Tổ Bịp

  • 3174 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 15. Quan Âm hiện thế
Hai vị sư thúc tới chùa Hương Dũng chưa được bao lâu, thì một sự kiện chấn động cả vùng Đại Biệt Sơn nổ ra. Chuyện này tới tận ngày nay vẫn còn được người đời truyền tụng, thậm chí thêu dệt đến mức huyền hoặc, thần thánh vô cùng.
Có lẽ, chẳng còn ai biết được kẻ chủ mưu đứng sau màn kịch ấy thực chất chỉ là bốn người trong ngôi chùa Hương Dũng này.
Người dân vùng Đại Biệt gọi đó là: "Quan Âm hiện thế".
Ngày mười chín tháng Chín âm lịch là ngày vía Quan Âm. Theo điển tích nhà Phật, đây là ngày Người tu thành chính quả, ngự trên đài sen.
Suốt mùa hè và mùa thu năm ấy, khắp hang cùng ngõ hẻm vùng núi Đại Biệt đều râm ran lời đồn: Đúng ngày mười chín tháng Chín, Quan Âm sẽ hiển linh, từ trên trời giáng thế xuống chùa Hương Dũng. Cứ mỗi phiên chợ, chẳng biết từ đâu lại xuất hiện những tờ cáo thị viết trên giấy vàng, nội dung đều xoay quanh việc linh ứng này. Tin tức Quan Âm sắp hiện thân như cơn gió lốc thổi qua mọi ngóc ngách. Người ta bàn tán trong tửu quán, nơi quán trọ, dọc đường đi, bên mâm cơm, thậm chí cả trong hang ổ thổ phỉ, sau cánh cửa công đường hay trên giường chiếu chốn lầu xanh... Đâu đâu cũng nghe thấy tiếng xì xào như ong vỡ tổ, chỉ cần bước chân ra khỏi cửa là cái tin ấy đã đập vào tai.
Chùa Hương Dũng bỗng chốc thành tâm điểm của vạn người. Không quản ngại đường xá xa xôi, người ta lặn lội thân trần, khăn gói quả mướp đổ về đây chỉ để nhìn tận mắt nơi Quan Âm sẽ giáng trần. Kẻ vung tiền nắm lớn vào thùng công đức cầu xin bình an, người dựng lều cỏ trên núi quanh chùa để ngày ngày thắp hương bái Phật, cốt để xác thực cái lời đồn không rõ nguồn cơn kia.
Trong nỗi mong chờ và hy vọng tột độ, cuối cùng người ta cũng đợi được ngày mười chín tháng Chín. Từ sáng sớm, biển người đã vây kín quanh chùa Hương Dũng. Họ đứng chật kín các thung lũng, chen chúc dọc lối mòn, vai đeo túi lương khô, tay dắt díu trẻ nhỏ. Trong túi là ngô non đầu mùa, là nắm cơm đồ sẵn; trên tay là vò gốm đựng cháo nóng hay nước sôi. Đứng từ đỉnh núi nhìn xuống, những con đường dẫn về chùa như có những con mãng xà khổng lồ đang trườn đi, đó chính là dòng người cuồn cuộn không dứt.
________________________________________
Đêm ấy, ánh trăng sáng rực như dải lụa bạch.
Dân chúng ngước mắt nhìn lên, bỗng thấy từ giữa vầng trăng, Quan Âm bước ra. Người vận trường y rực rỡ, dải lụa và tà váy phất phơ theo gió như đang múa giữa hư không. Quan Âm từ trên mặt trăng chậm rãi bước xuống, đôi tay vẫy nhẹ như đôi cánh, lại như đang cầm cành liễu rưới nước cam lộ xuống trần gian. Thân thể Người phát ra ánh sáng lung linh, trong suốt tựa ngọc tinh khiết, đẹp đến nao lòng. Hết thảy những ai chứng kiến cảnh tượng ấy đều sụp xuống lạy lục. Kẻ trợn mắt kinh hãi, người lầm rầm khấn vái, kẻ hướng về phía bóng hình ấy mà rập đầu không ngớt.
Khi Quan Âm lướt qua, người ta mới nhìn rõ: một tay Người cầm tịnh bình, một tay cầm cành liễu. Người nhúng cành liễu vào bình, vẩy nước cam lộ lên đầu, lên vai, lên lưng, lên cả thân mình những kẻ đang quỳ rạp hai bên đường. Ai được hứng lấy nước thánh đều bật khóc nức nở vì cảm động.
Quan Âm theo bậc đá đi lên, tà váy dài thướt tha quét sau gót, vạn người lẳng lặng nối đuôi theo sau. Người bước vào chùa Hương Dũng, nơi cửa chùa vốn đã mở toang cung nghênh từ trước. Phút ấy, niềm hạnh phúc tột cùng xâm chiếm cả tâm trí đám hòa thượng trong chùa, họ cũng đồng loạt quỳ xuống, nhắm nghiền mắt, miệng tụng niệm liên hồi.
Người bước vào đại điện, nơi trung tâm có đặt sẵn đài sen. Quan Âm tiến tới, chậm rãi tọa lạc trên đài. Trong điện không thắp đèn dầu, nhưng người ta vẫn thấy rõ dung nghi của Người: mặt hoa da phấn, thân hình đầy đặn, chân mày lá liễu, thần thái thoát tục vô song. Người ta xếp hàng tiến đến trước mặt, để Quan Âm xoa đầu, chạm vai, vuốt tay... Chỗ nào đau thì nhờ Người chạm vào, chỗ nào không đau cũng muốn được ban phước. Đó là cái phúc phận tu hành bao kiếp mới có được: được Quan Âm bằng xương bằng thịt chạm tay vào người.
Lúc rạng đông, tiếng chuông khánh trong chùa vang rền, báo hiệu Quan Âm sắp rời đi. Dân chúng quỳ phục, đầu chạm đất, nước mặt giàn giụa. Đến khi họ ngẩng đầu lên, trên đài sen đã không còn một bóng người. Quan Âm đã nương theo tia nắng sớm đầu tiên mà bay về thế giới Cực Lạc.
Mãn nguyện tột cùng, người ta vét sạch tiền trong túi đổ vào thùng công đức. Thùng chẳng mấy chốc đã đầy ắp, những tờ tiền giấy tràn ra ngoài, vương vãi trên nền đất, phủ kín mọi ngóc ngách của điện thờ. Gã hòa thượng lùn béo vội vã thay một cái thùng to hơn, nhưng rồi cũng lại đầy ngay tắp lự. Gã bê không xuể, đành đặt thêm những cái thùng khổng lồ từ đại điện kéo dài tận cổng chùa. Khi người khách cuối cùng rời đi, ngay cả cái thùng cuối cùng cũng đã chật cứng.
Lăng Quang Tổ bước tới, ra hiệu cho gã béo đóng cửa chùa, trút sạch tiền trong các thùng công đức ra. Gã béo muốn bê thùng lên nhưng không nổi, đành phải nghiêng thùng đổ xuống. Tiền giấy bay lả tả như tuyết rơi giữa sân chùa, đậu lên mọi xó xỉnh, phủ một lớp dày đặc. Đến mức khi tôi muốn đi vệ sinh, còn phải dùng xẻng đào một lối đi xuyên qua đống tiền mới tới được nhà xí.
Tiền nhiều đến mức không có chỗ để. Chúng tôi đào một cái hố sâu dưới gốc cây quế, chẳng buồn kiểm đếm, cứ thế hốt từng nắm ném xuống.
Dưới gốc cây quế ấy, trước đây từng chôn bí kíp tướng thuật của sư tổ truyền lại, giờ đây là nơi vùi lấp đống tiền khổng lồ đổi được từ chính thứ tướng thuật ấy.
________________________________________
Tôi cởi bỏ bộ trường y hồng lục xen kẽ của Quan Âm ra khỏi người. Trên tà váy ấy bôi đầy những vệt cao dược, trên cao dược dán chi chít xác đom đóm. Vô số con đom đóm dán chặt lên người khiến cơ thể tôi phát ra ánh sáng kỳ ảo trong đêm tối.
Tôi bước vào kho, nơi cửa có cuộn dây thừng nằm chình ình - đó chính là đạo cụ để tôi "bước ra từ mặt trăng" đêm qua. Một sợi dây thừng nối giữa hai ngọn cây ở hai đỉnh núi. Tôi đứng trên đỉnh núi cao, mượn vầng trăng khổng lồ làm nền, người dưới chùa nhìn lên sẽ thấy tôi như đang bước ra từ trong trăng vậy. Tôi lần theo dây thừng đi từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, đôi tay dang rộng để giữ thăng bằng, trong mắt thiên hạ thì đó là điệu múa thần tiên. Những năm tháng khổ luyện trong gánh xiếc giúp tôi đi trên dây như đi trên đất bằng. Xuống đến chân núi, tôi đứng dưới vách đá dựng đứng, buộc dây quanh eo, hai vị sư thúc nấp trên đỉnh kéo đầu dây bên kia, từng bước đưa tôi leo lên vách đá cheo leo. Nhìn từ xa, trông tôi chẳng khác nào đang bước đi trên vách cao.
Tôi đi cà kheo tiến vào con đường nhỏ dẫn tới chùa, tà váy dài đã khéo léo che khuất đôi chân gỗ, khiến người ta thấy tôi cao lớn lạ thường. Vào đến đại điện, tôi ngồi xếp bằng trên đài sen để thiên hạ sùng bái. Lúc rạng đông, tôi mệt lử, chẳng muốn ngồi thêm nữa. Lợi dụng lúc mọi người cúi đầu sát đất, tôi lẻn dậy, nấp sau đài sen. Họ cứ ngỡ tôi đã cưỡi mây về trời.
Đêm ấy, tôi đã chinh phục tất thảy mọi người.
Trời sáng hẳn, tôi mới thoát khỏi niềm hân hoan tột độ đó, gục xuống giường ngủ thiếp đi.
Sau sự kiện ấy, chùa Hương Dũng nổi danh như cồn, nhưng mầm mống tai họa cũng bắt đầu nảy nở từ đây.
Chùa lúc nào cũng nườm nượp khách hành hương, người cầu xin khấn vái không ngớt. Để mở rộng "việc làm ăn", chúng tôi xây thêm hàng chục gian phòng, đặt đủ loại tượng đất. Chẳng cần biết là Thích Ca Mâu Ni của Phật giáo hay Thái Bạch Kim Tinh của Đạo giáo, dù là Tháp Lý Thiên Vương nho nhã hay Cự Linh Thần hung tợn, chúng tôi đều cho tạc tượng thờ tất. Lăng Quang Tổ cầm cuốn Tây Du Ký trong tay, mục tiêu cuối cùng của lão là biến chùa Hương Dũng thành thánh địa du lịch phương Đông, nơi mà cả Phật tử lẫn Đạo hữu đều tìm thấy đức tin của mình. Sau đó gã cho quây hàng rào lại, thu vé vào cửa, thu tiền nhang đèn. Một nén hương đắt nhất ở cổng có giá tới cả trăm đồng, rẻ nhất cũng một đồng.
Khắp vùng Giang Hoài trung nguyên, ngôi chùa Hương Dũng vốn vô danh tiểu tốt ẩn sâu trong núi Đại Biệt bỗng chốc nổi danh sau một đêm. Người ta đồn nhau đây là nơi Quan Âm hiển linh. Vô số kẻ coi nơi này là thánh địa tâm linh, không quản vạn dặm tìm đến chỉ để tận mắt chiêm bái đài sen gỗ mà Quan Âm từng tọa lạc.
Cái đài sen bằng gỗ do Lăng Quang Tổ làm ra và tôi từng ngồi lên đó, nay được quấn vải đỏ, tôn thờ trên đài cao giữa chính điện. Dưới đài sen viết bốn chữ lớn: "HỮU CẦU TẤT ỨNG" (Cầu gì được nấy). Trước đài đặt một hòm công đức, cứ cách một canh giờ là gã béo lại phải thay hòm mới, vì tiền bên trong đã đầy ắp không chứa thêm được nữa.
Trên vách đại điện treo kín mít cờ thưởng do chính tay chúng tôi viết: nào là "Bồ Tát hiển linh, vạn sự như ý", nào là "Tống Tử Quán Thế Âm, toàn gia hạnh phúc".
Chúng tôi không thiếu tiền.
________________________________________
Có một ngày, tôi gặp lại người hàng xóm của Diệp Tử trong chùa - người phụ nữ có chồng đi buôn xa ấy. Chị ta vẫn gương mặt sầu thảm, có lẽ chồng vẫn chưa về, chị vẫn phải bán dần trang sức để duy trì sinh kế. Tôi ghé tai nói nhỏ với Lăng Quang Tổ về hoàn cảnh của chị ta, vì trước đây tôi đã từng kể cho lão nghe.
Tôi cứ ngỡ Lăng Quang Tổ sẽ tiến lại bắt chuyện, dùng những chiêu bài cũ như "ấn đường ám đen", "đôi mắt vô thần", "hai má đỏ hồng" để đoán định sự tình người chồng biệt tích nhằm dẫn dụ chị ta vào tròng. Cuốn Anh Diệu Thiên đã dạy rạch ròi: đàn bà đi xem bói, mười người thì chín kẻ hỏi chuyện chồng con. Trước đây, chỉ cần nắm được chút thông tin, Lăng Quang Tổ sẽ lập tức ra tay khiến đối phương tâm phục khẩu phục mà dâng tiền.
Nhưng lần này, lão không làm thế.
Lăng Quang Tổ hờ hững bảo: "Một mụ đàn bà tay hòm chìa khóa thì có được bao nhiêu tiền? Tao chẳng buồn phí lời với mụ."
Lăng Quang Tổ bây giờ cái gì cũng có, nên lão chẳng còn mặn mà với những con mồi nhỏ lẻ nữa.
Tôi thấy chị ta thì cảm thấy thân thiế, bèn chủ động chạy lại hỏi thăm tin tức về Diệp Tử.
Người phụ nữ ấy nói: "Diệp Tử hôm nay đi lấy chồng rồi."
Tôi bàng hoàng: "Gả đi đâu ạ?"
Chị ta đáp: "Gả ra ngoài núi. Sáng sớm nay hoa kiệu đã khiêng tới cửa rồi."
Nghe câu ấy, tôi thấy như sét đánh ngang tai, lập tức cuống cuồng chạy về hướng nhà Diệp Tử. Lăng Quang Tổ giờ đã giàu to, có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ rời núi, tôi cũng đã tính chuyện hỏi cưới Diệp Tử. Thế mà không ngờ, chính hôm nay em ấy lại đi lấy chồng.
Tôi phải chặn hoa kiệu lại, không ai được phép mang Diệp Tử của tôi đi!
Tôi chạy thục mạng về nhà Diệp Tử, mệt thì đi bộ, đỡ mệt lại chạy tiếp. Khi đến nơi, tôi thở không ra hơi. Cha mẹ Diệp Tử đang lau dọn bàn ghế trong sân, chén đĩa xếp cao ngất ngưởng, cửa dán câu đối đỏ rực. Một con chó nhỏ nấp trong góc tường đang rình mò chực gặm miếng xương rơi giữa sân.
Tôi hổn hển hỏi: "Diệp Tử đâu?"
Mẹ cô ấy chẳng thèm nể nang: "Mày tìm con Diệp nhà tao làm gì? Nó đi lấy chồng rồi!"
"Gả đi đâu rồi?" - Tôi gào lên.
"Gả ra ngoài núi rồi!"
Tôi lao ra khỏi cổng, chạy dọc theo triền dốc ra đường lớn. Mẹ cô ấy đứng trên dốc hét với theo: "Mày định làm cái gì? Thằng kia, mày định làm cái gì?"
Tôi chẳng buồn để tâm, men theo con phố vắng vẻ mà lao ra con đường dẫn khỏi núi. Gió rít qua tai, hai tay tôi vẫy mạnh như đôi cánh, tôi ảo tưởng mình có thể bay lên, bay vụt tới trước mặt Diệp Tử, rồi sẽ như Võ Tòng đả hổ, ba đấm hai đá đánh tan đám người đón dâu kia. Chúng sẽ quỳ xuống xin tha, còn tôi sẽ ôm Diệp Tử lên lưng ngựa, phóng thẳng về tòa lâu đài trên đỉnh núi xa xa.
Tôi chạy, mồ hôi nhễ nhại. Lên đến một đỉnh dốc, tôi thấy một đoàn người đang đi xuống, tiếng kèn trống vang trời, hoa kiệu rực rỡ. Tôi đoan chắc Diệp Tử đang ngồi trong đó. Tôi đứng trên đỉnh núi gào thét, nhưng tiếng loa kèn đám cưới đã nuốt chửng tiếng gọi của tôi.
Tôi lao xuống dốc, không theo lối mòn mà đâm thẳng xuống để chặn đường. Chạy quá nhanh, đầu nặng chân nhẹ, tôi vấp ngã lộn vòng trên triền dốc như một quả bóng, lăn qua bụi gai táo cào xé da thịt, đè nát đám cỏ hoang. Đầu đập vào một tảng đá nhô ra, nỗi đau vừa ập tới thì một tảng đá lớn hơn lại đập vào người. Tôi chân tay quờ quạng, như con diều đứt dây chẳng thể tự chủ. Cuối cùng, một bụi rậm đã giữ tôi lại.
Kiệt sức, đau đớn và tuyệt vọng, tôi gượng bò dậy. Tay chân vẫn cử động được, nhưng mặt cảm thấy dính nhớp, quệt một cái thấy toàn là máu. Tôi chẳng biết đầu mình rách chỗ nào, cũng chẳng màng xem vết thương, cứ thế tiếp tục lao xuống núi.
Bên bờ suối dưới chân núi, tôi cuối cùng cũng đuổi kịp đoàn người. Tiếng kèn trống bỗng lặng ngắt, tất thảy nhìn tôi trân trân - một kẻ đầy máu và đất cát. Tôi lao đến trước hoa kiệu, định vén bức rèm đỏ lên.
Một gã thanh niên trông lớn tuổi hơn tôi chặn lại, quát: "Mày làm cái gì đấy?"
Tôi gào: "Diệp Tử là vợ tao, chúng mày không được mang đi!"
Tôi gọi khản cả cổ: "Diệp Tử! Diệp Tử ơi!"
Diệp Tử vén rèm ra, tôi thấy mặt em ấy đầm đìa nước mắt. Em ấy vịn lấy thành kiệu, muốn bước xuống.
Gã thanh niên nhìn tôi rồi nhìn Diệp Tử, bỗng hiểu ra chuyện, gã gầm lên: "Ở đâu ra thằng dâm tặc nhãi con, thằng trọc con này? Đánh chết nó cho tao!"
Đám khiêng kiệu xông vào, đấm đá túi bụi khiến tôi ngã gục. Những bàn chân đạp lên người tôi, tôi chỉ biết quằn quại lăn lộn dưới đất.
Gã thanh niên hằn học nói với Diệp Tử: "Đêm nay tao xem mày còn không, nếu mất rồi thì lão tử tìm cha mẹ mày tính sổ."
Diệp Tử định lao ra nhưng bị hai gã đàn ông mỗi người một tay ghì chặt, ấn ngược vào trong kiệu.
Họ khiêng kiệu đi, bỏ mặc tôi nằm đó. Tôi lại vùng dậy lao theo, nhưng chúng quay lại đánh tôi ngã quỵ lần nữa, chúng đá tôi như đá một quả cầu da.
Sau đó, tôi lịm đi, nằm bất động giữa đường. Đoàn rước dâu cứ thế khiêng kiệu bước qua người tôi.
Tôi chẳng phải Võ Tòng, tôi chỉ là một thằng tiểu hòa thượng không chút võ công.
________________________________________
Khi tỉnh lại, tôi đang ở nhà một thầy thuốc già. Ông kể rằng trên đường đi bốc thuốc về, từ xa đã thấy một đám người đang hành hung tôi. Lúc ông cưỡi lừa chạy đến thì họ đã đi xa, còn tôi thì ngất lịm. Ông đành vắt tôi lên lưng lừa đưa về nhà.
Ông hỏi: "Tại sao họ lại đánh cháu ra nông nỗi này?"
Tôi không biết phải trả lời sao. Tôi là một hòa thượng, mà hòa thượng thì không được phép có tư tình với đàn bà. Nếu chuyện vỡ lở, ai cũng sẽ coi tôi là hạng dâm tăng, hạng phá giới. Tôi chỉ là thân phận con cóc ghẻ, mà cóc thì làm sao chạm được tới thiên nga.
Tôi nằm ở nhà thầy thuốc ba ngày. Ba ngày ấy, lòng tôi lạnh lẽo đến cực điểm, cay đắng đến cực điểm. Tôi nhìn lại cuộc đời ngắn ngủi của mình: bị bắt cóc bán đi, cha đẻ thì bỏ mặc; chịu đủ nhục hình, chỉ biết âm thầm chịu đựng; hẹn ước với Thúy Nhi thì chẳng thấy người đâu; đem lòng yêu Diệp Tử thì cô ấy lại đi lấy chồng, còn mình thì suýt bị đánh chết...
Số mạng của tôi sao mà khổ thế này? Cay đắng chẳng khác nào nhấm phải hoàng liên.

 

(Tổng: 3174 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0