Lệ tiết lộ về tên gián điệp Nhật Bản tên Honda Jiichirō, giả danh hòa thượng, pháp danh Vô Cảnh, tên tục Đồng Gia Khải. Hắn bị gãy chân khi trốn chạy, hiện đang bị giam trong ngục với cái tên Đồng Gia Khải, tội trộm cắp vặt.
• Lão Đồng! - Tôi thốt lên.
Đào Lệ bật dậy:
• Anh biết hắn?
• Lão già lùn tịt, béo tròn, nói giọng địa phương, tóc húi cua, ở cùng buồng giam với tôi.
• Đạp mòn giày sắt tìm chẳng thấy, đến khi thấy lại chẳng tốn chút công phu! Hóa ra con cáo già ấy trốn ngay trong hang hùm.
Tôi kể lại chuyện lão Đồng dạy tôi mở khóa và nhờ tôi đến hiệu thuốc liên lạc. Đào Lệ gật đầu:
• Hiệu thuốc đó là trạm liên lạc của địch, chúng tôi vừa đánh hơi thấy thì chúng đã di tản rồi. Thế anh có biết Mũ Đồng ở đâu không?
• Trong chùa Xích Phong. Lão Đồng dạy tôi mở khóa chính là để trộm cái mũ ấy.
• Đêm dài lắm mộng, tối nay chúng ta hành động luôn.
Tôi kể tiếp về cuộc hội thoại nghe lỏm được trong ngôi nhà gỗ giữa thảo nguyên về bốn gã giang hồ và hình vẽ đầu sói trên tường chùa.
Yến Tử xen vào:
• Hình đầu sói đó không phải của bang phái địa phương. Đó là ký hiệu của bang Ký Bắc.
Đào Lệ rùng mình:
• Mũ đồng của Thành Cát Tư Hãn, chúng ta muốn, Nhật muốn, bang phái địa phương muốn, giờ lại thêm cả bang Ký Bắc. Tứ đại thế lực cùng tranh hùng. Không thể chậm trễ!
Nguyên Mộc, với bản năng nghề nghiệp thượng thừa, đã tranh thủ lúc vắng người "mượn" tạm hai bộ yên cương và một túi da đầy sữa ngựa từ một lều Mông Cổ gần đó.
Hoàng hôn buông xuống, tiếng vó ngựa rầm rập trở về chuồng như tiếng trống trận. Thừa lúc mọi người lúi húi nấu cơm, Nguyên Mộc đã dắt được hai con ngựa béo tốt chạy biến vào màn đêm.
Đêm hôm ấy, bốn người chia nhau hai con ngựa, thẳng tiến chùa Xích Phong. Đào Lệ biết cưỡi ngựa chở Yến Tử, tôi ngồi sau Nguyên Mộc. Từ sau vụ trộm nhà họ Chu, Nguyên Mộc coi tôi như thần thánh. Hắn tuy chỉ là "tạp tặc" (trộm vặt) nhưng lại là Trạng nguyên trong nghề trộm ngựa.
Trăng sáng vằng vặc, soi rõ từng nhành cây ngọn cỏ. Đêm nay đẹp, nhưng đầy sát khí.
Qua cầu phao, chúng tôi tiếp cận chùa Xích Phong. Để tránh đánh động hai con chó ngao, chúng tôi xuống ngựa từ xa. Tôi và Yến Tử bò lên sườn dốc, trèo lên một cây cổ thụ quan sát.
Bên ngoài tường chùa, cỏ mọc lút đầu gối, năm gã đàn ông đang nằm rạp xuống. Một cái hố đen ngòm lộ ra dưới chân tường. Một gã chui từ dưới đất lên, kéo theo sọt đất, hai tên khác vội vàng đem đất rải ra bụi cỏ.
Đúng như giang hồ đồn đại: "Đường lớn chia đôi, mỗi người một ngả". Trộm có hai loại: "Xuyên thiên" (leo tường) và "Nhập địa" (đào hầm). Đây đích thị là một băng "Nhập địa", có lẽ là đám Ký Bắc.
Chờ mãi bọn chúng chưa đi, tôi bắt đầu mót tiểu vì uống quá nhiều váng sữa. Đang nhấp nhổm thì Yến Tử giật nhẹ tay áo tôi:
• Nhìn bên trái kìa.
Mấy bóng đen khác đang nương theo bụi cỏ, lẳng lặng áp sát đám đào hầm như bầy sói săn mồi. Đám "kiến thợ" vẫn cắm cúi làm việc, không hay biết tử thần đang kề cổ.
Cơn buồn tiểu của tôi bay biến.
Đến cự ly vài chục mét, đám người mới đến đồng loạt giương nỏ. "Phập! Phập!" Những mũi tên xé gió lao đi. Đám "kiến thợ" đang hì hục đào đất ngã gục, không kịp thốt lên nửa lời trăn trối.
• Bang Thảo Nguyên, chuyên dùng nỏ. - Yến Tử thì thầm, ánh trăng loang lổ trên khuôn mặt nàng lạnh tanh.
Dọn dẹp xong đám đào hầm, hai tên bang Thảo Nguyên chui xuống kiểm tra rồi quay lên, đi vòng ra cổng chính. Chúng rút những lưỡi dao mỏng dính, lách vào khe cửa. "Cạch". Then cài bật mở. Cánh cửa gỗ nặng nề rên rỉ hé ra.
Hai con chó ngao lồng lên sủa vang, lao ra như tên bắn. Nhưng đám người kia đã chuẩn bị sẵn, tung lưới chụp gọn. Lũ chó hung tợn bị lưới bọc chặt, càng giãy giụa càng rối, chỉ biết ư ử trong họng khi chịu trận mưa gậy gộc giáng xuống.
Cao tay! Dùng nhu thắng cương, lấy lưới mềm trị chó dữ.
• Vào thôi!
Yến Tử tuột xuống cây, tôi bám theo. Chúng tôi tung "cần mềm" (móc câu dây) móc vào tường, đu người nhảy tót vào trong.
Trong sân chùa hỗn loạn tiếng người, tiếng chó, ánh đèn đuốc loang loáng. Các tăng nhân túa ra chặn đánh đám đột nhập. Tôi và Yến Tử men theo bóng tối, lẻn ra Hậu điện. Nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất, chẳng ai để ý đến hai kẻ xâm nhập thầm lặng này.
Cửa Hậu điện không khóa. Ánh trăng hắt vào pho tượng Đại Hắc Thiên ba đầu sáu tay dữ tợn. Chúng tôi lật tấm ván dưới chân bệ thờ, để lộ một lối đi tối om.
Yến Tử vòng tay ôm lấy eo tôi từ phía sau, đặt một nụ hôn lên cổ tôi. Hơi ấm lan tỏa khắp người, xua tan mọi nỗi sợ hãi.
• Em sợ không?
Bàn tay nhỏ nhắn của nàng run rẩy trong tay tôi.
• Đừng sợ, có chết anh cũng không để ai đụng đến em.
• Nói bậy! Phải sống. Em không thể thiếu anh.
Tôi ôm nàng vào lòng, cảm thấy căn hầm ẩm thấp này còn rực rỡ hơn cả cung vàng điện ngọc.
Chúng tôi mò mẫm xuống các bậc thang. Một cánh cửa gỗ chặn lối. Tôi sờ soạng, chạm phải một ổ khóa vuông. Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa niêm chặt vỏ khóa, tay trái giữ quai, tìm điểm tì, lắc nhẹ. "Cạch". Khóa bung ra.
Qua cửa thứ nhất, Yến Tử nhắc:
• Tìm đèn trên tường đi. Cao đèn thấp sáng, dưới đèn thì tối. Chắc chắn có hốc để đèn.
Quả nhiên tôi tìm thấy hốc tường có diêm và đèn dầu. Thứ dầu thực vật cháy lép bép, tỏa mùi hăng hắc.
Cửa thứ hai dùng khóa ám môn, trên có gắn thanh kiếm trừ tà. Ấn chuôi kiếm, miếng đồng dưới đáy trượt ra lộ lỗ khóa. Tôi dùng đoạn dây thép đã chuẩn bị sẵn, ngoáy nhẹ. Lại mở. Cảm giác tay nghề của mình đã lên một bậc, dễ hơn mở khóa nhà tù nhiều.
Cửa thứ ba là khóa mật mã. Xoay dòng chữ "Hỏa thang tự tồi chiết" (Lửa và nước sôi tự diệt vong) thành một hàng. Xong!
Bước vào mật thất, giữa phòng sừng sững một pho tượng, có lẽ là vị trụ trì đời trước. Pho tượng rỗng ruột. Tôi thò tay vào, chạm phải vật kim loại lạnh ngắt. Lôi ra xem, chính là chiếc Mũ Đồng huyền thoại!
Mọi thứ y hệt lời lão Đồng. Hóa ra lão ta từng là hòa thượng ở đây, hoặc chính là người giấu cái mũ này.
Mũ đã vào tay, chúng tôi hí hửng quay ra. Bỗng phía trước vang lên tiếng bước chân thình thịch và ánh đuốc chập chờn lọt qua khe gỗ trên trần.
Tôi kéo Yến Tử ra sau lưng, tay lăm lăm chiếc mũ đồng. Kẻ nào dám thò đầu xuống, tôi sẽ cho hắn biết thế nào là "cứng đầu" theo đúng nghĩa đen.