Tổ Bịp
- 5825 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 42. Truyền kỳ về Hắc Bạch khất cái
Tôi nghe thấy tiếng bước chân bọn họ rảo một vòng quanh hậu điện, bảo rằng mọi thứ vẫn ổn rồi mới rời đi. Có lẽ đó là đám hòa thượng tuần tra, vậy còn băng Thảo Nguyên đã đi đâu? Đám hòa thượng này chắc chắn không phải đối thủ của băng Thảo Nguyên, họ tuyệt đối chẳng thể đuổi được lũ người đó đi.
Có lẽ, băng Thảo Nguyên thấy có người phát hiện nên đã chủ động rút lui. Kẻ trộm thì chung quy cũng chỉ là kẻ trộm, không phải cường đạo, chúng chẳng dại gì mà ra mặt cướp bóc trắng trợn.
Chờ đám hòa thượng tuần tra đi khuất, chúng tôi mới lặng lẽ đẩy tấm ván gỗ, leo lại lên mặt đất. Ánh trăng xuyên qua những ô cửa sổ chạm khắc, rọi xuống nền điện, mang lại cho tôi cảm giác được sống thật tốt đẹp biết bao.
Sau đó, chúng tôi quăng dây mềm, leo lên bờ tường rồi nhảy ra khỏi chùa.
Dưới dốc bên ngoài chùa, Đào Lệ và Nguyên Mộc đang lo lắng chờ đợi. Vừa thấy chúng tôi tới, Đào Lệ liền bảo mọi người cùng lên đường hướng về huyện lỵ Xích Phong.
Đào Lệ rỉ tai tôi, nói rằng ở Xích Phong có một tiệm tơ lụa, chúng tôi phải giao chiếc mũ đồng đến đó ngay trong đêm để tránh đêm dài lắm mộng. Tiệm tơ lụa này sẽ chịu trách nhiệm chuyển mũ đồng tới Nam Kinh an toàn. Chỉ cần không rơi vào tay người Nhật hay những kẻ giang hồ nuôi tâm địa bất chính, chiếc mũ đồng sẽ được bảo toàn.
Trước đó tôi từng tìm tới tiệm thuốc bắc, nhưng đó lại là hang ổ của đặc vụ Nhật, xem ra tiệm tơ lụa này mới là điểm liên lạc của phía Đào Lệ.
Chúng tôi hối hả tiến về phía Xích Phong. Mặt trăng đã ẩn sau những tầng mây, bầu trời đầy sao lấp lánh không yên, chợt một mùi khét lẹt theo gió đêm xộc tới. Càng đi tới, mùi khét ấy càng nồng nặc.
Thật kỳ quái, sao lại có mùi này? Những đêm trước đó, tôi ra vào Xích Phong tự như đi chợ, chưa bao giờ ngửi thấy mùi này. Trong mấy ngày tôi vắng mặt, huyện Xích Phong rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?
Trời sáng dần, cảnh vật phương xa hiện ra rõ nét như nổi lên từ mặt biển. Chúng tôi tiếp tục thúc ngựa phi nhanh, đột nhiên, Đào Lệ kêu lên: "Nhìn kìa! Nhìn kìa!"
Tôi nhìn theo hướng tay cô ấy chỉ, trên tường thành Xích Phong, một lá cờ mặt trời đang ngạo nghễ bay trước gió.
Nguyên Mộc bảo y đã sống ở đây lâu nên thông thuộc đường sá, để y vào thành thám thính hư thực.
Đào Lệ dặn dò: "Anh tới tiệm tơ lụa xem ông chủ còn ở đó không. Nếu có, hãy báo với ông ấy rằng Dạ Oanh đang ở ngoài thành. Hoàng hôn chúng ta gặp nhau tại đây."
Nguyên Mộc đi bộ vào huyện thành, còn chúng tôi thúc ngựa rời đi, chạy miết về hướng Bắc. Trên thảo nguyên phía Bắc, những đàn cừu và ngựa vẫn thong dong đi lại, người du mục quất roi vun vút, tiếng roi giòn giã vang xa khắp cánh đồng bao la. Thỉnh thoảng lại vút lên một điệu trường điệu, tiếng hát kéo dài, trầm bổng uyển chuyển, nghe ra có chút u buồn man mác. Họ chẳng hề hay biết, vào lúc này, cờ trên thành Xích Phong đã đổi chủ.
Chúng tôi dừng chân trên một gò núi có mấy cây sầu đâu lùn, đào một hố sâu, dùng áo bọc chiếc mũ đồng lại rồi chôn xuống dưới. Để dễ nhận biết, Đào Lệ còn buộc một dải vải đỏ lên thân cây sầu đâu bên cạnh.
Tất cả ngồi trên gò núi, chờ đợi hoàng hôn buông xuống.
Khi ráng chiều buông, chúng tôi trở lại điểm hẹn với Nguyên Mộc. Y đã đứng đó chờ sẵn, đi cùng còn có một người đàn ông trung niên râu quai nón lởm chởm.
Đào Lệ hỏi người đàn ông: "May một chiếc áo bông lụa cần bao nhiêu vải?"
Người đàn ông đáp: "Đàn ông năm thước, đàn bà bốn thước."
Đào Lệ lại hỏi: "Tôi chỉ cần hai thước thôi."
Người đàn ông nói: "Hai thước là đồ cho con nít."
Đào Lệ lập tức lao tới, nắm chặt tay người nọ hỏi: "Quản gia, trong thành tình hình thế nào?"
Người đàn ông nói: "Dạ Oanh, cô vất vả rồi. Hai ngày trước, người Nhật đã chiếm được Xích Phong. Quân phòng thủ dù kịch chiến một trận nhưng vì lực lượng quá chênh lệch nên không chống đỡ nổi. Bọn Nhật không chỉ điều tới hàng ngàn quân mà còn có cả xe tăng và máy bay, ném bom bắn phá điên cuồng. Người của tiệm tơ lụa đều đã rút hết, chỉ còn mình tôi ở lại chờ cô. Sáng nay, ngay lúc tôi cũng định rời đi thì gặp được người anh em này."
Người đàn ông chỉ tay về phía Nguyên Mộc.
Đào Lệ nói: "Mũ đồng tìm thấy rồi."
Người đàn ông đáp: "Cấp trên có lệnh, sau khi tìm được mũ đồng phải lập tức chuyển tới Bắc Bình, giao cho trạm Bắc Bình."
Đào Lệ hỏi: "Đường này đi thế nào?"
Người đàn ông thở dài: "Người Nhật không chỉ chiếm Xích Phong mà là chiếm cả vùng Nhiệt Hà. Khi bọn chúng kéo đến, Chủ tịch tỉnh Nhiệt Hà là Thang Ngọc Lân đã bỏ chạy mà không bắn một phát súng nào. Bọn Nhật đã chiếm được thủ phủ Thừa Đức. Đơn vị thủ thành Xích Phong là quân của Tôn Điện Anh, dù kháng cự ngoan cường nhưng cuối cùng vẫn thất thủ. Chúng ta muốn vận chuyển mũ đồng tới Bắc Bình, dọc đường này dù hiểm nguy chồng chất nhưng tôi đã có chuẩn bị."
Người nọ lấy từ sau lưng ra một chiếc hòm mây lớn, bên trong có vách ngăn bằng gỗ có thể giấu đồ bí mật. Dù nhìn từ ngoài hay trong đều không thấy dấu vết cơ quan. Gã nói tiếp: "Phía Nam Xích Phong có một đội lạc đà, chúng ta chỉ cần giao hòm mây cho họ, họ sẽ kẹp vào giữa hàng hóa, vận chuyển bình yên tới Bắc Bình."
Đêm xuống, Đào Lệ và người đàn ông đào mũ đồng từ dưới gốc cây sầu đâu lên để vận chuyển về Nam. Tôi vội vàng hỏi với theo: "Nhà lao Xích Phong thế nào rồi? Đội trưởng cảnh sát đâu?"
Người đàn ông đáp: "Sau khi Nhật chiếm thành, lính gác ngục tản mát bỏ chạy cả, tù nhân cũng mạnh ai nấy thoát. Tên đội trưởng cảnh sát đã sớm cao chạy xa bay khi quân Nhật tấn công rồi."
Tôi thở dốc hỏi tiếp: "Nhà tên đội trưởng đó có rất nhiều báu vật, ông có biết không? Đống báu vật đó giờ ra sao?"
Người nọ trả lời: "Chuyện báu vật nhà hắn thì cả thành này ai chẳng biết. Lúc quân Nhật sắp vào, gã đội trưởng đã chất đầy bảo vật lên xe rồi tháo chạy. Nhà gã bị vét sạch sành sanh, những gì còn sót lại cũng bị dân tình xông vào cướp hết rồi."
Tôi rùng mình một cái, hỏi dồn: "Ông có biết gã trốn đi đâu không?"
Gã đáp: "Binh hoang mã loạn, ai mà biết gã đi đâu? Hơn nữa thảo nguyên này mênh mông như vậy, có muốn tìm cũng chẳng thấy."
Trong lòng tôi tràn ngập sự hối tiếc khôn cùng. Viên đại kim cương của tôi, viên bảo ngọc mà phái Tấn Bắc đã phải đổi bằng máu và mạng sống, cứ thế mà mất dấu sao.
Đào Lệ và người đàn ông đi về hướng Nam, Nguyên Mộc quay lại Xích Phong. Tôi và Yến Tử tiếp tục hành trình tìm kiếm lão hành khất.
Lúc chia tay, Đào Lệ nói: "Sau này nếu hai người có gặp chuyện gì không như ý, cứ đến Nam Kinh tìm tôi."
Bóng dáng họ xa dần rồi biến mất nơi đường chân trời. Tôi và Yến Tử đứng giữa thảo nguyên trống trải, cô độc lẻ loi, một nỗi cô đơn to lớn bủa vây lấy trái tim chúng tôi.
Chúng tôi vẫn đau đáu về viên đại kim cương, đó là bảo vật ngưng kết từ máu xương của anh em phái Tấn Bắc, dù thế nào cũng không được để rơi vào tay gã đội trưởng cảnh sát kia. Phía Nam Xích Phong chỉ có một con đường duy nhất, chúng tôi men theo đó mà đuổi theo.
Hai con ngựa duy nhất đã nhường cho Đào Lệ và người đàn ông, Nguyên Mộc lại vào huyện thành, tôi và Yến Tử đành cuốc bộ về hướng Nam.
Thảo nguyên rộng lớn mà quân Nhật lại ít, thế nên khi chiếm được Xích Phong, chúng không còn đủ quân để tuần tra càn quét khắp nơi. Suốt dọc đường chúng tôi không chạm mặt người Nhật nào.
Một ngày nọ, chúng tôi tới một nơi gọi là Phổ Gia Bảo. Nơi này có hàng ngàn hộ dân, kiến trúc nhà cửa đã mang đậm nét đặc trưng của người Hán: kết cấu gạch gỗ, cửa sổ quay về hướng Nam. Ở Phổ Gia Bảo có một tiệm ăn, chúng tôi bước vào định bụng dùng bữa.
Vừa gọi một đĩa bánh rán vừng và hai chiếc bánh nướng, chưa kịp động đũa thì thấy từ cửa bước vào hai gã hành khất. Hai gã cao thấp bằng nhau, béo gầy như một, dung mạo y hệt, chỉ khác là một gã da hơi đen, gã kia da hơi trắng. Gã hành khất đen dựng chiếc gậy đả cẩu vào cạnh bàn, nhìn chúng tôi rồi cất tiếng hát Liên Hoa Lạc:
"Nếm mùi đòn roi, chịu bao lời mắng,
Học được vài câu hắc thoại giang hồ;
Lời giang hồ, cửa miệng giang hồ,
Đi khắp thiên hạ, đâu cũng là anh em;
Nói chuyện anh em, luận bàn bằng hữu,
Tần Quỳnh năm xưa cũng phận khoái thủ;
Khoái thủ ngựa phi, trại Ngõa Cương,
Hô một tiếng, hào kiệt bốn phương quần tụ..."
Tôi và Yến Tử đưa mắt nhìn nhau, cảm thấy hai gã này không đơn giản. Vừa mở miệng đã hát được Liên Hoa Lạc thì tuyệt đối không phải kẻ ăn xin tầm thường. Trước đây ở Đại Đồng, Hổ Trảo khi kể về quy tắc giang hồ có nói rằng, trong giới hành khất có một Cái Bang, nếu gặp người biết hát Liên Hoa Lạc thì phải đặc biệt lưu tâm, đó chắc chắn là người có địa vị trong bang.
Gã hành khất đen vừa dứt lời, gã trắng tiếp tục bắt nhịp:
"Trước mắt một cặp nam thanh nữ tú,
Chàng trai tuấn tú tựa La Thành,
Cô gái kiều diễm như đóa hoa,
Ai thấy cũng đều nức nở khen.
Đĩa bánh trên bàn tròn lại tròn,
Ăn một năm, rồi lại một năm..."
Nghe bọn họ hát vậy, tôi và Yến Tử không khỏi vui vẻ trong lòng, mời họ ngồi xuống đối diện. Hai gã cũng chẳng khách sáo, ngồi phắt xuống rồi bốc bánh rán vừng ăn ngon lành. Khác với những kẻ ăn mày thông thường, tướng ăn của họ rất văn nhã, dùng ngón tay xé một miếng nhỏ, bỏ vào miệng rồi thong thả nhai. Trong ánh mắt họ cũng không có vẻ ti tiện hay sợ sệt thường thấy, trái lại là sự ung dung, tự tại.
Ăn xong một chiếc bánh, gã hành khất đen hỏi: "Hai vị định đi đâu?"
Tôi đáp: "Chúng tôi muốn đi về phía Nam."
Gã lắc đầu: "Phía Nam thì đừng đi, chúng tôi vừa từ đó tới đây. Quân Nhật lập chốt ở phía trước, kiểm tra người qua lại gắt gao lắm. Thấy người ngoài là chúng bắt lên xe tải, lôi vào mỏ than bắt đi đào hầm. Nhìn hai vị, chắc chắn không phải người địa phương rồi."
Tôi nói: "Tôi là người Nhạn Bắc, sao ông nhìn ra được?"
Gã đen cười: "Cách ăn mặc, diện mạo của hai vị, nhìn qua là biết ngay dân xứ khác."
Tôi tò mò hỏi: "Hai ông là người vùng nào? Sao lại đi làm hành khất?"
Gã trắng lên tiếng: "Anh em tôi là sinh đôi, sinh ra ở Thừa Đức. Nhà tôi gia sản bạc vạn, vợ con đề huề cả rồi, nhưng chúng tôi lại chỉ thích đi ăn xin, mỗi năm phải dành quá nửa thời gian để phiêu bạt giang hồ."
Tôi thấy lạ lùng, bèn hỏi: "Nhà cửa đàng hoàng, cớ sao lại thích đi ăn xin?"
Gã trắng đáp: "Huynh đệ không biết đó thôi, trong Cái Bang có một hạng người như chúng tôi, gọi là Nhã cái. Chúng tôi hành khất không vì tiền bạc, chẳng tham vật chất, chỉ cầu cái sự tiêu dao tự tại, lãng đãng khắp nơi."
Tôi vô cùng kinh ngạc: "Giang hồ thực sự có Cái Bang sao?"
Gã trắng khẳng định: "Tất nhiên là có chứ, Cái Bang thuộc về hạng 'đương tướng' trên giang hồ."
Tôi càng ngạc nhiên hơn. Năm đó sư phụ Lăng Quang Tổ từng nói, dân coi bói chúng tôi thuộc về hạng 'Tướng' trên giang hồ vì đa mưu túc trí, không ngờ Cái Bang cũng tự xưng là hạng 'đương tướng'. Chuyện này là thế nào?
Tôi bèn dùng hắc thoại giang hồ thử lòng: "Đều là người ăn cơm thiên hạ cả, tôi thuộc phái Giang Tướng."
Gã hành khất trắng lộ vẻ vui mừng, nói: "Đã là người mình thì tôi chẳng ngại nói thẳng. Từ xưa đến nay, các ngành nghề giang hồ chia làm Cân, Bì, Lý, Qua; những người làm bốn nghề này thống nhất gọi là Tướng phu. Xem bói, xem tướng, chiêm bốc gọi là Cân hành; chữa bệnh, bán thuốc, trị thương gọi là Bì hành; diễn xiếc ảo thuật gọi là Lý hành; mãi võ biểu diễn gọi là Qua hành. Còn Cái Bang chúng tôi hành động tự do trên giang hồ, tuy không thuộc môn phái nào nhưng phái nào cũng có tiếp xúc, vì thế cũng có thể coi là hạng 'đương tướng'."
Trước đây nghe sư phụ Lăng Quang Tổ nói, những người xem bói thường rất tự phụ, tự xưng là tể tướng giang hồ nên mới gọi là phái Giang Tướng. Hôm nay mới lần đầu nghe thấy kẻ ăn mày cũng tự gọi mình là 'đương tướng', mới thấy ngành nghề nào trên giang hồ cũng cho rằng mình là nhất, ngay cả những 'gã gọi hoa' cũng không ngoại lệ. 'Gọi hoa tử' là cách gọi miệt thị của người phương Bắc dành cho kẻ ăn xin.
Dùng bữa xong, chúng tôi cùng bước ra khỏi tiệm ăn. Ở đây chỉ có một con đường độc đạo chạy dọc Nam Bắc, hai bên là thảo nguyên bát ngát, điểm xuyết vài gian nhà và lều mông cổ. Tôi hỏi hai gã: "Hai ông định đi đâu?"
Họ đáp: "Bèo nước không rễ, hai vị đi đâu thì chúng tôi bồi tiếp tới đó."
Tôi nói: "Chúng tôi cũng chưa biết đi đâu, phía Nam không đi được, chắc chỉ còn cách đi tìm sư tổ."
Họ hỏi: "Sư tổ ở phương nào?"
Tôi đáp: "Tôi cũng không rõ, chỉ nghe nói ông cụ đang ở trên thảo nguyên, làm thủ lĩnh của Cái Bang."
Gã đen thốt lên: "A, vậy là Bang chủ rồi. Là Hoàng can tử hay Lam can tử?"
Tôi đưa mắt hỏi Yến Tử, cô ấy cũng nhìn tôi ngơ ngác, cả hai đều không hiểu gã đang nói gì. Tôi hỏi: "Thế nào là Hoàng can tử, thế nào là Lam can tử?"
Gã trắng không trả lời thẳng mà hỏi vặn lại: "Sư tổ không kể cho cậu nghe tổ sư gia của Cái Bang là ai sao?"
Tôi lắc đầu: "Chưa từng."
Gã trắng giải thích: "Hèn chi cậu không hiểu hành thoại của Cái Bang. Tổ sư gia của chúng tôi là Chu Nguyên Chương. Thuở nhỏ Chu Nguyên Chương từng làm hòa thượng, cũng từng đi ăn xin. Có năm, ông ấy sắp chết đói thì được hai lão hành khất cho cơm cứu sống. Sau này Chu Nguyên Chương vào Nam Kinh làm hoàng đế, sai người đi tìm khắp nơi, không ngờ lại tìm thấy thật. Chu Nguyên Chương muốn phong quan cho hai người, nhưng họ quen sống tự do nên không nhận; ông lại ban cho thật nhiều vàng bạc, họ bảo đời người chỉ cần ăn no mặc ấm là đủ, cần chi lắm tiền. Không giữ chân được hai người ở lại Nam Kinh, Chu Nguyên Chương đành tặng mỗi người một cây gậy chống, một cây buộc vải vàng, một cây buộc vải xanh, phong họ làm Bang chủ Cái Bang. Sau này, giới hành khất gọi Bang chủ là Hoàng can tử và Lam can tử để tưởng nhớ."
Yến Tử tò mò: "Vậy Hoàng can tử và Lam can tử khác nhau thế nào?"
Gã trắng đáp: "Hoàng can tử là Bang chủ của các dân tộc ngoài tộc Hán, còn Lam can tử là Bang chủ người Hán."
Tôi nói: "Sư tổ là người Đại Đồng, chắc chắn là Lam can tử rồi."
Gã trắng tiếp lời: "Hèn chi lâu nay nghe đồn trên thảo nguyên mới xuất hiện một vị Lam can tử rất có bản lĩnh, không ngờ lại chính là sư tổ của hai vị."
Tôi vội hỏi: "Các ông quen sư tổ tôi sao?"
Gã trắng xua tay: "Chúng tôi đào đâu ra phúc phận đó, chỉ là nghe danh tiếng lẫy lừng của cụ thôi."
Nghe vậy, tôi và Yến Tử đều cảm thấy hụt hẫng khôn tả. Thảo nguyên mênh mông ngàn dặm, biết đâu mà tìm sư tổ.
Chúng tôi đi về hướng Bắc, trời sập tối dần, nhìn ra bốn phía chỉ thấy một màu xám xịt, không một bóng người. Tôi lo lắng không yên, chẳng biết đêm nay tá túc ở đâu.
Hai gã hành khất thì chẳng có vẻ gì là vội vã. Họ rời khỏi mặt đường, đi vào bụi cỏ, rút dao găm ở thắt lưng ra cắt cỏ khô, gom lại thành đống rồi đào một vòng tròn xung quanh. Họ bảo: "Đêm nay ngủ ở đây."
Sau đó, bốn người chia nhau đi nhặt củi khô, chẳng mấy chốc đã chất thành một đống cao trên thảm cỏ. Gã trắng lấy diêm ra châm, ngọn lửa bùng lên sưởi ấm bóng đêm.
Nằm bên đống lửa ấm áp, nhìn bầu trời đầy sao, hai gã nói: "Đây chính là cuộc sống mà chúng tôi hằng mong ước, có bao nhiêu tiền cũng chẳng mua được."
Tôi hỏi: "Sao các ông lại tự gọi là Nhã cái?"
Gã trắng đáp: "Hành khất cũng chia làm nhiều loại, thường có Văn cái, Võ cái và Nhã cái."
Tôi tò mò: "Chia thế nào?"
Gã trắng giải thích: "Văn cái là những kẻ đàn hát thổi sáo để xin tiền, như những nghệ nhân kể chuyện đi khắp các làng bản; Võ cái là những kẻ mãi võ, diễn xiếc, xiếc rắn bên lề đường; còn Nhã cái chỉ đơn giản là những người yêu thích cuộc đời phiêu bạt này thôi."
Tôi nhớ lại những ngày ở gánh xiếc, bèn hỏi: "Vậy diễn xiếc thú có được xếp vào hạng hành khất không?"
Gã trắng lắc đầu: "Xiếc thú không tính. Hành khất dựa theo cách thức xin ăn mà chia làm bốn loại, không loại nào bao gồm xiếc thú cả."
Tôi thấy hứng thú hẳn lên: "Không ngờ nghề ăn xin cũng lắm kiến thức thế."
Gã trắng cười: "Nghề nào trên giang hồ chẳng lắm học vấn, cả đời học không hết đâu. Hành khất chia theo cách xin ăn làm bốn loại: Loại thứ nhất là bọn đi mây về gió, giang hồ gọi là Hưởng cái, hành tung bất định, chuyên dàn cảnh đụng chạm, bày bàn cờ thế, hát tuồng... đều thuộc loại này. Loại thứ hai là bọn bám trụ một chỗ, bịa ra đủ lý do để xin tiền, giang hồ gọi là 'Kề chết gia', lúc thì bảo nhà bị lũ lụt, lúc bảo không có tiền đi học, lúc lại kêu bị mất ví. Loại thứ ba là bọn đi dọc phố xin ăn, giang hồ gọi là 'Ăn cơm nguội'. Trong ba loại đầu, loại một là bán nghệ, loại hai là lừa đảo, loại ba mới là hành khất thực thụ. Còn loại thứ tư, đó là bọn chuyên làm trò giết người cướp của."
Tôi thấy thật khó tin, hành khất sao lại giết người cướp của, thế thì thành cường đạo mất rồi. Tôi định hỏi tiếp thì thấy phía xa có mấy con ngựa phi nhanh qua. Đêm hôm khuya khoắt thế này còn ai vội vàng lên đường?
Gã trắng nhận xét: "Thiên hạ đại loạn rồi, đêm tối vẫn có người hối hả chạy đường, nhưng dù là hạng người nào cũng chẳng làm khó hành khất đâu, vì hành khất đã là tầng lớp thấp hèn nhất xã hội rồi."
Gã nói tiếp: "Chính vì vậy, nhiều kẻ phạm pháp coi nghề hành khất là nơi lánh nạn. Gây án bên ngoài, sợ bị truy bắt nên cải trang thành ăn mày, đó chính là loại thứ tư. Loại này thực chất là giả hành khất. Lũ này gia nhập Cái Bang nhưng bản tính trộm cắp chẳng đổi, lừa thầy phản bạn, giết người cướp của, coi mạng người như cỏ rác. Sau này cậu gặp hạng này phải hết sức đề phòng."
Gã đen nãy giờ im lặng lắng nghe, lúc này mới xen vào: "Loại thứ tư này đáng ghê tởm nhất vẫn là trò Thải sinh chiết cát."
Yến Tử ngồi bật dậy hỏi: "Thải sinh chiết cát là gì?"
Gã đen thở dài: "Chuyện đó không nói thì hơn, không nói thì hơn."
Tôi định gặng hỏi thì từ xa lại vang lên tiếng vó ngựa dồn dập như mưa rào. Lần này có đến hơn mười người, mười con ngựa. Tầm mắt chúng tôi bị hút về hướng đó. Đêm nay bị làm sao thế này? Vừa có một nhóm đi qua, giờ lại thêm nhóm nữa?
Hơn mười kỵ sĩ phi thẳng về phía chúng tôi, dưới ánh trăng có thể thấy rõ những thanh trường đao sáng loáng trên tay họ. Gã đen kêu lên: "Hỏng rồi." Gã lột cái áo rách mướp của mình quẳng cho Yến Tử, bảo cô khoác lên người. Gã trắng hốt hai nắm bùn đất xoa lên mặt Yến Tử, rồi dặn: "Ngồi bệt xuống đất đừng cử động, cũng đừng nói gì cả."
Đám kỵ sĩ ập tới, ngựa phì phì hơi nóng, vây quanh đống lửa của chúng tôi. Họ mặc quân phục màu vàng, ánh lửa chập chờn rọi lên những khuôn mặt hung thần ác sát. Một tên nói một tràng xì xồ tôi không hiểu, tên khác quát lớn bằng giọng địa phương thuần túy: "Thái quân hỏi các người làm gì ở đây?" Gã này hóa ra là người vùng này.
Gã đen khúm núm đáp: "Bẩm ông, chúng con là kẻ đi xin ăn thôi ạ."
Tên xì xồ lại nói thêm một tràng, tên kia dịch lại: "Thái quân hỏi, có thấy nhóm người cưỡi ngựa nào vừa chạy qua đây không?"
Gã đen thưa: "Dạ không thấy ạ, chúng con ngồi đây sưởi lửa suốt."
Ba chúng tôi đều đứng, riêng Yến Tử ngồi, dùng cái áo rách trùm kín đầu và nửa thân trên. Một giọng xì xồ khác chỉ vào Yến Tử hỏi gì đó, tên dịch lại: "Đứa kia là thế nào?"
Gã đen cúi rạp người: "Dạ bẩm, đó là con trai con, nó bị sốt rét bao ngày nay, đứng còn chẳng vững, chắc cũng chẳng sống thêm được mấy ngày nữa đâu ạ."
Đám người xì xồ bàn bạc một hồi rồi thúc ngựa chạy biến theo hướng cũ. Chúng tôi lại ngồi xuống quanh đống lửa.
Tôi hỏi: "Mấy kẻ nói xì xồ đó là người Nhật sao?"
Gã đen gật đầu: "Chứ còn ai nữa! Ác ôn lắm, ở Thừa Đức chúng đốt giết cướp bóc, nhà tôi phải trốn chạy đến tận Bắc Bình. Thế sự đại loạn thật rồi."
Tôi thắc mắc: "Sao bọn Nhật lại ác thế? Bắc Bình có an toàn không?"
Gã đen nói: "Bắc Bình có quân đội 29 trấn giữ, tạm thời chưa sao. Chúng tôi đời đời sống trên thảo nguyên, không rời đi được. Thảo nguyên này là của chúng tôi, là đất tổ tiên để lại, chẳng phải của bọn Nhật."
Tôi lại hỏi: "Sao trong đám người đó lại có kẻ nói tiếng địa phương?"
Gã trắng tiếp lời: "Đó là bọn Hán gian, hoặc là Mông gian. Mấy hạng bán nước này còn độc ác hơn cả bọn Nhật, chúng làm tay sai cho giặc, chẳng khác gì loài bối trong đàn sói. Chúng đi đuổi theo mấy người ban nãy, hạng người bị chúng đuổi chắc chắn là người tốt rồi."
Tôi chìm vào suy tư. Đêm nay lần đầu thấy quân Nhật trang bị đầy đủ, lần đầu thấy bọn Hán gian cáo mượn oai hùm, thảo nguyên thực sự đổi thay rồi. Sau này phải tính sao? Tiếp tục tìm sư tổ hay quay về Nhạn Bắc?
Gã đen khuyên: "Các cậu nên đi về hướng Tây là an toàn nhất. Cậu dắt theo cô vợ như hoa như ngọc thế này, đi dưới mắt quân Nhật làm sao thoát được nanh vuốt của quỷ?"
Tôi nhìn gã đen đầy nghi hoặc. Gã nói tiếp: "Từ đây sang phía Đông là vùng Đông Bắc, bị Nhật chiếm hai năm rồi; phía Nam là Thừa Đức cũng bị chiếm; phía Bắc là vùng không người, không chết đói thì cũng bị sói ăn thịt; chỉ có đường về hướng Tây là hy vọng bọn Nhật chưa đánh tới."
Tôi hỏi: "Phía Tây là đâu?"
Gã đen đáp: "Bốn tỉnh Tái Bắc chứ đâu, từ Đông sang Tây lần lượt là Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, Tuy Viễn, Ninh Hạ. Chúng ta đang ở Nhiệt Hà, không ở nổi nữa thì cứ đi về phía Tây."
Chúng tôi ngồi quanh đống lửa, hồi lâu không ai nói thêm lời nào.
Đêm đó tôi không sao chợp mắt được, nghĩ về những chuyện đã qua. Cứ ngỡ người Nhật tới thì chẳng liên quan gì đến dân giang hồ chúng tôi, đánh nhau là việc của quân đội, ai ngờ giặc đến thì giang hồ cũng đảo lộn cả.
Hai anh em hành khất đã ngủ say, Yến Tử cũng ngủ thiếp đi. Tôi đỡ cô ấy nằm gối đầu lên đùi mình cho dễ chịu. Xa xa vang lên tiếng sói tru, nhưng đêm ấy tôi chẳng thấy sợ hãi chút nào. So với bọn Nhật, lũ sói thảo nguyên xem ra còn thân thuộc hơn nhiều, chúng cũng như con người, là sinh vật của thảo nguyên này, cùng nương tựa nhau mà sống hàng triệu năm qua. Còn quân Nhật mới thực sự là kẻ thù chung của thảo nguyên này.
Trời sáng, chúng tôi quyết định đi về hướng Tây. Gã trắng bảo đi xuyên qua cánh rừng bụi trước mặt sẽ có con đường dẫn tới Đa Luân.
Khi ấy, Đa Luân thuộc tỉnh Sát Cáp Nhĩ. Thủ phủ Sát Cáp Nhĩ là Trương Gia Khẩu, Nhiệt Hà là Thừa Đức, Tuy Viễn là Quy Tuy, Ninh Hạ là Ngân Xuyên.
Bầu trời xanh ngắt, mây trắng như những lớp lông cừu chất chồng phía xa. Trên những ngọn cỏ, lũ chim không tên vô tư hót vang điệu tình ca thanh thót. Chúng vẫn chưa biết mảnh thảo nguyên này đã thuộc về lũ Nhật chết tiệt kia rồi.
Trong bụi rậm, chúng tôi gặp một người đàn ông đang đốn củi, mặt đầy giận dữ như đang trút mọi hận thù vào những cành cây. Hai gã hành khất trò chuyện với y, y bảo vốn là thợ săn vùng này, nhưng quân Nhật đến đã tịch thu hết súng ống, bảo ai có súng là kẻ chống đối Đế quốc. Chúng còn thu hết ruộng đất, trâu bò, bắt mọi người làm việc cho chúng và chỉ cho chút thức ăn cầm hơi. Người đàn ông phẫn uất: "Tổ tiên Thành Cát Tư Hãn của ta đánh hạ giang sơn trên mảnh đất này; nhà Đại Minh đến, chúng ta vẫn săn bắn; nhà Đại Thanh đến, chúng ta vẫn săn bắn; 'Đại Cá Tử' đến, chúng ta vẫn săn bắn; sao bọn Nhật vừa đến đã đòi thu súng, thu đất, thu cừu của chúng ta?"
'Đại Cá Tử' là cách dân Tái Bắc gọi Phùng Ngọc Tường.
Xuyên qua rừng bụi, quả nhiên thấy một con đường chạy về hướng Tây. Đường hẹp và dài, tựa như dải lụa trải tận chân trời. Nơi cuối đường, một cái cây đơn độc đứng đó như một thi sĩ cô độc.
Nhớ lại câu chuyện đêm qua, tôi hỏi gã trắng: "Rốt cuộc Thải sinh chiết cát là cái gì?"
Gã trắng không đáp, vẫn lẳng lặng bước đi. Gã đen ghé sát tai tôi nói nhỏ: "Cậu muốn biết cũng được, nhưng tuyệt đối đừng để vợ cậu nghe thấy, tàn nhẫn lắm, thực sự quá tàn nhẫn."
Tôi gặng hỏi: "Rốt cuộc là chuyện gì?"
Gã đen chờ cho Yến Tử đi cách xa chừng hai ba mươi mét mới kể: "Thải sinh chiết cát là hắc thoại của giới hành khất, nghĩa là dùng thủ đoạn dụ dỗ hoặc bắt cóc trẻ con. Nếu là bé gái thì bán vào lầu xanh. Nếu là bé trai, đứa nào khôi ngô thì bán cho gánh xiếc. Gánh xiếc sẽ dùng một bộ da gấu đen hoặc da sói nguyên tấm khâu chặt vào người đứa trẻ, khiến cơ thể nó không lớn lên được, cuối cùng biến thành một quái vật đầu người mình gấu. Khi biểu diễn, quái vật này sẽ thu hút đám đông để chúng kiếm tiền. Còn nếu đứa trẻ xấu xí, chúng sẽ bẻ gãy tay chân, khiến tứ chi biến dạng kỳ quái để đi xin ăn. Người đời thấy những sinh vật không ra người không ra thú như vậy thường mủi lòng cho tiền."
Tôi nghe mà nổi da gà, không thể tưởng tượng nổi trên giang hồ lại có hành vi tà ác đến thế. Cứ ngỡ việc mình bị mẹ mìn lừa bán đã là thảm kịch nhất rồi, không ngờ những đứa trẻ bị bán cho gánh xiếc hay bị tàn phá thân thể kia còn thê thảm gấp vạn lần.
Tôi hỏi: "Sao giới hành khất lại lắm chiêu trò lừa lọc vậy?"
Gã đen đáp: "Nơi nào có giang hồ, nơi đó có lừa đảo thôi. Ngoài Thải sinh chiết cát, giới hành khất còn có 'Phóng bạch cáp' (Thả bồ câu trắng), 'Tiên nhân khiêu', 'Niệm ương', 'Hiến khổ nhục', 'Lai cổn', 'Quá phùng chiêu tử'..."
'Thả bồ câu trắng' và 'Tiên nhân khiêu' thì tôi từng nghe và nếm trải rồi. Thả bồ câu trắng ở một số nơi gọi là 'Thả diều hâu'. Lúc chưa theo nghề bói toán, khi còn ở vùng núi Đại Biệt, tôi từng tham gia trò này. Đó là một nhóm người, ít nhất có một người phụ nữ nhan sắc, giả vờ gả chồng để lấy tiền sính lễ rồi bỏ trốn sau vài ngày. 'Thả bồ câu trắng' của Cái Bang cũng tương tự, chỉ khác người tham gia đều là hành khất.
'Tiên nhân khiêu' cũng gần giống nhưng không cưới hỏi. Một nhóm đàn ông chọn đối tượng, để một người phụ nữ dụ dỗ gã đó vào phòng, khi cả hai đã trần trụi hoặc sắp 'lâm trận' thì đám đàn ông xông ra, mượn danh đánh ghen vì bị 'cưỡng bức vợ' để tống tiền.
Trò thả bồ câu giờ vẫn còn ở các vùng núi hẻo lánh, còn tiên nhân khiêu thì nhan nhản ở các nhà ga, khách sạn.
Tuy nhiên, 'Niệm ương', 'Hiến khổ nhục', 'Lai cổn', 'Quá phùng chiêu tử' là những thuật ngữ tôi mới nghe lần đầu. Đúng là giang hồ cách nghề như cách núi.
Gã đen giải thích: "Niệm ương là lập cục lừa tiền, ví dụ như bày bàn cờ thế ven đường lừa người ta vào đánh; hoặc úp hai cái bát giấu hòn bi đen đỏ cho người ta đoán. Niệm ương luôn phải có 'chim mồi' phối hợp. Cậu thấy chim mồi thắng tiền liên tục, sinh lòng tham nhảy vào là trắng tay ngay."
Tôi chợt nhớ đến lần cùng nhị sư thúc đuổi theo gã dắt khách lừa đảo, dọc đường cũng gặp bọn Niệm ương này, tôi đã sa chân vào cục diện của chúng, may có nhị sư thúc dùng hắc thoại thương lượng chúng mới thả tôi ra. Giờ nghĩ lại, chắc chắn nhị sư thúc biết bọn chúng là hạng Niệm ương trong Cái Bang nên mới không kể rõ cho tôi nghe.
Gã đen nói tiếp: "Hiến khổ nhục, Lai cổn, Quá phùng chiêu tử cũng đều là những chiêu trò giả khổ để xin tiền. Hiến khổ nhục là giả vờ tay chân lở loét, Lai cổn là giả bại liệt, Quá phùng chiêu tử là giả mù. Lại có trò mấy tên ăn mày kéo một chiếc xe, khóc lóc thảm thiết bảo người trên xe bệnh nặng không tiền cứu chữa... Phái Giang Tướng dựa vào xem bói để lừa tiền, Cái Bang dựa vào lòng thương hại để lừa tiền, chung quy đều vì cái tiền cả."
Tôi thở dài: "Không vào nghề không biết nước sâu nông. Thấy trên phố đầy kẻ ăn xin, đứa bảo mất cha mẹ, kẻ bảo mất con cái, cứ ngỡ đều là thật, hóa ra toàn là giả tạo."
Gã đen cười nhạt: "Giả cả đấy, ai cho tiền kẻ đó mới là đồ ngốc."