Tổ Bịp
- 4546 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 47. Có kẻ mạo danh Sư tổ
Tôi hướng về phía thôn Ô Đằng Tề Cách, từ đằng xa đã thấy Yến Tử đứng nơi đầu thôn, đăm đăm nhìn về hướng tôi đi tới. Gió thốc làm mái tóc đen của Yến Tử tung bay, tựa một cánh buồm căng lộng. Phía chân trời xa tắp, một tia chớp như lưỡi cưa xẻ toạc bầu trời. Tiếng sấm rền rĩ theo sau, trầm đục như vọng ra từ một hang sâu thăm thẳm. Bão tố sắp đổ bộ rồi.
Tôi thuật lại lời moi được từ miệng gã Niệp tử, Yến Tử nghe xong liền bảo:
"Việc không thể chậm trễ, phải đi Đa Luân ngay."
Tôi hỏi:
"Bão đến nơi rồi, đi thế nào được?"
Yến Tử đáp:
"Trời đổ mưa to lại chính là cơ hội cho chúng ta. Tiết trời này bọn Nhật không đi, nhưng chúng ta đi; bọn Nhật sợ, nhưng ta không sợ, như vậy mới mong vượt lên trước chúng."
Giông tố vây quanh, dân thôn Ô Đằng Tề Cách đều nép mình trong nhà gỗ và lều bạt. Gió cuồng phong quét qua mái lều, phát ra những tiếng hú sắc lạnh như xé gió, hệt như có hàng vạn bầy ong vò vẽ đang vây lấy bên tai. Đây quả là thời cơ vàng để trộm ngựa.
Tôi lẻn vào chuồng ngựa của một hộ dân ven thôn, dễ dàng dắt đi hai con chiến mã, tiện tay cuỗm luôn hai bộ yên cương. Gió lớn thổi tung bờm ngựa như cỏ dại dật dờ, mắt chúng nhấp nháy đầy vẻ bất an, chẳng chịu cất bước. Tôi tung mình cưỡi lên một con, tay dắt theo con còn lại cho Yến Tử, rồi bất thần kẹp chặt hai chân vào hông ngựa. Con vật giật mình lồng lên về phía trước, con kia cũng hộc tốc đuổi theo.
Mưa bắt đầu rơi. Mưa trên thảo nguyên nặng hạt hơn nhiều so với vùng Quan Nội, nện xuống mặt đất phát ra những tiếng "pụp pụp" khô khốc, bụi đất bốc lên mù mịt trên những ngọn cỏ. Những giọt mưa lớn như hạt cúc áo nện thẳng vào lưng, tôi rùng mình liên hồi, ngoái đầu lại thì thấy Yến Tử đang rạp người trên lưng ngựa, hai tay ôm ghì lấy cổ nó. Tôi gào lớn:
"Lạnh không? Lạnh không?"
Yến Tử không ngoái lại mà vẫn dán chặt mắt vào con đường bùn lầy phía trước. Lúc này tôi mới nhận ra tiếng phong ba quá lớn, thanh âm của mình đã hoàn toàn bị nuốt chửng.
Chúng tôi sải vó trong mưa bão chừng nửa canh giờ thì màn đêm buông xuống, giông tố cũng càng lúc càng dữ dội. Đêm tối tựa biển sâu, còn chúng tôi giống như hai mái chèo, chỉ có thể đồng sinh cộng tử mới hòng vượt qua sóng dữ. Y phục sớm đã ướt đẫm, dính chặt vào người như tẩm hồ, vô cùng khó chịu. Yến Tử cưỡi ngựa bám sát phía sau, nhưng tôi cũng chỉ thấy được một bóng hình mờ ảo.
Chạy thêm một đoạn ngắn, một ngọn núi cao chắn ngang lối đi, ngựa lồng lên hí vang rồi dừng bước. Tôi nhảy xuống, thọc tay vào bụng ngựa, chạm phải lớp mồ hôi nóng hổi ướt sũng, bụng ngựa phập phồng liên hồi như sóng cuộn. Suốt quãng đường dài phi nước đại, chúng đã kiệt sức rồi.
Mưa bão ngớt dần, cái lạnh lại ập tới. Đêm mùa hạ mà hơi lạnh cứ lẩn khuất trong khe núi tựa sương mù. Trên tầng không, vài ngôi sao lấp ló sau màn mây như kẻ trộm, rồi lại nhanh chóng ẩn mình. Từ những gò cao xa xăm vọng lại tiếng sói hú, tiếng sau cao hơn tiếng trước.
Tôi hỏi Yến Tử đang đi bên cạnh:
"Sợ không?"
Yến Tử đáp:
"Không sợ."
Tôi bảo:
"Có tôi ở bên, tôi thà chết chứ nhất quyết không để chị chịu nửa phần thương tổn."
Yến Tử nói:
"Sau này đừng nhắc đến từ chết nữa. Tôi muốn anh phải sống thật tốt, chúng ta đều phải sống đến trăm tuổi."
Tôi ngước nhìn những vì sao lung linh chực rụng, lòng say đắm trong những ảo mộng về tình yêu. Tôi nói:
"Mai này mình cứ dựng nhà trên thảo nguyên mà sống, tôi thấy nơi này rất tốt, thịt cừu, sữa ngựa, muốn ăn bao nhiêu tùy thích."
Yến Tử gật đầu:
"Đúng thế, nơi này trời cao đất rộng, tâm cảnh cũng khoáng đạt."
Tôi lại bảo:
"Chúng mình sẽ sinh một bầy con, đặt tên là Đại Ngai Cẩu, Nhị Ngai Cẩu, Tam Ngai Cẩu..."
Yến Tử bật cười:
"Thế chẳng hóa ra một ổ chó con à?"
Tôi ha hả cười lớn, nhìn Yến Tử trong đêm đen mà thấy chị đẹp lạ lùng. Tôi chìm đắm trong niềm hạnh phúc tột cùng, bởi ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã thầm thương chị, chưa bao giờ dám nghĩ có ngày chị sẽ thành vợ mình.
Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện về tương lai, bất ngờ chân tôi vấp phải vật gì đó ngã nhào. Gượng dậy nhìn kỹ, hóa ra dưới đất là một xác chết.
Đang lúc kinh hãi, tôi nghe thấy tiếng Yến Tử thốt lên đầy sợ hãi:
"Trời ạ, ở đây có nhiều xác chết quá."
Tôi nhìn sang phía chị, dưới ánh sao mờ ảo, mặt đất nằm la liệt những tử thi vẹo vọ, kẻ tay không, người nắm chặt súng trường, kẻ mất tay, người lìa đầu. Tôi chẳng thể nhìn rõ quân phục của họ màu gì, nhưng nhìn vũ khí thì rõ ràng đây là binh lính Trung Quốc.
Yến Tử thầm thì:
"Bọn Nhật đã đi ngang qua đây rồi."
Đêm đó, chúng tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối. Lúc trời hửng sáng, cả hai vượt qua ngọn núi và thấy ánh đèn từ những túp lều phía xa vọng lại, kèm theo tiếng nói cười ồn ã. Vì khoảng cách quá xa nên chẳng rõ họ đang bàn bạc chuyện gì.
Tôi bảo Yến Tử:
"Chị đợi ở đây, để tôi lên phía trước thám thính tình hình."
Yến Tử gạt đi:
"Để tôi đi, anh cứ ở đây đợi."
Tôi nói:
"Tôi là đàn ông của chị, cứ để tôi đi."
Yến Tử kiên quyết:
"Tôi kinh nghiệm đầy mình, vẫn là nên để tôi đi thì hơn."
Tôi không xoay chuyển được chị, đành dặn dò:
"Nhất định phải cẩn thận."
Yến Tử lặng lẽ lẻn về phía trước, dáng hình chị tan biến trong màn đêm. Tôi buộc hai con ngựa lại với nhau, mắt dán chặt vào ánh lửa phương xa. Ngựa thong dong gặm cỏ, còn tôi thì lòng như lửa đốt chờ chị quay về. Theo lời người chăn ngựa, ngựa không được ăn cỏ còn vương sương mưa, nếu không sẽ bị chướng bụng. Nhưng ngựa đã chạy cả ngày trời, đói lả cả đi, tôi cũng chẳng quản nổi nhiều thế nữa.
Chẳng bao lâu sau, Yến Tử đã quay lại, chị nói:
"Đó là một nhóm quân Nhật, nói năng líu lô chẳng hiểu gì, chúng đang ăn cơm, có vẻ ăn xong sẽ khởi hành ngay."
Chúng tôi lên ngựa, vòng một quãng xa né tránh doanh trại quân Nhật rồi chạy thục mạng dọc theo con lộ. Trời sáng hẳn, tốc độ ngựa chậm lại, tiếng thở hồng hộc đầy mệt nhọc, chẳng rõ là do quá sức hay vì đám cỏ ướt sương đêm.
Giữa lúc loay hoay không biết tính sao, từ phía sườn núi thoai thoải, chúng tôi thấy một người chăn ngựa đang vung roi lùa đàn ngựa chạy như mây trôi trên thảm cỏ ướt. Chúng tôi lân la tiếp cận, vừa nói vừa ra bộ mãi lão mới hiểu ý, dùng hai con trong đàn đổi lấy đôi ngựa kiệt sức của chúng tôi.
Tôi báo với lão:
"Phía sau có đám mã tặc mang súng đấy, mau rời khỏi đây, lùa ngựa vào núi sâu mà lánh."
Tôi làm động tác bắn súng rồi giả vờ ngã ngửa ra sau. Tôi không thể nói "người Nhật" vì lão chẳng hiểu Nhật là ai, cứ gọi là mã tặc thì lão khắc rõ.
Người chăn ngựa vội vã lùa đàn đi xa, chúng tôi cưỡi ngựa mới tiếp tục lên đường.
Khi hoàng hôn sắp buông, trong màn sương mờ ảo hiện ra một tòa thành, chính là Đa Luân.
Thành Đa Luân vốn là thành đất, tường thành đắp bằng đất sét đen vàng pha lẫn cỏ khô. Chúng tôi thúc ngựa phi thẳng qua cổng thành, vào đến bên trong mới thấy hai binh sĩ mặc quân phục vải xanh đuổi theo tra hỏi. Phòng bị ở Đa Luân lỏng lẻo đến thế, nếu quân Nhật kéo tới, chỉ cần một đợt xung phong là chiếm trọn tòa thành.
Tôi trình bày mục đích, báo rằng quân Nhật không còn xa nữa.
Hai tên lính gác soi xét tôi và Yến Tử một lượt, rồi một người ở lại đóng cổng, người kia dẫn chúng tôi vào trung tâm.
Giữa thành Đa Luân có một nhà thờ Thiên Chúa, bộ chỉ huy thủ thành đóng quân tại đó. Trong tổng hành dinh, tôi gặp một trung niên dáng người đậm chắc, thuộc cấp đều gọi lão là Lữ trưởng.
Tôi báo cáo mọi chuyện tai nghe mắt thấy dọc đường, Lữ trưởng liền cho gọi một gã để ria mép tới hỏi:
"Tiểu đoàn 2 có đưa thư tới không?"
Gã kia đáp:
"Hôm nay không thấy tăm hơi."
Lữ trưởng gắt:
"Tiểu đoàn 2 ngày nào cũng phái người đưa thư, sao hôm nay lại bặt tin?"
Gã ria mép cam đoan:
"Quả thực ngày nào cũng có thư, duy chỉ hôm nay là không. Để mai tôi sai người đi hỏi xem sao."
Lữ trưởng mắng:
"Hỏi cái con khỉ, lũ chúng nó xuống chầu Diêm Vương cả rồi. Lập tức bố trí canh phòng, tối nay thay phiên nhau mà ngủ, quân Nhật mò đến tận mũi rồi đấy."
Gã ria mép lui ra, bên ngoài nhà thờ vang lên tiếng súng ống va chạm lách cách. Tôi thầm nghĩ, có lẽ những xác chết chúng tôi thấy trong núi chính là người của Tiểu đoàn 2, họ đã bị quân Nhật phục kích.
Ròng rã chạy suốt một ngày một đêm, cơn buồn ngủ ập tới, tôi cùng Yến Tử rời nhà thờ để về căn hộ mà Lữ trưởng đã sắp xếp. Chợt ngoái lại, tôi thấy dưới góc tường ngoài nhà thờ có hai gã hành khất đang ngồi xổm, thần sắc lấm lét, trông chẳng giống hạng lương thiện.
Kẻ ăn mày thường chỉ đi xin vào ban ngày, đêm hôm khuya khoắt thế này mà còn chực chờ ngoài bộ chỉ huy thì hẳn phải có mưu đồ. Tôi định báo cho người lính dẫn đường về những chuyện gặp đám Cái Bang dọc đường, chuyện có kẻ móc nối với quân Nhật, nhưng lưỡng lự hồi lâu lại thôi. Dù sao Cái Bang cũng là của Sư tổ, tôi sợ nói ra sẽ làm liên lụy đến người.
Đêm đó tôi ngủ say như chết, đến tận trưa hôm sau mới tỉnh. Bước ra đường, đập vào mắt tôi là cảnh tượng dân chúng hớn hở, từng đoàn người cầm cờ hiệu, hô vang khẩu hiệu trong niềm phấn khởi tột độ. Tôi hỏi một người qua đường có chuyện gì, người đó cho biết sáng sớm nay, một toán quân Nhật cưỡi ngựa kéo đến ngoài thành, thấy quân ta không phòng bị liền xông thẳng vào cổng định đánh úp nhà thờ. Ai ngờ quân ta đã mật phục sẵn hai bên đường, quân Nhật vừa tới liền bị đánh cho tối tăm mặt mũi. Kết cục, hơn nửa số quân Nhật bỏ xác tại chỗ, chỉ một nhúm tàn quân tháo chạy thành công.
Nghe tin thắng trận, tôi vội chạy vào báo cho Yến Tử. Chị cũng vui mừng khôn xiết, bảo:
"Suốt quãng đường này chỉ toàn thấy quân Nhật ức hiếp dân ta, nay mới được tận mắt thấy quân ta nện cho chúng một trận ra trò, chẳng còn tin gì vui hơn thế."
Chúng tôi dạo bước ra phố, đoàn diễu hành vừa đi qua, hỏi thăm xem xác quân Nhật ở đâu thì có người bảo đã dùng xe ngựa chở ra ngoài thành đào hố chôn sạch rồi.
Chẳng rõ trong số xác chết ấy có lão Đồng và Ba Quái không?
Chúng tôi tìm đến nhà thờ Thiên Chúa, nơi đây đã đông nghẹt người. Từ các vị hương thân địa chủ áo dài chỉnh tề, đại diện thương hội tóc chải ngược, cho đến các sĩ quan quân đội vây kín lấy nhà thờ, ai nấy đều hớn hở, mặt mày rạng rỡ.
Chen không lọt vào trong, chúng tôi định bỏ đi thì nghe thấy tiếng người bên cạnh thầm thì:
"Lữ trưởng thân chinh dẫn nghĩa quân đánh lui giặc Nhật, bảo vệ toàn thành Đa Luân bình an, quả là công đức vô lượng." Một kẻ khác phụ họa: "Chính thế, chính thế."
Giọng nói của người đầu tiên nghe rất quen, tôi và Yến Tử cùng quay đầu lại, chợt thấy Sư tổ đang đứng cách đó chỉ vài mét. Người vận bộ đồ lụa đen, đeo kính râm màu trà, trông hệt như một lão phú hộ, cánh tay còn treo một chiếc gậy văn minh. Sư tổ cũng nhìn thấy chúng tôi, nhưng nửa khuôn mặt sau lớp kính râm chẳng lộ chút ngạc nhiên nào.
Vị Sư tổ mà chúng tôi nhọc lòng tìm kiếm bấy lâu nay lại đang đứng ngay trước mặt, chỉ cách vài bước chân. Lòng tôi dâng trào sóng cuộn, bước tới một bước, cố kìm nén dòng lệ chực trào, chỉ muốn ôm chầm lấy người mà khóc một trận. Yến Tử bên cạnh liền kéo tay tôi lại, nói khẽ:
"Mau về thôi, đừng xem náo nhiệt nữa, hôm nay còn chưa chăn cừu đâu."
Rời khỏi nhà thờ một quãng xa, Yến Tử mới bảo:
"Người này không phải Sư tổ, nhưng sao trên đời lại có kẻ giống người đến thế?"
Tôi nói:
"Dù xa cách đã lâu nhưng Sư tổ chắc chắn phải nhận ra hai đứa mình. Nếu không phải người thì gã này là ai?"
Yến Tử đoán:
"Liệu có phải là Mạch bang chủ?"
Tôi phân vân:
"Lão mặc đồ lụa, chẳng giống người Cái Bang chút nào."
Yến Tử khẳng định:
"Lão càng mặc không giống Cái Bang thì càng chứng tỏ có vấn đề. Phải theo sát lão xem danh tính thực sự là gì."
Chúng tôi phục sẵn ngoài nhà thờ chừng nửa canh giờ, cuối cùng đám đông cũng tản dần. Kẻ mặc đồ lụa có tướng mạo giống Sư tổ ấy đi khập khiễng một chân, dáng đi y hệt người. Lão rời khỏi nhà thờ, hướng về phía Nam Quan. Ngang qua ngã tư có mấy tên ăn mày cầm bát vỡ hành khất, vừa thấy lão đi tới liền vội vàng cúi đầu cung kính nhường đường.
Đúng thật là Mạch bang chủ của Cái Bang rồi, nhưng lão không phải Sư tổ của tôi.
Hôm đó, chúng tôi giữ khoảng cách bám theo gã Mạch thọt này. Trên phố người ăn mừng thắng trận đông như trẩy hội nên lão không hề hay biết bị theo đuôi.
Lão đi đến phố Nam rồi rẽ vào một đại viện. Chúng tôi lảng vảng ngoài cổng định đột nhập thì một con chó dữ từ trong lao ra, nhe răng trợn mắt chực vồ tới. Tôi cúi người, nhặt mấy viên đá dưới đất ném mạnh, con chó rên "ư ử" rồi cụp đuôi lủi mất.
Chó vừa đi thì người lại tới. Trong viện xuất hiện mấy gã ác cái, mặt mày hung tợn chửi bới đuổi đi. Tôi định cự lại thì Yến Tử kéo đi, chị bảo:
"Sư tổ còn chưa thấy tăm hơi, anh còn tâm trí đâu mà cãi lộn với phường ấy?"
Tôi hậm hực:
"Một lũ ăn mày thối tha mà cũng dám làm càn trên đầu tôi à."
Yến Tử trầm giọng:
"Chúng ta tiếp xúc với Cái Bang bấy lâu nay, anh vẫn chưa nhìn ra sao? Cái Bang là bang phái tà ác nhất thiên hạ, chuyện tàn thiên hại lý nào chúng cũng dám làm. Người đời cứ ngỡ chúng đáng thương, thực chất vẻ tội nghiệp đó đều là giả tạo cả."
Tôi phản bác:
"Thì Cái Bang vẫn có những người tốt như Sư tổ và hai vị Hắc Bạch khất cái đấy thôi."
Yến Tử nói:
"Cái Bang tất nhiên có người tốt, nhưng hiếm hoi lắm. Tôi luôn thấy cái bang này vô cùng quái gở và hiểm độc, vừa lừa lọc vừa tàn nhẫn. Giang hồ có bang phái nào như thế không? Giang Tương phái có thế không? Nhóm trộm đạo có thế không? Có bang phái nào lại đi làm cái trò 'thải sinh chiết cát' cực kỳ tà ác kia chứ?"
Đã xác định được đại viện của Mạch bang chủ, đêm đó chúng tôi chuẩn bị đột nhập để thám thính thực hư.
Biết nhà lão nuôi chó dữ, tôi chuẩn bị sẵn một khúc xương tẩm rượu thật lâu, giấu trong ngực rồi tìm đến tường rào nhà lão.
Cổng nhà Mạch bang chủ đóng then cài chặt, tường cao vòi vọi, nhưng tường cao đến mấy cũng chẳng làm khó được kẻ ăn cơm nghề "Lão Vinh". Nghề của bọn tôi, việc luyện tập leo tường vào nhà là chuyện cơm bữa.
Tôi nhặt hòn đá ném qua tường, nghe tiếng móng vuốt cào đất và tiếng thở phì phò nặng nề bên trong. Biết con chó đang nghi hoặc ngửi hòn đá, tôi liền rút khúc xương tẩm rượu thơm lừng ném vào.
Bên trong vang lên tiếng ngoạm thức ăn, nó nuốt chửng rất nhanh, nghe rõ tiếng lưỡi chó liếm láp thèm thuồng. Sau đó, con vật phát ra mấy tiếng rên rỉ kỳ quái rồi im bặt.
Tôi rút chiếc sào mềm chuẩn bị sẵn bên hông, chỉ vài nhịp đã leo lên bờ tường, rồi thả một đầu dây xuống cho Yến Tử trèo lên.
Nấp trên tường nhìn xuống, đại viện của Mạch bang chủ rộng mênh mông, còn bề thế hơn cả dinh cơ của tay phú hộ giàu nhất Xích Phong mà tôi từng thấy. Trong viện, có dãy nhà cũ kỹ rêu phong phủ kín mái, lại có những gian nhà mới tinh còn nồng mùi gạch ướt.
Góc Tây Bắc có ánh đèn mờ ảo, bóng người in trên cửa sổ không ngừng đi qua đi lại. Bóng người hiện lên thì góc tường chìm vào bóng tối, bóng người rời đi thì ánh đèn lại hắt ra.
Chúng tôi tuột xuống, lặng lẽ tiếp cận dưới khung cửa sổ đó. Cửa sổ thời ấy dán bằng giấy bản dẻo dai, dán chặt vào khung bằng hồ, có thể dùng được vài năm mới mục nát.
Tôi nín thở lắng nghe. Bên trong là tiếng Mạch bang chủ đang đối đáp với một kẻ nói năng không rành mạch. Tôi chẳng hiểu lấy một câu họ nói, nhưng lại biết rõ đó là ngôn ngữ gì. Đêm đó trên thảo nguyên ngoài thành Xích Phong, lúc tôi và Nguyên Mộc nấp sau căn lều nhỏ, cũng đã nghe thấy thứ tiếng này. Đó là thứ ngôn ngữ có nhịp độ rất nhanh, mỗi câu thốt ra đều lạo xạo như sỏi đá lăn xuống triền núi, vừa vang vừa dồn dập.
Tôi học theo cách dân giang hồ, dùng ngón tay út thấm nước bọt làm ướt giấy cửa rồi khẽ chọc một lỗ nhỏ. Ghé mắt nhìn vào, tôi thấy một gã lùn béo đang ngồi cho chình ình trên ghế thái sư, duỗi dài hai chân vẻ lười nhác, còn Mạch bang chủ thì cứ đi tới đi lui, mồ hôi vã ra đầy trán, lão liên tục dùng mu bàn tay quẹt sạch.
Tôi định nghe tiếp xem họ có đổi sang thứ tiếng mà tôi hiểu được không, nhưng chợt thấy bóng Mạch bang chủ biến mất trong phòng. Đang dướn cổ tìm kiếm thì Yến Tử bất thần kéo mạnh tôi xuống, cả hai cùng ngã nhào trên đất. Ngay lúc đó, một mũi tên xé gió lao tới cắm phập vào khung cửa, đuôi tên còn rung bần bật, phát ra tiếng "u u".
Mũi tên vừa dứt, trong viện im ắng lạ thường. Đêm đen như mực, một con muỗi cứ vo ve bên tai rồi đậu lên má tôi. Biết nó đang hớn hở hút máu mình nhưng tôi chẳng dám động đậy.
Mũi tên thứ hai không bắn ra nữa. Vừa nãy tôi ghé sát cửa sổ, bóng tôi in lên giấy đã thành tấm bia sống, còn giờ nằm rạp dưới đất, tay thiện xạ kia đã mất mục tiêu.
Tên bắn từ hướng nào? Ai bắn? Kẻ đó nấp ở đâu? Chúng tôi hoàn toàn mù tịt.
Đây là thành Đa Luân, ban ngày vừa nổ ra chiến sự, ban đêm binh lính tuần tra dày đặc. Mạch bang chủ dù có móc nối với quân Nhật chắc chắn phải có súng, nhưng lão không dám nổ súng vì tiếng nổ sẽ đánh động quân tuần tra, làm lộ thân phận thật sự.
Chúng không dám nổ súng mà chỉ dám dùng cung tên, vậy là chúng tôi vẫn còn đường sống.
Yến Tử đẩy khẽ vào người tôi, chỉ tay về phía bên phải, tôi bắt đầu bò đi. Sân nhà Mạch bang chủ lát gạch xanh, tường cũng xây bằng gạch xanh, chúng tôi lần theo vách đá vòng qua góc khuất rồi mới dám từ từ đứng dậy quan sát.
Xung quanh tĩnh mịch, chỉ có tiếng lá cây xào xạc trong gió. Đợi mãi một hồi, tưởng như đối phương đã rời đi và hiểm nguy đã qua, Yến Tử chợt vỗ vai tôi, chỉ về phía trước.
Trên nóc nhà hiện ra một bóng đen đang lăm lăm cung tên, rón rén di chuyển. Dưới nền trời xanh đen, hình ảnh gã mờ ảo nhưng vẫn nhận ra được. Chắc do không thấy chúng tôi động tĩnh gì, gã mới leo lên mái nhà để tìm vị trí. Mũi tên vừa nãy chắc chắn là do gã bắn. Tên bay song song với mặt đất nên tôi cứ ngỡ gã nấp ở góc khuất nào đó dưới sân, hóa ra lại ở trên cao. Kinh nghiệm giang hồ của Yến Tử quả thực hơn tôi nhiều bậc.
Nơi chúng tôi nấp có một giá chậu rửa bằng gỗ, bên trên đặt một cái chậu đồng. Yến Tử nhẹ nhàng bưng chậu đồng đặt xuống đất, rồi cầm chiếc giá gỗ quăng mạnh ra xa. Chậu đồng rơi sẽ gây tiếng động lớn, còn giá gỗ va xuống đất âm thanh sẽ trầm đục, ít gây chú ý hơn.
Giá gỗ vừa rơi, gã trên nóc nhà lập tức bắn ra một tiễn. Chớp lấy khoảnh khắc gã chưa kịp lắp mũi tên thứ hai, phi tiêu của Yến Tử đã xé gió lao đi. Một tiếng "A!" thảm thiết vang lên, gã kia lộn nhào từ trên mái xuống đất.
Phóng tiêu xong, Yến Tử khẽ giục: "Mau đi thôi!". Chúng tôi tháo sào mềm bên hông, vung một nhịp chuẩn xác mắc vào bờ tường rồi phi thân leo lên.
Thế nhưng, vừa leo đến đỉnh tường, một mũi tên từ dưới sân lại lao lên, sượt qua gò má tôi đau rát. Chẳng kịp sờ xem có chảy máu không, tôi vội vã lộn người nhảy xuống bên ngoài đại viện.
Cổng nhà Mạch bang chủ bật mở, một đám người lăm lăm đao gậy ùa ra. Chúng tôi cắm đầu chạy phía trước, chúng lầm lũi đuổi sát phía sau không một tiếng động. Cách đó một con phố có tiếng gõ mõ báo canh, thứ mõ ấy gọi là "Báo Quân Tri", đêm đến mấy canh thì gõ bấy nhiêu tiếng.
Chúng tôi chạy về phía người gõ mõ, hy vọng đám Cái Bang sẽ chùn bước, nào ngờ chúng chẳng hề sợ hãi. Người gõ mõ kinh hoàng nép vào ven đường, đám người Cái Bang cứ thế cúi đầu đuổi riết lấy chúng tôi.
Trong cơn hốt hoảng, chúng tôi quẹo qua hai con phố thì lại gặp đám gọi hồn. Thời đó y học lạc hậu, trẻ nhỏ đêm hôm kinh sợ, thầy lang giang hồ hay bảo bị ma bắt hồn, phải gọi hồn về lúc nửa đêm. Thường sẽ có hai người, một người bưng sàng, một người kẹp con gà trống dưới nách. Họ đến ngã tư, bốc ít đất bỏ vào sàng rồi vừa đi vừa rắc, kẻ đi sau vừa đánh gà vừa gọi tên đứa trẻ.
Lúc chạy ngang qua hai người gọi hồn, tôi nghe kẻ đi sau gào lên:
"Ngai Cẩu ơi, về đi thôi! Ngai Cẩu ơi, về đi thôi!"
Nghe tiếng gọi, tôi giật bắn mình, tưởng như lão đang gọi đúng tên tôi. Nhưng rồi sực nhớ ra "Ngai Cẩu" là cái tên tục cực kỳ phổ biến ở thôn quê thời ấy, người tên thế có đến hàng vạn.
Đoàn gọi hồn vừa qua, tôi và Yến Tử liền lẩn vào sau lưng kẻ đánh gà, giả bộ như đang cùng tham gia. Khi gọi hồn, người ta thường bóp nghẹt cổ gà nên nó chẳng thể phát ra tiếng kêu.
Đám Cái Bang hùng hục chạy lướt qua chúng tôi, tiếng thở như trâu hồng hộc, mắt chỉ đăm đăm nhìn phía trước. Chúng chẳng thể ngờ được hai kẻ đang tìm lại ngang nhiên đi ngược chiều ngay dưới mũi mình.
Thấy chúng đã đi xa, lòng chúng tôi mừng rỡ, lập tức quay đầu chạy theo hướng ngược lại. Thế nhưng mới chạy được vài chục mét, đám Cái Bang đã phát hiện ra, chúng hét lớn:
"Ở phía sau! Chúng ở phía sau!"
Trong đêm thanh vắng, tiếng bước chân vô cùng rõ rệt, bọn Cái Bang cũng là dân giang hồ nên tai thính vô cùng.
Chúng tôi rẽ vào một con hẻm nhỏ hòng cắt đuôi, nào ngờ chạy đến cuối đường mới nhận ra đây là một ngõ cụt. Hai bên là tường nhà cao đến hai ba trượng, sào mềm chẳng thể với tới.
Cuối ngõ cụt có một căn nhà nhỏ, cửa gỗ đối diện ngay lối vào. Giữa lúc tiến thoái lưỡng nan, chúng tôi đành liều mình lao đại vào bên trong.
Vào đến nơi mới rõ, đây là một tiệm hớt tóc.