Tổ Bịp
- 4941 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 69: Hưởng Mã thật và giả
Đám Quỷ Ngao ấy hành động giống hệt bọn ăn mày mà tôi gặp mấy hôm trước: chẳng gần cũng chẳng xa, cứ lẩn quẩn theo sau chúng tôi, giữ một khoảng cách vừa đủ. Hễ chúng tôi dừng lại nấu cơm, chúng cũng dừng lại, đứng đằng xa dòm ngó. Trên sa mạc Qua Bích khô hạn, nước còn quý hơn vàng, đến cái bát chúng tôi cũng chẳng rửa. Mỗi lần đến bữa ăn, bát đều khô két lại, trên mặt nổi lên một lớp vỏ mỏng. Chúng tôi bóc lớp vỏ ấy đi, vứt ra bãi cát, rồi lại dùng cái bát đó đựng cơm ăn.
Cơm nước xong xuôi, chúng tôi lên đường. Đi được một quãng khá xa, ngoảnh đầu lại, thấy bọn Quỷ Ngao đang tranh nhau liếm mấy miếng vỏ chúng tôi vừa vứt đi.
Gió cát sa mạc thổi mù mịt, đất đai khô cằn, cỏ cây trơ trụi, đi hàng trăm dặm cũng chẳng thấy bóng người. Trên mặt đất nứt nẻ ấy, chỉ có vài loài côn trùng chịu hạn cực giỏi mới đủ sức bò qua. Ở vùng đất này, bất cứ sinh linh nào cũng phải vật lộn để sống sót.
Đằng xa, chúng tôi trông thấy một dãy núi nhấp nhô. Muốn đến được Ân Gia Tập, nhất định phải đi qua khe hẹp giữa hai ngọn núi ấy. Đó cũng là nơi bọn hưởng mã hay phục kích nhất.
Mắt Híp nói anh ấy muốn đi trước dò đường.
Tôi nói tôi sẽ đi cùng anh ấy.
Những ngày ở tiêu cục, Mắt Híp là người bạn thân nhất của tôi. Anh ấy là người chất phác, thẳng thắn, mặc dù nóng nảy nhưng thật lòng, đáng để kết giao. Chúng tôi đều là hai người trẻ tuổi nhất trong đoàn, cũng là hai người gắn bó với nhau nhất.
Quang Đầu chỉ có thể giao cho chúng tôi một con lạc đà, vì hai con trước đó đều đã chết thảm. Hàng hóa trên hai con lạc đà ấy phải chia cho những con còn lại thồ tiếp.
Chúng tôi cưỡi con lạc đà duy nhất ấy, chạy lên trước mở đường. Nếu trong khe núi thực sự có hưởng mã, bọn chúng sẽ không làm hại chúng tôi. Trên người chúng tôi chẳng có hàng, giết chúng tôi chỉ khiến đoàn vận tiêu nhận ra nguy hiểm, sẽ lập tức quay đầu.
Giữa Hưởng Mã và tiêu sư có mối quan hệ nương tựa để cùng sinh tồn: Hưởng Mã nhắm vào hàng hóa, tiêu sư bảo vệ hàng hóa; không có hàng, bọn chúng sẽ chẳng lộ mặt.
Chúng tôi tiến vào khe núi, ngẩng nhìn vách đá cao sừng sững, thấy địa thế quả thật hiểm trở chẳng khác gì “Nhất tuyến thiên”, chỗ trước kia chúng tôi từng phục kích lão râu ba chòm. Chỉ khác là nơi đó cây cối um tùm, còn ở đây chỉ là ngọn núi trọc, bốn về trơ trụi.
Chúng tôi cất tiếng hô hai lượt, nghe âm vang vọng lại khắp khe núi, cảm thấy không có gì nguy hiểm bèn thả bộ, dắt lạc đà đi tiếp. Trên đỉnh núi cao, có hai con chim đang bay lượn. Một con đuổi theo con kia, nhìn từ xa chỉ nhỏ bằng hai con ong.
Đang đi, bỗng đằng sau một tảng đá lớn bên cạnh vang lên tiếng quát: “Dừng lại! Đường này do ta mở, cây này do ta trồng, muốn đi qua thì nộp lộ phí lại!”
Tôi và Mắt Híp đều khựng người lại, tay đặt lên chuôi đao, chăm chăm nhìn về hướng phát ra tiếng nói.
Mắt Híp cất cao giọng nói: “Đương gia vất vả rồi!”
Sau tảng đá lớn lại vọng ra một giọng nói: “Đường này do ta mở, cây này ta trồng; muốn đi qua thì nộp lộ phí lại”
Tôi và Mắt Híp nghe đối phương cứ lặp lại câu nói ấy thì biết đó không phải Hưởng Mã thật. Khi gặp Hưởng Mã thật, chúng tôi sẽ nói: “Đương gia vất vả rồi.” Hưởng Mã sẽ đáp: “Chưởng quỹ vất vả rồi.” Rồi chúng tôi lại nói: “Đương gia kiếm sống chẳng dễ dàng.” Hưởng Mã sẽ đổi giọng, không nói “chẳng dễ dàng” nữa mà hỏi: “Nhà nào?” Chúng tôi sẽ đáp: “Tiệm nhỏ, ở Trương Gia Khẩu.” Chúng tôi đã xưng danh hiệu của tiêu cục nhưng tuyệt đối không được phép hỏi danh hiệu của Hưởng Mã. Nếu cố tình hỏi, thì chắc chắn không tránh khỏi một trận huyết chiến, vì Hưởng Mã sẽ sinh nghi: Mày hỏi danh hiệu của bọn ta làm gì? Định câu kết với quan phủ để bắt chúng ta hay sao?
Hưởng Mã nghe nói là tiêu cục ở Trương Gia Khẩu thì sẽ hỏi tiếp: “Quý tính?”
Chúng tôi phải trả lời thành thật: “Họ Đặng, người giang hồ tặng biệt danh Quang Đầu, chữ thảo là Như Lai.” Quang Đầu tên thật là Đặng Như Lai.
Khi Hưởng Mã hỏi tiêu sư, tiêu sư bắt buộc phải nói thật, không được che giấu, cũng không được nói bừa; nếu không Hưởng Mã sẽ cho rằng tiêu cục không đáng tin cậy, cũng khó tránh khỏi một trận đại chiến nữa.
Hưởng Mã hành tẩu giang hồ, tiêu sư cũng hành tẩu giang hồ, hai bên đi cùng một con đường. Hưởng Mã ở chỗ tối, tiêu sư ở chỗ sáng, Hưởng Mã nắm rõ mọi đường đi nước bước của tiêu sư, còn tiêu sư thì biết rất ít về Hưởng Mã. Trước mặt Hưởng Mã, tiêu sư không dám nói dối.
Bộ quy tắc đối đáp ấy đã lưu truyền trong giang hồ suốt mấy trăm năm, thậm chí cả ngàn năm. Bất kể làm tiêu sư hay làm Hưởng Mã, sư phụ đều sẽ truyền lại trọn vẹn cho đồ đệ.
Nhưng những kẻ ẩn sau tảng đá đến giờ vẫn chưa lộ diện; lúc nói chuyện, họ không theo đúng bộ quy tắc đối đáp ấy, mà cứ: “Đường này do ta mở, cây này do ta trồng”, rõ ràng là nghe nhiều cổ kinh rồi đem những câu trong đó áp dụng vào giang hồ thật.
Vậy nên tôi và Mắt Híp nghe thì biết ngay đó là Hưởng Mã giả. Trong ám ngữ giang hồ, loại Hưởng Mã giả ấy gọi là “Đả Cống Tử”.
Biết bọn chúng là Đả Cống Tử, chúng tôi không sợ chút nào. Tôi cố ý hướng về phía tảng đá nói lớn: “Trong túi tôi chỉ còn đúng mười đồng bạc, là để dành cho mẹ tôi mua thuốc. Mấy người ra đây đi, tôi sẽ đưa cho.”
Giọng nói từ sau tảng đá vọng ra: “Đừng lắm lời, để bạc xuống đó rồi biến đi.”
Tôi lại nói: “Ra đi chứ, ít ra tôi cũng phải biết mặt mũi, tên tuổi các người; về nhà mẹ hỏi, tôi còn biết đường mà trả lời.”
Giọng kia nói tiếp: “Để bạc ở đó rồi cút đi, không thì tao chặt cổ mày.”
Tôi đùa để dụ Đả Cống Tử lộ mặt, cho nên mới chọc tức bọn chúng như vậy. Mắt Híp thì không nhịn được, anh quát to: “Mấy thằng trốn sau tảng đá ra đây. Không ra tao chém làm hai cho chó ăn.” Sau lưng chúng tôi có đám Quỷ Ngao, nếu chém chết được bọn chúng thì vừa khéo cho chó ăn. Câu đó của Mắt Híp là thật.
Bọn Hưởng Mã giả nấp sau tảng đá không ngờ chúng tôi đáp lại như thế thì lúng túng. Chúng không ngờ có ngày bị dọa ngược lại, nhất thời chẳng biết mở miệng thế nào, trong sách bình thư làm gì có đoạn oái oăm như thế.
Chúng tôi đợi một lát, cuối cùng có hai người từ sau tảng đá bước ra, một cao, một thấp, tay cầm gậy. Bọn chúng có hai người, chúng tôi có hai người; bọn chúng cầm gậy, chúng tôi cầm khoái đao. Bọn chúng không biết xử trí ra sao.
Mắt Híp chỉ vào bọn chúng mắng: “Hai thằng rùa đen, xuống đây ngay cho ông. Để ông lên đó, sẽ cho mỗi đứa một đao nát người.
Hai gã Đả Cống Tử liếc nhìn nhau rồi bước tới. Một gã nói: “Để bạc ở đó.” Gã kia nói: “Để lạc đà ở đó.”
Mắt Híp giơ lưỡi dao chỉ vào bọn chúng, nói: “Hai đứa bay cùng xông lên đi. Nếu thắng được cây đao trong tay tao, thì bạc, lạc đà, kể cả vàng thỏi tao mang theo cũng cho hết.”
Gã cao gật đầu với gã thấp, rồi cả hai cùng vung gậy lao tới. Mắt Híp hơi nghiêng người, tránh khỏi cú đánh của gã cao, tay cầm dao chặn lấy gậy của gã thấp, lưỡi đao khẽ trượt đi, sống dao lướt dọc xuống những ngón tay đang nắm chặt cây gậy. Gã thấp rú lên một tiếng, cây gậy rơi đánh “cộp” xuống đất.
Mắt Híp chỉ gã cao, giọng khinh khỉnh: “Đến lượt mày rồi, tới đây!”
Gã cao trố mắt nhìn cảnh bạn mình bị khống chế chỉ trong một chiêu, sợ đến ngu người, đứng chết trân không biết phải làm sao.
Gã thấp vội lồm cồm bò dậy, quay người chạy thục mạng về phía sườn núi; gã cao thấy thế cũng sực tỉnh, vội chạy theo. Hai kẻ ấy hoảng hốt đến nỗi quên cả đường đi. Gã cao chạy sau, vừa chạy vừa ngoái đầu như sợ chúng tôi đuổi theo. Gã thấp chạy trước, vấp phải hòn đá, ngã sõng soài; gã cao không kịp tránh, cũng ngã nhào lên, đè ngay lên người hắn.
Chúng tôi nhìn cảnh đó mà cười ngặt nghẽo.
Trong thung lũng chẳng còn thấy bóng Hưởng Mã nào nữa. Chúng tôi đứng lại chờ đoàn vận tiêu. Thực ra, chỉ cần trong thung lũng xuất hiện Hưởng Mã giả thì chắc chắn sẽ không có Hưởng Mã thật; nếu có Hưởng Mã thật, bọn giả đâu dám lộ mặt?
Khi Quang Đầu và mọi người đến, chúng tôi nhập lại vào một đoàn, đi tiếp về phía cửa khe núi. Mắt Híp kể chuyện về hai tên Hưởng Mã giả kia cho mọi người nghe, khiến ai nấy đều cười sằng sặc.
Đoàn lạc đà vừa đến đầu khe núi, sau lưng bỗng vang lên tiếng kêu thảm thiết: “Cứu mạng với! Cứu mạng với!”
Tôi quay đầu lại, thấy hai tên Hưởng Mã giả đang cắm đầu chạy, giống như cặp trâu bị roi quất phía sau. Chúng thở hổn hển, bọt trắng trào ra mép, lảo đảo rồi ngã lăn xuống đất.
Phía xa, lũ Quỷ Ngao đã đuổi tới.
Sau khi được cứu, Hai gã Đả Cống Tử ấy kể rằng nhà bọn chúng ở ngọn đồi xa kia, trong một làng nhỏ chỉ vài hộ dân, sống nhờ vào ông trời, mà trời Tây Bắc đã nhiều năm chẳng có mưa. Mười năm thì hết chín năm mất mùa, đói kém triền miên, nên họ mới đánh liều làm Hưởng Mã. Nào ngờ lần đầu đi cướp, chẳng kiếm được món nào, còn suýt nữa bị đám Quỷ Ngao ăn thịt.
Vùng đất Tây Bắc khắc nghiệt, loài nào cũng phải đối mặt với thử thách sống còn. Mục đích của chúng chỉ có một, ấy là tồn tại.
Lũ Quỷ Ngao thấy hai gã Đả Công Tử đang đi cùng chúng tôi, không dám lại gần nữa. Chúng bước chậm dần, giữ một khoảng cách nhất định, lặng lẽ bám theo sau.
Chúng tôi tiếp tục hành trình, đến bên một rừng hồ dương, thì bỗng thấy trên con đường đất phía trước có mấy cụm gai táo khô.
Quang Đầu lập tức dừng lại.
Báo Tử ở cuối hàng hỏi: “Sao không đi nữa?”
Quang Đầu không đáp.
Báo Tử giao dây cương cho một tiêu sư, bước lên xem tình hình, nhìn thấy những cụm gai táo khô bày giữa đường, cũng đứng sững người.
Những cụm gai ấy đã khô cong, trụi hết lá, được bày ngay giữa lối đi. Nhưng chẳng ai dám động vào, vì trong giang hồ, gai táo là tín hiệu của Hưởng Mã. Bọn Hưởng Mã bày gai táo trên đường chỉ có một mục đích duy nhất là chặn đoàn vận tiêu. Ai cả gan dọn đi, lập tức sẽ bị tấn công: hoặc tên bay như mưa, hoặc dao phóng từ tứ phía.
Tôi lén liếc nhìn hai bên, chẳng thấy bóng người nào. Hưởng Mã phục ở đâu vậy?
Quang Đầu không dám đảo mắt tứ phía, những tiêu sư khác cũng cúi đầu nhìn xuống đất, ánh mắt lặng lẽ dán chặt vào mấy cụm gai trước mặt.
Quang Đầu cất giọng vang dội: “Đương gia vất vả rồi!”
Từ trên cao vọng xuống một tiếng đáp: “Chưởng quỹ vất vả rồi!”
Tôi định ngẩng đầu nhìn, nhưng thấy mọi người đều cúi gằm, tôi cũng thôi.
Quang Đầu lại hô: “Đương gia kiếm sống chẳng dễ dàng!”
Giọng trên cao hỏi: “Nhà nào đấy?”
Quang Đầu đáp: “Tiệm nhỏ, ở Trương Gia Khẩu.”
Giọng kia lại hỏi: “Quý tính?”
Quang Đầu nói: “Họ Đặng, giang hồ kêu là Quang Đầu, chữ thảo là Như Lai.”
Bên trên im lặng một lát rồi nói: “Có nghe qua rồi. Mày mặc áo của ai?”
Quang Đầu đáp: “Mặc áo của bằng hữu.”
“Ăn cơm của ai?”
“Ăn cơm của bằng hữu.”
Giọng trên cao nói: “Thế thì gặp mặt một lần, rồi đi đi.”
Quang Đầu bảo Anh Đẹn mở túi lấy ra một nắm bạc kêu leng keng đặt xuống đất, rồi nói lớn: “Đương gia, ngài muốn gửi tôi thứ gì không? Tôi tới Gia Dụ Quan, một tháng sau sẽ quay lại.”
Giọng trên cao đáp: “Không có gì gửi, chưởng quỹ vất vả rồi, cứ lên đường đi.”
Như đã từng nói trước đây, Hưởng Mã và tiêu sư vốn nương tựa vào nhau mà sống. Tiêu sư phải gọi Hưởng Mã là “đương gia”, bởi không có Hưởng Mã thì cũng chẳng có tiêu sư. Hưởng Mã chính là cha mẹ cơm áo của tiêu sư.
Người nói vừa rồi chắc ẩn mình trên một cây hồ dương cao bên đường. Nhưng hắn trông thế nào, chúng tôi không ai dám ngẩng lên xem; hắn có bao nhiêu người, cũng không ai dám đoán. Tôi ngờ rằng bọn Hưởng Mã đều đang nấp trên những tán cây, giương cung lắp tên, ngắm thẳng về phía chúng tôi.
Khi giọng kia nói “lên đường đi”, Quang Đầu mới bước tới, cúi người nhẹ nhàng dọn mấy cụm gai táo, rồi cung kính đứng sang một bên. Suốt cả quá trình, ông không ngẩng đầu lấy một lần, chúng tôi cũng không ai dám nhìn lên. Trong giang hồ, Hưởng Mã là đương gia, còn tiêu sư là chưởng quỹ; chưởng quỹ là kẻ làm công cho đương gia. Người ta là chủ, mình là quản gia, chủ bảo nộp tiền, quản gia nào dám không nộp?
Còn nộp bao nhiêu thì tùy theo hàng hóa nhiều ít. Hưởng Mã cũng phải nuôi cả nhà, cũng cần cơm áo. Đừng tưởng họ chỉ biết chặn đường cướp của, trong bọn Hưởng Mã cũng có người trinh sát, người giữ sổ sách, người làm hậu cần, người đưa tin… Cấu trúc tổ chức của họ cũng giống như một tiêu cục.
Tiêu sư chớ dại mà tưởng mình khôn ngoan hơn, cố tình giấu bớt hàng hóa hay nộp ít tiền. Đám Hưởng Mã kiếm ăn trên con đường này đã mấy chục năm, từng gốc cây ngọn cỏ đều thuộc lòng; đến cả đàn muỗi bay trên không trung cũng như mắt tai của bọn chúng. Nếu tiêu sư dám giấu giếm, nộp thiếu tiền, thì lần sau đừng mong đi qua con đường này.
Sau khi Quang Đầu dọn sạch gai táo, chúng tôi cúi đầu đi qua rừng hồ dương. Báo Tử đi cuối hàng, khẽ nói: “Đương gia, coi chừng, phía sau có chó dữ.”
Giọng nói trên cao vọng xuống: “Chưởng quỹ yên tâm, có chúng tôi chặn hậu rồi.”
Chúng tôi đi xuyên qua rừng hồ dương, bước được hơn trăm trượng thì phía sau bỗng vang lên từng tràng tiếng chó sủa. Tôi ngoái đầu nhìn lại, chỉ thấy từ trên cây tên bắn xuống như mưa, những con Quái Ngao trúng tên ngã vật ra, vài con khác sợ hãi quay đầu bỏ chạy.
Không ai biết trong rừng hồ dương ấy có bao nhiêu Hưởng Mã phục sẵn, nhưng nhìn theo mật độ tên bay, chắc là không ít. Nghĩ lại, nếu khi nãy tiêu sư và Hưởng Mã thực sự đối đầu, e rằng chẳng ai còn sống để kể lại. Chỉ nghĩ thôi đã thấy lạnh cả sống lưng.
Chúng tôi đi thêm chừng trăm trượng nữa, thì phía sau vang lên tiếng vó ngựa dồn dập. Người chưa đến, tiếng đã tới trước: “Chưởng quỹ, xin dừng lại!”
Đoàn lạc đà dừng bước. Tôi ngoảnh lại, thấy một tên cướp cưỡi ngựa phi tới, ngựa vừa dừng, hắn đã xoay mình nhảy xuống, thân pháp gọn gàng, con ngựa vẫn còn bước đi chậm rãi dừng ngay bên cạnh Quang Đầu.
Hắn chắp tay chào Quang Đầu, Quang Đầu đáp lễ. Hắn nói: “Đương gia dặn, phía trước là sa mạc, không có chỗ tiếp tế, gửi cho ông vài con chó.”
Quang Đầu đáp: “Xin thay mặt tôi cảm tạ đương gia.”
Hưởng Mã lại nói: “Đương gia còn dặn, trong sa mạc vẫn có Hưởng Mã khác, nếu ông nói ra danh hiệu của Đương gia thì sẽ không ai gây khó dễ nữa.”
Quang Đầu nói: “Đa tạ Đương gia.”
Quang Đầu vừa nói xong, tôi thấy từ xa có vài con ngựa chạy tới, trên yên ngựa chở mấy con Quái Ngao. Quái Ngao là giống chó to, chắc là thịt rất ngon.
Chúng tôi mang theo xác mấy con Quỷ Ngao, tiếp tục lên đường. Trời vừa tối thì cũng đến được Ân Gia Tập. Nhưng nơi này giờ chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát. Trong ký ức của Quang Đầu, cạnh Ân Gia Tập vốn có một con sông nhỏ, nhưng giờ đây dòng sông đã cạn khô từ đời nào, trơ ra lòng sông xấu xí và nhem nhuốc. Không có nước thì chẳng thể sinh tồn, dân cư ở Ân Gia Tập đành phải dời đi nơi khác.
Thảo nào đám Hưởng Mã bảo rằng phía trước không có chỗ để bổ sung lương thực.
Qua khỏi Ân Gia Tập chính là sa mạc Đằng Cách Lý.
Đằng Cách Lý, tiếng Mông Cổ nghĩa là Trường Sinh Thiên, tiếng Duy Ngô Nhĩ là Thiên Thần, là chúa tể của toàn thế giới, là Zeus, là Thượng Đế, là Allah, là Ngọc Hoàng Đại Đế.
Sa mạc Đằng Cách Lý chính là nơi Thiên Thần cư ngụ. Mà chốn ở của thần linh thì dĩ nhiên phàm nhân không được phép đặt chân vào, và cũng chẳng có cách nào đặt chân vào nổi.
Vậy mà vì chuyến tiêu này, chúng tôi buộc phải dấn thân vào vùng đất cấm kỵ ấy.
Đêm hôm đó, cả người lẫn lạc đà đều ngủ dưới lòng sông cạn. Trên mảnh đất hoang sơ này, bão cát là chuyện thường như cơm bữa, lòng sông cao ráo sẽ giúp chúng tôi chắn bớt gió cát.
Không còn Quỷ Ngao, không còn Hưởng Mã, không mưu mô chước quỷ, cũng chẳng còn nỗi sợ hãi, đêm ấy chúng tôi ngủ một giấc thật ngon lành.
Sáng hôm sau, lúc thu dọn hành lý, mọi người bỗng phát hiện Đoạn Long Phi đã biến mất.
Vốn dĩ anh em tôi đã thôi nghi ngờ hắn, bởi những gì hắn nói đều là sự thật. Thế nhưng, ngay lúc chúng tôi chuẩn bị bước vào nơi chết chóc, hắn lại đột ngột bốc hơi.
Mắt Hí bảo:
"Thằng này chắc chắn là nội gián trà trộn nằm vùng rồi."
Anh Đẹn phản bác:
"Cũng chưa chắc, có khi nó sợ không dám vào sa mạc Đằng Cách Lý nên trốn về rồi cũng nên."
Mắt Hí lại nói:
"Thằng ranh đó đích thị là tai mắt của đám Hưởng Mã, cố tình dẫn dụ chúng ta đến Ân Gia Tập để cho bọn chúng chặn đường."
Anh Đẹn lắc đầu:
"Mày suy đoán thế nghe không lọt tai chút nào. Nếu bọn Hưởng Mã đã tốn công tốn sức như vậy, hà cớ gì chỉ lấy vài chục đồng bạc trắng? Lẽ ra chúng phải cướp sạch hàng hóa mới đúng. Hơn nữa, nếu đám cướp đó muốn làm khó anh em mình thì đã chẳng ra tay giết sạch bầy Quỷ Ngao, càng không đời nào mang thịt chó đến cho chúng ta ăn."
Khuôn mặt Mắt Hí đỏ gay, đầu óc chậm chạp cố sức xoay chuyển để tìm cách chứng minh Đoạn Long Phi là nội gián, nhưng nghĩ mãi chẳng tìm ra lý do nào thuyết phục hơn.
Quang Đầu lên tiếng:
"Thôi đừng cãi nhau nữa, mặc kệ tên Đoạn Long Phi đi đâu, chúng ta vẫn phải băng qua sa mạc. Mọi người chuẩn bị đi, ăn xong rồi lên đường. Bữa nay ăn thịt chó nướng."
Cả đám hò reo đi kiếm củi, cứ tưởng tượng đến vị thịt chó thơm lừng là nước miếng đã ứa ra. Mấy ngày nay toàn ăn đồ chay, trời lại nóng bức, thịt thà mà ủ một ngày là ôi thiu ngay, giờ được ăn miếng thịt tươi, ai nấy đều vui như mở cờ trong bụng.
Củi khô rất hiếm, muốn nướng thịt chó phải dùng củi thật chắc, mà loại này càng khó kiếm hơn. Củi chắc là loại cháy đượm, giữ lửa lâu như cành cây hay rễ cây lớn. Rìa sa mạc cây cối thưa thớt, cành rễ đương nhiên cũng chẳng nhiều. Chúng tôi phải chạy ra thật xa để nhặt nhạnh, bỗng nhiên nhìn thấy phía xa có một bóng người đang đi tới.
Người nọ đi đứng lảo đảo, cứ đi vài bước lại dừng. Dưới ánh nắng thiêu đốt nơi rìa sa mạc, bóng dáng kẻ đó cũng chao đảo, mờ ảo không rõ nét.
Gặp được một con người ở cái chốn khỉ ho cò gáy này quả là chuyện lạ, chẳng khác nào thấy lạc đà đi dạo giữa phố chợ. Chúng tôi vừa chạy về phía đó vừa hét lớn:
"Ai đấy?"
Người kia không trả lời, thân hình loạng choạng rồi ngã vật xuống đất.
Mắt Hí không chạy theo, hắn vẫn cắm cúi nhặt củi, miệng lầm bầm:
"Mau nhặt củi đi, tí nữa còn ăn thịt chó."
Chúng tôi chạy lại gần, ai nấy đều thất kinh. Người này mặc một chiếc áo bào màu đen đã rách nát tả tơi, da thịt dưới lớp áo, da mặt, da cổ đều mọc đầy những mụn ghẻ vàng khè, trông gớm ghiếc vô cùng. Điều khiến chúng tôi kinh hãi hơn là sau lưng người này còn kéo theo một người khác. Người này đã chết từ lâu, chỉ còn lại một bộ xương khô.
Khắp người gã đầy mụn ghẻ, chẳng ai dám đụng vào. Trên đầu gã quấn khăn, cái khăn cũng bẩn thỉu không kém. Tôi nắm lấy khăn trùm đầu định kéo gã dậy, nào ngờ chiếc khăn tuột ra, để lộ một mái tóc dài như thác đổ.
"Á, là đàn bà!"
Chúng tôi đồng thanh thốt lên kinh ngạc.
Mắt Hí ở xa nghe thấy tiếng đàn bà, liền ba chân bốn cẳng chạy tới, vừa chạy vừa hỏi dồn:
"Đàn bà đâu? Đàn bà ở đâu?"
Chạy đến nơi, nhìn thấy bộ dạng người đàn bà kia, gã chưng hửng buông một câu:
"Đàn bà cái nỗi gì, thứ này mà cũng gọi là đàn bà à!"
Tôi quát:
"Còn đứng ngây ra đó làm gì, mau lấy nước, nước đâu!"
Anh Đẹn nhanh nhảu mang túi nước tới. Tôi đỡ người đàn bà dậy, để cái đầu xấu xí của mụ dựa vào chân mình rồi đổ cho một ngụm nước. Mụ mở mắt, nhìn tôi rồi toét miệng cười. Mụ không cười trông đã đủ gớm ghiếc, cười lên trông càng kinh dị hơn, những mụn ghẻ trên mặt như thi nhau nở hoa, khiến người ta rợn cả tóc gáy.
Uống nước xong, mụ đàn bà đã có thể đứng dậy. Lúc này chúng tôi mới phát hiện mụ rất cao, người thì gầy đét lại cao lêu nghêu như một cây sào tre.
Anh Đẹn ngửa cổ hỏi:
"Bà từ đâu tới, định đi về đâu?"
Mụ nhìn Anh Đẹn, vẻ mặt đầy nghi hoặc.
Tôi lặp lại câu hỏi của Anh Đẹn:
"Bà từ đâu tới, định đi về đâu?"
Mụ quay sang nhìn tôi, vẻ mặt vẫn ngơ ngác y như cũ.
Mắt Hí đứng bên cạnh chêm vào:
"Thôi khỏi hỏi, con mụ này bị câm rồi, vừa xấu vừa câm, làm sao mà lấy được chồng?"
Anh Đẹn đáp:
"Sao mày biết người ta không lấy được chồng? Nhìn tuổi mụ ta ít nhất cũng bốn năm mươi rồi, tao đoán cái bộ xương kéo theo sau kia chính là chồng mụ đấy."
Chẳng ai biết lai lịch người đàn bà này ra sao. Mụ ngồi ăn với chúng tôi một bữa thịt chó, xong xuôi liền kéo bộ xương khô định bỏ đi.
Báo Tử hỏi:
"Bà định đi đâu?"
Người đàn bà lại nhìn Báo Tử bằng ánh mắt ngơ ngác.
Thấy mụ không hiểu tiếng mình, Báo Tử bèn dùng tay ra hiệu, chỉ chỉ vào bộ xương, rồi lại chỉ vào mụ. Lần này mụ mở miệng, xì xào một tràng tiếng lạ, rồi chỉ tay về phía trước.
Chúng tôi nghe xong nhìn nhau ngơ ngác, chẳng ai hiểu mụ nói cái gì.
Quang Đầu bảo:
"Đây là dân bản địa, tôi nghe cũng không hiểu lắm, nhưng thấy mụ cứ nhắc đi nhắc lại hai từ Lệ Mã và A Y Lạp."
Báo Tử nói:
"Lệ Mã."
Cả bọn cùng nhắc lại:
"Lệ Mã."
Người đàn bà tỏ vẻ rất vui mừng, chỉ tay vào mình rồi gật đầu lia lịa.
Quang Đầu gật gù:
"Xem ra Lệ Mã là tên của mụ."
Báo Tử lại nói:
"A Y Lạp."
Chúng tôi cũng hùa theo:
"A Y Lạp."
Mụ càng mừng rỡ hơn, chỉ tay về phía xa nói:
"A Y Lạp, A Y Lạp."
Quang Đầu giải thích:
"Tôi hộ tiêu trên tuyến đường này hai mươi năm rồi, nghe lõm bõm được ít tiếng Ba Tư. Mụ này nói tiếng Ba Tư đấy. Lệ Mã là tên mụ, trong tiếng Ba Tư nghĩa là linh dương trắng, còn có ý nghĩa là xinh đẹp nữa."
Mắt Hí vừa nghe thấy cái tên Lệ Mã nghĩa là xinh đẹp liền phì cười, bởi vì người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn trước mặt này chẳng liên quan chút nào tới hai chữ "xinh đẹp".
Quang Đầu nói tiếp:
"A Y Lạp ở ngay phía trước vài chục dặm thôi, đi nhanh thì quá nửa buổi là tới. Mụ này đi một mình nguy hiểm lắm, đám Quỷ Ngao chắc chắn vẫn lảng vảng quanh đây. Mắt Hí, mày cưỡi lạc đà, mang theo đao, đưa mụ này đến A Y Lạp đi."
Mắt Hí gãi đầu gãi tai:
"Lúc nãy ăn nhiều thịt chó quá, con đang đau bụng."
Quang Đầu quay sang Anh Đẹn:
"Thế mày đi nhé."
Anh Đẹn từ chối ngay:
"Chân con vừa dẫm phải cái gai."
Quang Đầu quát:
"Mấy thằng ranh này, bình thường nhanh nhảu lắm mà, sao hôm nay đứa nào cũng lề mề thế, làm sao vậy?"
Báo Tử quay đi cười trộm, gã thừa hiểu đám tiêu sư trẻ tuổi này chẳng ai muốn đi đưa tiễn một mụ đàn bà xấu xí đến tởm lợm như vậy.
Báo Tử bảo tôi:
"Ngai Cẩu, cháu đi đi."
Tôi lùi lại mấy bước, trong lòng cũng chẳng muốn đi chút nào. Báo Tử dỗ dành:
"Bọn ta đợi ở đây, cháu cưỡi lạc đà mà đi, nhoáng cái là về ngay thôi mà."
Quang Đầu thấy Báo Tử chỉ đích danh tôi, cũng hùa theo:
"Thế thì Ngai Cẩu đi đi, bọn ta đợi ở đây. Đừng có la cà dọc đường, đi nhanh về nhanh."
Cả Báo Tử và Quang Đầu đều ép tôi đi, tôi đành phải tuân lệnh. Tôi dùng dằng bước đến bên con lạc đà, quay đầu lại vẫn thấy Mắt Hí và Anh Đẹn đang che miệng cười trộm.
Người đàn bà kia thấy tôi đi cùng, trên mặt lại nở nụ cười như ghẻ lở trổ hoa. Quang Đầu đưa cho mụ một cái bao, mụ cẩn thận nhét bộ xương khô vào bao, treo bên cạnh yên lạc đà. Tôi dắt lạc đà tới, định đỡ mụ leo lên, nào ngờ chân mụ đạp mạnh lên mô đất, tung người nhảy lên, động tác vô cùng nhanh nhẹn, dứt khoát.
Thế này thì đâu giống một người đàn bà bốn năm mươi tuổi?