Tổ Bịp
- 8396 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 78: Bí mật thân thế của Lệ Mã
Ngay khi Báo Tử đưa tôi và Mắt Híp về đến làng, ông lập tức kéo Quang Đầu vào một gian phòng nhỏ. Hai người đóng cửa bàn bạc. Cuộc đối thoại dưới đây là do Báo Tử thuật lại cho tôi nghe sau này.
Báo Tử hỏi: “Các anh đã giết hại con cái nhà người ta, lại còn đánh người ta trọng thương phải không?”
Quang Đầu đáp: "Không có."
Báo Tử lại hỏi: "Liệu có phải người trong tiêu cục lén lút ra tay hạ sát đứa nhỏ rồi đả thương người ta không?"
Quang Đầu đáp: "Không thể nào. Võ công hắn cao cường như vậy, người của tiêu cục dù muốn đả thương hắn cũng đâu dễ dàng đắc thủ? Hơn nữa, con hắn ở đâu, tên họ là gì, tiêu cục hoàn toàn không hay biết."
Báo Tử nói: "Tôi cũng nghĩ vậy, chuyện này liệu có ẩn tình hay hiểu lầm gì chăng?”
Quang Đầu khẳng định: "Chắc chắn là hiểu lầm."
Báo Tử hỏi tiếp: “Ba lần cướp tiêu trước đây, bọn họ có đả thương người nào của tiêu cục không?”
Quang Đầu đáp: "Không, tất cả đều được thả về."
Báo Tử nói: “Vậy là rõ rồi. Bắt xong lại thả, chứng tỏ đó không phải người mà hưởng mã muốn tìm. Kẻ hưởng mã muốn tìm là kẻ thù. Bọn họ làm vậy cốt để ép người quản sự của tiêu cục phải lộ diện, giao nộp kẻ thù ra.”
Quang Đầu hỏi: "Giờ phải làm sao?"
Báo Tử nói: “Ngày mai tôi sẽ hẹn hắn cùng uống rượu, anh cứ đem tình thực mà nói, xem hắn phản ứng ra sao.”
Hôm sau, trời vừa hửng sáng, mọi người đều đã có mặt tại chợ.
Cứ mỗi tháng vào các ngày mùng ba, mười ba, hai mươi ba âm lịch, phiên chợ này lại họp. Dân miền núi khắp nơi xa gần mang theo da thú, lâm sản xuống chợ. Phía đông chợ là khu bán trâu bò cừu dê, người bán kẻ mua tụ tập đông đúc. Bò và dê được buộc thành hai hàng, tiếng bò rống "ụm bò ", tiếng dê kêu "be be", âm thanh huyên náo cả một góc chợ, không khí nồng nặc mùi cỏ lẫn trong phân trâu và mùi hôi nồng của lông cừu. Cạnh chợ gia súc có một tòa lầu hai tầng, đó chính là Túy Tiên Lâu.
Trên Túy Tiên Lâu, đôi bên bắt đầu một cuộc đấu rượu khác. Một bên là gã gầy ốm cùng Thiết Trụ, Thiết Thuyên; bên kia là Báo Tử, Quang Đầu và tôi. Những người còn lại đều canh chừng dưới sân.
Trận này thực ra không nên gọi là đấu rượu, mà gọi là uống rượu thì đúng hơn. Theo quy định của tiêu cục, người đứng đầu chuyến áp tiêu như Quang Đầu không được phép uống rượu, thế nên ông ấy chỉ ngồi trên chiếc ghế đẩu trong góc tường, tách biệt khỏi bàn tiệc.
Báo Tử nói với gã gầy ốm: "Huynh đệ, người của tiêu cục tôi đã dẫn đến đây, có chuyện gì anh cứ nói thẳng với người ta."
Quang Đầu tràn trề hy vọng chờ Gã gầy ốm đặt câu hỏi, nhưng Gã gầy ốm chẳng thèm liếc mắt nhìn ông ấy lấy một cái, mà bắt đầu kể lại câu chuyện của chính mình.
Nhà của gã gầy ốm nằm ở Khôi Điều Bình, một ngôi làng được đặt tên theo loài rau khôi điều mọc rất nhiều ở đó. Rau khôi điều là một loại rau dại có thể ăn được, vị hơi đắng.
Con của Gã gầy ốm đã hơn mười tuổi, đang theo học trường tân thời trên huyện. Vì thân phận đặc biệt nên Gã gầy ốm chưa bao giờ tiết lộ với bên ngoài rằng cha đứa trẻ là một tên hưởng mã. Khôi Điều Bình chỉ cách huyện thành chừng hơn mười dặm.
Hôm ấy, Gã gầy ốm về nhà ngủ. Đến nửa đêm, gã vừa chợp mắt thì tiếng đập cửa dồn dập vang lên. Gã gầy ốm trèo tường hậu ra ngoài, vòng ra phía trước thì thấy người đập cửa có dáng vẻ như một thầy giáo trung học. Người này báo tin rằng con của chủ nhà đã bị bắt cóc trên huyện thành.
Vừa nghe tin con bị bắt cóc, gã gầy ốm chẳng còn tâm trí đâu mà lo đến người thầy giáo kia, lập tức phi ngựa như bay về hướng huyện thành. Khi sắp đến nơi, bỗng từ trong bụi cỏ ven đường bắn ra mấy mũi tên, một mũi găm trúng bả vai hắn. Gã gầy ốm ngoảnh lại nhìn, thoáng thấy kẻ đó dáng người cao dong dỏng, khuôn mặt vuông vức nhưng hơi dài.
Rơi vào ổ mai phục, Gã gầy ốm không dám dừng lại, nén đau thúc mạnh vào bụng ngựa, lao vào trong thành. Đến nơi, gã rút mũi tên ra xem, thấy trên đầu mũi tên có khắc bốn chữ "Long Uy Tiêu Cục". Tuy nhiên, bốn chữ này đã bị ai đó cố ý rạch nát, rất khó nhận diện.
Tôi thầm nghĩ: Long Uy Tiêu Cục? Chẳng phải là tiêu cục của Quang Đầu đây sao!
Ngày hôm sau, Gã gầy ốm nằm trong tiệm thuốc thì nhận được hung tin: con hắn đã bị giết, thi thể vứt xuống hào nước bao quanh thành.
Gã gầy ốm trúng phải tên độc, chất độc đã ngấm sâu vào xương tủy, mạng sống ngàn cân treo sợi tóc. Về sau, nhờ gặp được một vị hòa thượng đi ngao du giang hồ, hắn mới giữ được tính mạng.
Tôi lại nhớ đến lần chúng tôi phục kích bên ngoài thành Đa Luân, giết chết Bản Điền Thứ Nhất Lang, tức Lão Đồng. Khi ấy có hai kẻ cưỡi khoái mã đến đón hòa thượng mập và để lại một túi vàng. Hóa ra họ là người của gã gầy ốm, đón ông ta về chữa trị cho đại ca mình.
Sau khi bình phục, Gã gầy ốm bắt đầu kế hoạch trả thù Long Uy Tiêu Cục. Hễ là xe tiêu của Long Uy Tiêu Cục, hắn đều cướp sạch, sau đó săm soi từng người để tìm cho ra khuôn mặt vuông dài kia. Nhưng tìm mãi không thấy. Gã gầy ốm bèn dẫn người tiếp tục cướp tiêu, ép bằng được chưởng quỹ của họ phải lộ diện.
Báo Tử hỏi: "Vị hòa thượng chữa thương cho anh trông như thế nào?"
Gã gầy ốm đáp: "Vừa cao vừa béo, mặt mũi hồng hào, tóc trên đầu rụng sạch, người không biết đều tưởng ông ấy là hòa thượng."
Tôi thấy khóe miệng Báo Tử khẽ nhếch lên, cả chú ấy và tôi đều đoán ra người đó là ai.
Quang Đầu ngồi im lặng trong góc nãy giờ, cuối cùng cũng lên tiếng: "Trong Long Uy Tiêu Cục không có ai mặt vuông dài, dáng cao dong dỏng cả. Hơn nữa, tiêu sư xuất môn đều đi thành đoàn thành đội, không bao giờ hành động đơn lẻ.”
Gã gầy ốm lấy từ trong tay nải ra một mũi tên, hỏi: “Đây có phải tên của các người không?”
Quang Đầu cầm mũi tên xem xét, giật mình kinh hãi. Đây quả thực là tên của Long Uy Tiêu Cục, trên thân tên cũng khắc bốn chữ "Long Uy Tiêu Cục", nhưng chữ đã bị dao khắc làm cho nham nhở không rõ nét
Thấy vẻ mặt của Quang Đầu, gã gầy ốm nổi trận lôi đình, chất vấn: "Đã là tên của các ngươi thì còn gì để nói? Mau giao hung thủ ra đây, bằng không đừng hòng bước ra khỏi nơi này nửa bước.”
Giọng Gã gầy ốm vừa cất cao, những người ngồi rải rác bên các bàn rượu xung quanh đồng loạt đứng dậy, rút vũ khí sắc béntừ trong áo ra. Hóa ra họ đều là hưởng mã cải trang, quân số phải đến hai ba mươi người.
Tiêu cục đi áp tiêu, dọc đường phải hô hào, gặp nơi nguy hiểm thì hô "Hợp ngô", gặp hưởng mã thì hô "Đương gia vất vả", bị hưởng mã chất vấn thì phải xưng danh hiệu... Tiêu sư đi trên đường cũng giống như đi dưới ánh mặt trời, nhất cử nhất động đều phơi bày trước mắt bọn hưởng mã.
Vì thế, dọc đường họ chẳng giấu giếm điều gì, mà cũng chẳng cần phải giấu. Cờ trên xe tiêu viết tên tiêu cục, thân mũi tên khắc tên tiêu cục, gặp nguy hiểm việc đầu tiên là hô tên tiêu cục để đám hưởng mã từ lớn đến bé, từ thật đến giả đều biết mình là kẻ có thân phận, có chỗ dựa, đừng dễ dàng trêu chọc.
Cũng chính vì mỗi bước đi của tiêu cục đều phơi bày dưới ánh mặt trời, nên dọc đường họ phải nín nhịn hết mức, tuyệt đối không gây chuyện thị phi. Bởi lẽ mình tìm người ta không ra, nhưng người ta tìm mình thì trăm phát trăm trúng. Người ta tìm mình, có thể mò đến tận cửa; còn mình tìm người ta, đến cái tên cũng mù mờ.
Trên suốt hành trình, tiêu cục tuyệt đối không chủ động gây gổ. Nếu nhịn được thì nhịn, không nhịn được nữa cũng chỉ đánh đuổi đi, khiến đối phương biết khó mà lui, tuyệt đối không được hại đến tính mạng. Một khi đã gây ra án mạng, từ đó về sau đừng mong được bình an mà áp tiêu nữa.
Quang Đầu cầm mũi tên, mà trong lòng trăm mối tơ vò không sao lý giải nổi. Ông ấy không biết ai đã bắn mũi tên này vào gã gầy ốm? Nếu là người của tiêu cục, tại sao hắn phải bắn? Nếu không phải người tiêu cục, cớ sao lại vu oan giá họa cho tiêu cục? Còn về khuôn mặt vuông dài trong mắt gã gầy ốm, chuyện đó quá đơn giản, người trong giang hồ chỉ cần hóa trang là có thể biến thành một người khác.
Gã gầy ốm trừng mắt nhìn Quang Đầu đầy hung dữ: "Họ Đặng kia, vật chứng rành rành thế này, mày còn định chối vào đâu?"
Quang Đầu vái chào Gã gầy ốm liên tiếp mấy cái rồi nói: “Xin đại đương gia cho tôi kỳ hạn ba tháng. Sau khi hộ tống chuyến tiêu này đến nơi, tôi nhất định sẽ điều tra chân tướng rõ ràng, cho Đại đương gia một câu trả lời thỏa đáng. Nếu hung thủ là người của Long Uy Tiêu Cục, tôi sẽ bắt hắn về, để Đại đương gia tùy ý xử trí cả tôi lẫn hắn, tuyệt không hai lời. Nếu hung thủ không phải người của Long Uy Tiêu Cục, tôi thề sẽ đích thân tóm gọn, giải đến trước mặt đại đương gia để rửa nỗi oan này.”
Gã gầy ốm hừ lạnh: “Kỳ hạn ba tháng? Làm sao tao biết mày có mang hung thủ trốn luôn không?"
Quang Đầu đứng thẳng người, dõng dạc nói: “Đại đương gia, xin đừng coi thường người khác. Tôi gọi một tiếng đại đương gia là vì kính trọng ông, coi ông là bằng hữu. Họ Đặng tôi hành tẩu giang hồ hai mươi năm nay, đi đến đâu cũng có bằng hữu giúp đỡ, tất cả là nhờ vào chữ tín. Thà để người phụ tôi trăm lần, chứ tôi quyết không phụ người một lần. Tôi xưa nay nói được làm được, một lời hứa đáng giá ngàn vàng, tuyệt không nuốt lời. Nếu ông nghi ngờ tôi, cứ dùng đao chém vào chỗ này, tôi mà kêu đau một tiếng thì không phải hảo hán.” Nói đoạn, Quang Đầu chỉ tay vào cổ mình.
Gã gầy ốm lạnh lùng nhìn Quang Đầu, Quang Đầu cũng lạnh lùng nhìn lại. Kẻ lăn lộn giang hồ như Quang Đầu coi danh dự còn hơn tính mạng.
Gã gầy ốm ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Được, vậy theo ý mày. Sau ba tháng, nếu mày không đến Túy Tiên Lâu, tao sẽ tìm đến Long Uy Tiêu Cục."
Quang Đầu đáp: "Đương gia cứ yên tâm, quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy. Ba tháng sau không tìm ra hung thủ, tôi nhất định sẽ mang đầu đến gặp Đại đương gia."
Gã gầy ốm phất tay, hai ba mươi gã đàn ông đang hổ gằm hổ ghè xung quanh liền thu vũ khí vào lòng, lui về ngồi lại bàn tiếp tục uống rượu. Bất kỳ ai bước vào đây lúc này cũng không thể biết rằng nơi đây vừa trải qua một màn kiếm bạt cung giương, căng thẳng tột độ.
Chúng tôi bước ra khỏi Túy Tiên Lâu, Báo Tử và Quang Đầu đi sóng đôi, tôi theo sau. Tôi thấy bên đường, từ gã đóng đế giày, kẻ bán diêm đến người nằm lười biếng phơi nắng đều đang lén lút quan sát chúng tôi. Hễ ánh mắt chạm nhau, bọn họ liền vội vã quay đi chỗ khác.
Đám người này đều là hưởng mã cải trang, thực chất là tai mắt của bọn chúng. Toán hưởng mã do gã gầy ốm cầm đầu xem ra quân số đông đúc, thực lực hùng hậu, chẳng trách ba đoàn áp tiêu trước đó đều bị bọn họ cướp sạch.
Tiêu cục muốn tiếp tục đi về phía Tây thì Lệ Mã phải rời đi.
Tiêu cục muốn tiếp tục hành trình về phía Tây thì Lệ Mã buộc phải rời đi. Tiêu cục có một quy định nghiêm ngặt: khi áp tiêu, trong đoàn không được mang theo phụ nữ. Phụ nữ sẽ mang lại vận xui, đem đến họa huyết quang cho tiêu cục. Đao thương khí giới của tiêu cục đặt dưới đất, phụ nữ tuyệt đối không được bước qua, nếu lỡ bước qua thì phải dùng máu của người phụ nữ đó để rửa khí giới, bằng không tiêu cục sẽ gặp tai ương Đó là quy củ truyền lại từ mấy trăm năm, thậm chí cả ngàn năm nay của nghề bảo tiêu.
Sở dĩ tiêu cục phải mang Lệ Mã theo qua sa mạc Đằng Cách Lý là vì nếu bỏ lại nàng giữa sa mạc, nàng chỉ có con đường chết. Giờ đây tiêu cục muốn tiếp tục lên đường, không thể mang Lệ Mã theo nữa.
Báo Tử bảo tôi, nếu không nỡ rời xa Lệ Mã thì hãy đưa nàng đi tìm hòa thượng mập.
Quang Đầu là người rất trọng nghĩa khí giang hồ, lời đã nói ra, như tên bắn không thể thu hồi. Chú ấy đã hẹn ba tháng sau quay lại Túy Tiên Lâu thì dù có tìm được hung thủ hay không, chú ấy cũng sẽ không trốn chạy một mình mà sẽ đến để thực hiện lời hứa. Đến ngày đó, nếu Gã gầy ốm muốn hại Quang Đầu, Báo Tử sẽ đưa hòa thượng mập ra. Giang hồ từ xưa ân oán phân minh. Trên giang hồ chỉ có hai loại người: bạn và thù. Bạn của bạn vẫn là bạn, bạn của kẻ thù chính là kẻ thù.
Trong ba tháng, Quang Đầu vừa phải hộ tiêu, vừa phải tìm kẻ thù cho Gã gầy ốm, độ khó quá lớn. Còn việc tôi đi tìm hòa thượng mập thì dễ dàng hơn nhiều.
Không tìm được kẻ thù của Gã gầy ốm thì tìm ân nhân của Gã gầy ốm, để ân nhân đứng ra nói giúp một lời, may ra Gã gầy ốm sẽ bỏ qua cho Quang Đầu.
Trên đường về, Báo Tử dặn tôi: "Về đến làng, hai đứa mang đủ lương khô rồi lập tức lên đường."
Chúng tôi về đến làng, bước vào sân, tôi cất tiếng gọi: “Lệ Mã, Lệ Mã!”
Không có tiếng trả lời. Các tiêu sư đều ùa ra sân, ai nấy mặt mày ủ rũ. Tôi nhìn quanh không thấy bóng dáng Lệ Mã đâu, bèn hỏi: “Lệ Mã đâu rồi?”
Mắt híp rụt rè đáp: "Bị người ta cướp đi rồi."
Tôi như bị sét đánh ngang tai, đứng chết lặng, hồi lâu sau mới thốt nên lời: “Ai cướp?”
Mắt Híp Tử nói: “Không biết, bọn họ mặc trường bào trắng, cưỡi ngựa trắng.”
Kỳ lạ thật, suốt dọc đường truy đuổi tôi và Lệ Mã là một đám người mặc trường bào đen, sao giờ lại lòi ra một đám mặc trường bào trắng?
Các tiêu sư kể lại, trưa nay, ngay lúc chúng tôi đến Túy Tiên Lâu đàm phán, trong thôn xuất hiện một nhóm người thổi kèn, đánh trống. Nông thôn vùng Tây Bắc gọi họ là Quy Từ. Ngón nghề tủ của Quy Từ là thổi kèn bầu. Loại nhạc cụ này truyền từ Tây Vực vào vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Tây Vực ngày xưa gọi là nước Quy Từ, nên loại nhạc cụ này cũng được gọi là Quy Từ.
Khi đám Quy Từ vào làng, tiếng kèn tiếng trống rộn rã, tưng bừng, âm thanh cao vút, đã thu hút cả làng ra xem. Người của tiêu cục cũng không kìm được tò mò, trừ vài người ở lại canh gác, số còn lại đều chạy ra xem, Lệ Mã cũng chạy theo.
Đó là một đám rước dâu. Trong đoàn người thổi kèn đánh trống có khiêng một cỗ kiệu hoa. Đi trước kiệu hoa là chú rể cưỡi con lừa, đầu đội mũ dưa hấu, mình mặc áo vải thô, dáng vẻ ngờ nghệch. Nhưng cô dâu thì rất xinh đẹp. Người khiêng kiệu bước đi nhún nhảy, tấm rèm kiệu hoa đung đưa, mọi người thoáng thấy cô dâu ngồi bên trong, hình như còn đang khóc.
Trong đám đông vây xem xuất hiện mấy thanh niên trông rất hung tợn, bọn họ bàn chuyện cướp cô dâu, còn dặn dò đám đông lùi lại phía sau. Mọi người thấy sắp có màn kịch hay, liền dạt ra nhường đường.
Người của tiêu cục cũng đứng chờ xem náo nhiệt. Nói thật lòng, tên chú rể ngốc nghếch kia chẳng xứng chút nào với cô dâu xinh đẹp dường ấy. Cánh tiêu sư đều mong vụ cướp dâu này thành công.
Đột nhiên, từ xa có một toán người cưỡi ngựa trắng, mặc trường bào trắng lao tới như một cơn lốc. Họ đảo một vòng giữa dòng người rồi lập tức rời đi. Đợi đến khi mọi người hoàn hồn thì Lệ Mã đã bị cướp mất rồi.
Các tiêu sư đuổi theo không kịp.
Người bọn chúng muốn cướp không phải cô dâu, mà là Lệ Mã.
Lệ Mã bị đám người cưỡi ngựa trắng cướp đi, mấy gã thanh niên hung tợn kia cũng lên ngựa tẩu thoát, trên đường làng chỉ còn trơ lại đoàn rước dâu.
Đám Quy Từ chẳng còn hồn vía nào mà thổi kèn nữa. Mặt người nào người nấy cắt không còn giọt máu, lưỡi cứng đờ, miệng há hốc không khép lại được. Cô dâu vẫn ngồi trong kiệu khóc, chú rể sợ quá ngã lăn từ trên lưng lừa xuống đất. Các tiêu sư giận dữ xông đến trước mặt họ, nhưng nhìn bộ dạng thảm hại ấy thì biết họ cũng bị dọa cho khiếp vía. Rõ ràng họ và đám cướp Lệ Mã không phải cùng một bọn.
Hoa Diện Ly và Mắt híp dắt lạc đà ra định đuổi theo, nhưng đám người áo trắng đã đi xa tít tắp, bụi cuốn mù trời, nhìn là biết toàn những tay kỵ mã cự phách.
Trên con đường thông sang Tây Vực này, tiêu sư chỉ là những lữ khách vội vã, họ hầu như không có bạn bè. Tiêu sư giống như bà nông dân gánh hai làn trứng vào thành phố, chẳng mấy ai muốn kết bạn với họ.
Đám người áo trắng đã dùng kế sách thường thấy nhất trên giang hồ: Thâu lương hoán trụ (Trộm xà đổi cột).
Lệ Mã bị cướp đi mất, các tiêu sư đều bó tay hết cách.
Tôi đứng ở đầu làng Diêu Đầu, lòng đau như cắt. Tôi dắt một con ngựa đến, định nhảy lên đuổi theo. Báo Tử giữ chặt dây cương, nói: "Cháu đuổi theo như vậy chỉ có đường chết."
Nước mắt tôi trào ra: "Dù có chết, cháu cũng muốn chết cùng Lệ Mã."
Báo Tử nói: "Cháu không được chết, Lệ Mã cũng sẽ không chết. Chúng ta sẽ nghĩ cách."
Tiêu sư không có bạn trên con đường này, nhưng Báo Tử thì có, đó chính là Gã gầy ốm. Chú và Gã gầy ốm đã kết giao bằng hữu trên bàn rượu. Rượu là chất xúc tác của tình yêu, cũng là chất dung môi gắn kết tình bằng hữu.
Báo Tử nhờ gã gầy ốm nghe ngóng lai lịch của đám người áo trắng.
Gã gầy ốm đã lăn lộn ở vùng này mấy chục năm, biết rõ từng cái cây, ngọn cỏ. Gã gầy ốm phát lệnh truy tìm, hưởng mã giăng thiên la địa võng khắp nơi.
Đến nửa đêm, có người tìm đến Báo Tử, báo rằng họ đã tìm thấy đám người áo trắng và Lệ Mã, đồng thời cũng dò la được lai lịch của chúng.
Gia thế của Lệ Mã vô cùng hiển hách, cha nàng là một cự phú vùng Tây Vực. Nhà họ mở thương điếm khắp các thành trì ở Tây Vực. Cha Lệ Mã năm mươi tuổi mới sinh được nàng, nên cưng chiều nàng hết mực.
Tây Vực có một giáo phái tên là Mạc Da Giáo, thế lực cực lớn. Giáo chủ đều do phụ nữ đảm nhiệm, mỗi đời giáo chủ đều là thiếu nữ xinh đẹp nhất, thông minh nhất. Kể từ khi nhậm chức, giáo chủ không được có quan hệ xác thịt với đàn ông, cả đời phải giữ thân như ngọc, trước lúc lâm chung mới truyền ngôi lại cho một thiếu nữ thông minh nhất, xinh đẹp nhất.
Mỗi đời giáo chủ Mạc Da khi về già, công việc chỉ còn lại một điều duy nhất, đó là tìm kiếm người kế vị, tìm kiếm tân giáo chủ.
Lão giáo chủ thường che mặt bằng lớp voan mỏng, dẫn theo tùy tùng đi hàng ngàn dặm để tìm người thích hợp nhất. Một khi đã chọn trúng ai, bà ta sẽ đến nhà đề nghị, nếu đối phương không đồng ý thì sẽ cướp về.
Thế lực của Mạc Da Giáo rất lớn, môn đồ hàng vạn, rải rác khắp Tây Vực, không ai dám đối đầu với họ.
Năm ấy, lão giáo chủ gặp Lệ Mã ở thành Hami.
Phụ nữ Tây Vực đi đường đều đeo mạng che mặt, mặc áo choàng dài, lão giáo chủ không thể nhìn rõ dung nhan của họ. Nhưng trong nhà tắm, tất cả những người phụ nữ trùm kín mít ấy đều sẽ trút bỏ mọi trang phục, để lộ ra phần chân thật nhất của mình.
Lão giáo chủ chọn nhà tắm làm nơi tuyển chọn.
Thời đó nhà tắm chưa có vòi hoa sen, tất cả đều tắm trong bể lớn, nói nôm na là nhà tắm công cộng.
Nhà tắm ở Hami rất bề thế, nhìn từ xa như một chiếc mũ úp ngược trên mặt đất. Bước vào trong là một bể nước tròn rất lớn, mọi người cởi hết quần áo rồi nhảy xuống ngâm mình.
Lúc ấy đang là mùa hè, nước không nóng lắm, trong nhà tắm cũng không có hơi nước mịt mù.
Lão giáo chủ đã túc trực ở Hami suốt mười ngày mà chưa tìm được đối tượng ưng ý. Đến ngày thứ mười, ngay khi lão giáo chủ định rời Hami để đi nơi khác thì bất ngờ thấy một cô gái bước vào.
Cô gái vừa bước vào, tất cả mọi người đều ngước nhìn nàng như sao vây quanh trăng. Dù tất cả đều là phụ nữ, nhưng ánh mắt ai nấy đều ngập tràn vẻ ngưỡng mộ và ghen tị. Cô gái vừa trút bỏ xiêm y, đứng bên hồ tắm, vẻ đẹp chim sa cá lặn, diễm lệ vô ngần.
Lão giáo chủ dùng ánh mắt soi mói nhìn cô gái, từ mái tóc đến ngón chân, rồi từ ngón chân lên mái tóc, bà ta vẫn không tìm ra bất kỳ khiếm khuyết nào. Cô gái ấy tóc đen như gỗ mun, đôi mắt long lanh biết nói, làn da trắng mịn, môi hồng răng trắng, dáng người cao ráo, đôi gò bồng đảo căng tròn, vòng mông nảy nở cong vút... Đó là một người phụ nữ khiến ngay cả đàn bà cũng phải đem lòng yêu mến, là kiệt tác tuyệt mỹ nhất của chốn nhân gian.
Nhưng trong mắt bà ta, nàng là người kế vị thích hợp nhất cho ngôi vị giáo chủ.
Lão giáo chủ lặng lẽ tiến lại gần cô gái, nhìn nàng uyển chuyển bước xuống hồ, nhìn mặt nước từ từ dâng lên đầu gối, đùi, bụng, rồi đến ngực nàng. Bà ta thấy đôi gò bồng đảo của nàng khẽ rung rinh trên mặt nước, đầy vẻ cám dỗ vô hạn. Đến đàn bà nhìn còn thấy mê mẩn.
Sau khi cô gái tắm xong bước ra khỏi nhà tắm, lão giáo chủ lặng lẽ bám theo sau. Bà ta còn phải kiểm tra xem nàng có còn là trinh nữ hay không. Người con gái đã thất thân thì không thể đảm nhiệm chức giáo chủ Mạc Da Giáo.
Cô gái bước đi nhẹ nhàng, đầy sức sống, nàng hoàn toàn là một thiếu nữ vô tư, chẳng hay biết rằng chỉ vì một lần đi tắm mà cuộc đời nàng đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Lão giáo chủ đi theo nàng, thấy nàng bước vào một tòa dinh thự nguy nga tráng lệ.
Lão giáo chủ sai người dò la, biết được cô gái tên là Lệ Mã, là con gái duy nhất của vị cự phú Tây Vực. Trong nhà Lệ Mã cái gì cũng có, đương nhiên chẳng thiếu phòng tắm. Nhưng Lệ Mã rất hiếu động. Do được nuông chiều từ nhỏ nên nàng có tính cách như con trai, trời không sợ đất không sợ, nàng cứ đòi chạy ra nhà tắm công cộng để tắm.
Nàng không ngờ rằng, chỉ một lần duy nhất ấy đã khiến nàng lọt vào tầm ngắm của lão giáo chủ.
Sau khi tìm được người kế vị ưng ý, việc tiếp theo của lão giáo chủ là kiểm tra xem nàng có phải xử nữ hay không.
Lão giáo chủ hóa trang thành một bà già ăn mày, ngồi xổm ở ngã tư trước cửa nhà Lệ Mã. Chỉ cần Lệ Mã ra khỏi cửa, chắc chắn sẽ đi qua đây. Lệ Mã đã rơi vào tầm kiểm soát của lão giáo chủ mà bản thân nàng vẫn hồn nhiên không hay biết.
Thấy Lệ Mã đi tới, lão giáo chủ chìa gậy ra chặn đường. Lệ Mã tưởng bà ta là bà già ăn xin, bèn ném cho một đồng bạc.
Lão giáo chủ nói: “Bôn ba nghìn dặm chịu lửa thiêu đốt, vét cạn tâm huyết vì thế nhân. Không tham vàng, không ham bạc, chỉ mong vì các ngươi mà chỉ lối soi đường.” Lão giáo chủ nói bằng tiếng Ba Tư.
Lệ Mã ngẩn người nhìn lão giáo chủ, không biết bà ta có lai lịch gì. Nàng cảm thấy một bà lão ăn mày không thể nói ra những lời như vậy.
Bà lão ăn mày nói: "Hãy đưa tay phải ra, ta sẽ giúp cô giải trừ khổ nạn."
Lệ Mã nhìn khuôn mặt đầy mụn nhọt của bà ta, rồi bật cười. Từ nhỏ nàng đã được cưng chiều hết mực, muốn gì được nấy, làm gì có khổ nạn nào?
Bà lão nói: "Sinh lão bệnh tử, bệnh tật tai ương, ai cũng không thoát được."
Lệ Mã ngập ngừng đưa cánh tay phải ra. Nàng cảm thấy bà lão có một sức hút vô cùng lớn, khiến người ta không tự chủ được, cũng không thể chối từ.
Bà lão sờ nắn cánh tay Lệ Mã rồi phán: "Cô không còn là trinh nữ."
Lệ Mã hỏi: "Trinh nữ là gì?"
Bà lão nói: "Là cô đã làm chuyện đó với đàn ông."
Lệ Mã hỏi: "Chuyện gì?"
Bà lão chỉ trỏ nói: "Mỗi người con gái sinh ra, trên cánh tay phải đều có một nốt thủ cung sa, khi cô ta lên giường ngủ với đàn ông, thủ cung sa sẽ biến mất."
Lệ Mã nói: "Chỗ này của tôi xưa nay chưa từng có nốt thủ cung sa nào cả."
Bà lão nói: "Thế chứng tỏ cô đã thất thân rồi."
Lệ Mã vẫn chưa hiểu, nàng lại hỏi: "Thất thân là gì?"
Bà lão nhìn Lệ Mã, dùng gậy chỉ vào phần dưới của nàng nói: "Ta thấy rồi, có đàn ông đã nhét cái thứ của hắn vào bên dưới của cô."
Lệ Mã vẫn ngơ ngác, nàng hỏi: "Cái thứ gì của đàn ông?"
Bà lão nói: "Cái thứ bên dưới của đàn ông ấy."
Cái thứ gì bên dưới của đàn ông? Lệ Mã vẫn không hiểu, hơn nữa, bên dưới đàn ông là cái gì chứ? Lệ Mã chưa từng nhìn thấy bao giờ.
Nhìn biểu cảm của Lệ Mã, lão giáo chủ tin rằng nàng vẫn còn trinh trắng. Bản thân lão giáo chủ tuy cũng chưa từng trải qua chuyện giữa nam và nữ ấy, nhưng bà ta hiểu rõ một điều, hễ làm chuyện đó thì sẽ sinh ra con cái. Trong quan niệm mấy chục năm của lão giáo chủ, việc ấy bị xem là điều vô cùng nhơ nhuốc.
Tiếp theo, lão giáo chủ sẽ đến nhà Lệ Mã.
Trong thâm tâm lão giáo chủ, được làm giáo chủ Mạc Da Giáo là vinh quang lớn nhất của mỗi người phụ nữ. Bà ta cảm thấy việc bà ta mời Lệ Mã làm giáo chủ là một ân huệ dành cho gia đình nàng.
Hôm sau, cha của Lệ Mã nhận được một bức thư, trong thư nói giáo chủ Mạc Da Giáo sẽ đến thăm nhà.
Cha Lệ Mã vô cùng mừng rỡ. Mạc Da Giáo tín đồ đông đảo, thực lực hùng hậu, giáo chủ quyền năng một tay che trời, hô mưa gọi gió, người thường muốn gặp mặt giáo chủ một lần cũng không thể, nay giáo chủ lại đích thân đến nhà, cha Lệ Mã cảm thấy đây là vinh dự lớn lao. Ông sai gia nhân quét dọn sân vườn, trồng thêm hoa cỏ, sơn sửa nhà cửa để chuẩn bị đón tiếp giáo chủ.
Mấy ngày sau, trước cửa nhà tiếng chiêng trống vang trời. Mười sáu cô gái xuất hiện, tám người bên trái, tám người bên phải, ai nấy đều đẹp như tiên giáng trần. Tám cô bên trái mặc áo đỏ, tám cô bên phải mặc áo xanh. Tám cô bên trái tóc vàng mắt xanh, tám cô bên phải tóc đen mắt đen. Ở vùng đất Tây Vực rộng lớn này, tìm một cô gái tóc vàng mắt xanh hay tóc đen mắt đen không khó, nhưng tìm được người xinh đẹp thì rất khó, muốn tìm đủ mười sáu người như vậy lại càng khó gấp bội.
Sau mười sáu cô gái là mười sáu kỵ sĩ áo đen. Họ mặc giáp đen, cưỡi ngựa đen, tay cầm trường thương, trông vô cùng oai phong lẫm liệt. Sau kỵ sĩ áo đen là kỵ sĩ áo trắng. Kỵ sĩ áo trắng mặc giáp trắng, cưỡi ngựa trắng, tay cầm trường đao, ánh đao phản chiếu ánh mặt trời, trông cực kỳ dũng mãnh.
Khi kỵ sĩ áo trắng đi qua, một cỗ kiệu được khiêng tới. Kiệu được trang hoàng lộng lẫy, bốn phía rủ tua rua, rèm kiệu thêu hình rồng bay. Kiệu dừng lại, mấy gã tráng sĩ thân hình vạm vỡ nằm rạp xuống trước kiệu. Giáo chủ bước xuống, bà ta giẫm lên những tấm lưng trần của đám tráng sĩ để bước xuống đất. Bên cạnh có một tỳ nữ dìu đỡ.
Giáo chủ đã rất già, trên mặt bà ta trát đầy phấn vàng tượng trưng cho phú quý, nhưng vẫn không che được những nếp nhăn dúm dó như vỏ cam. Giáo chủ mặc áo bào thêu chỉ vàng, nhưng vẫn không giấu được dáng đi già nua.
Mọi người thấy giáo chủ bước ra đều quỳ rạp xuống đất. Các thiếu nữ đồng thanh hát thánh ca. Khung cảnh ấy tràn ngập vẻ thần thánh và trang nghiêm.
Lệ Mã và cha cũng quỳ trên đất. Theo quy định của Mạc Da Giáo, bất cứ ai nhìn thấy giáo chủ đều phải quỳ xuống, không được nhìn thẳng vào giáo chủ, nếu không sẽ là đại bất kính. Trên mảnh đất này, quyền lực của giáo chủ là vô biên, tín đồ rải khắp như hạt giống gieo xuống từng cánh rừng, từng ngôi làng, từng hạt cát. Trên triều đình có người là tín đồ; giữa ruộng đồng có người là tín đồ; trong đám buôn bán gánh gồng có người là tín đồ; trong đám phu xe bán nước cũng có người là tín đồ; ngay cả trong quân đội cũng đầy rẫy tín đồ.
Giáo chủ quyền lực vô biên, pháp lực vô hạn, cho nên chỉ có trinh nữ xinh đẹp nhất vùng đất này mới được làm giáo chủ. Các tín đồ cho rằng: mục tiêu cuối cùng của mọi người phụ nữ trong đời chính là trở thành giáo chủ.
Nhưng trong số "mọi người phụ nữ" đó không bao gồm Lệ Mã.
Lệ Mã từng dùng tiếng Ba Tư nói với tôi giữa sa mạc rằng: Em chỉ cần tình yêu ngắn ngủi chốn nhân gian, không cần sự trường sinh vĩnh hằng nơi thiên đường. Em không muốn làm giáo chủ, em chỉ nguyện được làm vợ anh.
Tiếc là khi đó tôi nghe mà không hiểu.
Ngày hôm ấy, lão giáo chủ bước chân vào nhà Lệ Mã, lão ngỏ lời đề nghị với nàng cùng người cha, muốn đưa Lệ Mã lên làm giáo chủ.
Cha Lệ Mã biết rằng, chỉ cần con gái Lệ Mã bước vào thánh điện huy hoàng của Tây Vực kia, cuộc đời con gái sẽ giao cho Mạc Da Giáo. Từ đó về sau, con gái không còn là của ông nữa, nàng thuộc về Mạc Da Giáo, chẳng được nhận lại cha mình, cũng chẳng còn chút tự do nào.
Vô số phụ nữ ảo tưởng về việc bước vào thánh điện kia, bởi vì thánh điện đó là một chiếc lồng son, cả đời hưởng thụ sơn hào hải vị, gấm vóc lụa là, có kẻ hầu người hạ, muốn gì được nấy. Nhưng duy chỉ có hoan lạc nam nữ chốn trần gian là nàng không được phép có.
Gia đình Lệ Mã không thiếu đồ ăn thức uống ngon nhất, cũng chẳng thiếu quần áo đẹp nhất. Lệ Mã từ nhỏ đã sống trong sự bao bọc của mọi người, nàng chưa bao giờ biết nghèo đói và ưu sầu là gì.
Cha Lệ Mã không muốn con gái bước vào chiếc lồng son ấy, Lệ Mã cũng không muốn bước vào. Mặc dù lúc này Lệ Mã chỉ mới lờ mờ hiểu về chuyện nam nữ.
Nhưng họ không thể từ chối thẳng thừng. Uy quyền của Mạc Da Giáo là bất khả xâm phạm, càng không thể khiêu khích. Giáo chủ đã chấm trúng cô gái nào để kế vị, đó là ân huệ lớn lao, là điều mà hầu hết các thiếu nữ đều mơ ước. Vô số thiếu nữ chỉ cần được giáo chủ đồng ý là đã hoàn thành tâm nguyện một bước lên trời.
Cha Lệ Mã nói với lão giáo chủ, xin hãy cho ông thời gian chuẩn bị, ba ngày sau sẽ đưa Lệ Mã vào thánh điện.
Lão giáo chủ vừa đi khỏi, cha Lệ Mã lập tức giải tán gia nhân, chôn giấu gia sản, chuẩn bị đưa con gái cùng bỏ trốn. Ông không muốn con làm giáo chủ, ông chỉ muốn con tìm được một người chồng tốt, vợ chồng ân ái, răng long đầu bạc. Khi cả hai về già sẽ được nhìn cảnh con cháu quây quần, hưởng niềm hạnh phúc viên mãn. Lệ Mã lại càng không muốn bước vào tòa thánh điện xây bằng vàng ròng kia, bước vào cuộc sống được người người cung phụng nhưng vô cùng tẻ nhạt ấy.
Ba ngày sau, trên đường trốn chạy, họ bị người của lão giáo chủ bắt lại.
Lão giáo chủ xưa nay nói một là một, hai là hai, mệnh lệnh của bà ta là thánh chỉ, không ai dám phản kháng, không ai dám làm trái. Nếu nói trên mảnh đất này có một người có thể đứng trên tất cả, có thể nắm quyền sinh sát trong tay, thì đó chính là lão giáo chủ.
Lão giáo chủ đuổi cha Lệ Mã ra khỏi vùng đất này, đuổi sang bên kia sa mạc Đằng Cách Lý, rồi đưa Lệ Mã vào trong thánh điện.
Thời gian như tằm xuân ăn rỗi, từng chút một nhả hết sinh mệnh tàn dư của lão giáo chủ. Lão giáo chủ biết mình không còn sống được bao lâu, bà ta dốc lòng rèn giũa Lệ Mã để nàng kế thừa y bát. Lệ Mã chẳng khác nào cái cây được trồng trong nhà, buộc phải kìm nén mọi cá tính cùng những khát khao mãnh liệt của bản thân, chỉ để thích nghi với mái hiên thấp bé tù túng này.
Lão giáo chủ nói cho nàng biết, trong thánh điện có một đội quân tên gọi Thánh điện kỵ sĩ. Thánh điện kỵ sĩ lại chia làm hai loại, những kẻ mặc bào đen cưỡi ngựa đen có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho giáo chủ; còn những kẻ mặc bào trắng cưỡi ngựa trắng lại nắm trong tay quyền thực thi pháp luật đối với tất cả mọi người, bao gồm cả giáo chủ.
Trong Mạc Da Giáo, lời nói của giáo chủ chưa phải là quyền uy tối thượng, quyền uy tối thượng là pháp quy do các đời giáo chủ để lại. Không ai dám vi phạm pháp quy. Giáo chủ phạm pháp, tội cũng như thứ dân.
Nửa năm sau, cha của Lệ Mã lặn lội vượt qua sa mạc Đằng Cách Lý, tìm đến tận cổng thánh điện. Thế nhưng chốn thánh điện ấy sâu tựa biển khơi, lại thêm những kỵ sĩ áo đen canh gác, thử hỏi một người như cha nàng làm cách nào có thể lọt vào bên trong?
Cha Lệ Mã hóa trang thành kẻ ăn mày, ngày ngày ăn xin trước cửa thánh điện, ông hát những câu hát trong vở kịch, hy vọng con gái có thể nghe thấy:
Lời giải chữ trên huyết thư vừa thốt ra khỏi môi, quả nhiên chính là con trai đã tìm đến cửa am. Lòng mẹ những muốn tiến tới để nhận lại con, nhưng chợt nhớ ra bản thân giờ là kẻ tu hành chốn Phật môn. Khổ thay thân phận người xuất gia chẳng được phép luyến lưu chốn hồng trần, hận thay kiếp ni cô không thể có con cháu nối dõi. Nếu hôm nay mẹ đánh liều nhận con, đại họa chắc chắn sẽ giáng xuống đầu. Khắp phố lớn ngõ nhỏ người ta sẽ bàn tán xôn xao, các thí chủ sẽ vác gậy đuổi mẹ ra khỏi cửa am. Đến lúc ấy, tay cầm gậy xin cơm, mẹ phải trốn ngược xuôi chẳng còn nơi dung thân, lại bị đám trẻ con bám theo cười nhạo. Chúng chỉ trỏ bảo rằng ni cô mà cũng có nhân tình. Còn nếu mẹ nhất quyết không nhận con, thì làm sao đành lòng nhìn đứa trẻ tội nghiệp phải đau khổ. Con đã đứng ngay trước mặt sao có thể làm ngơ, mười sáu năm trời mẹ mong nhớ con đến tận bây giờ. Nhưng nếu hôm nay mẹ nhận con, thì con cũng khó mà tồn tại trên đời. Tiếng xấu con hoang sẽ bị người đời cười chê, con trai của ni cô lại càng mang nhục vô vàn. Họ hàng bạn bè sẽ đều xa lánh, nhà họ Từ cũng chẳng cho con bước chân vào cửa. Chốn trường thi sẽ cấm con vào dự, uổng công bấy lâu con đèn sách khổ luyện thơ văn. Con mẹ tài cao chí lớn, tương lai rạng rỡ, nhận con lúc này chẳng hóa ra lại hại cả đời con. Thôi thôi đành cắn răng hạ quyết tâm, mặc cho nước mắt chảy ngược vào lòng đau đớn khôn nguôi. Chẳng phải người mẹ này không muốn nhận con đâu, con ơi, tất cả chỉ vì muốn con ở trên đời được đường hoàng làm một người tử tế.
Đoạn này là lời hát trong vở Tần Khang "Am Đường Nhận Mẫu". Cha của Lệ Mã vốn là người từng trải, đi đây đi đó nhiều lại có kiến thức uyên bác, nên ông cũng thông thuộc và biết hát đoạn tích này.
Vở diễn "Am Đường Nhận Mẫu" kể về một câu chuyện bi hoan ly hợp đầy sầu muộn. Chuyện rằng nàng ni cô cùng chàng tú tài nọ đem lòng yêu thương nhau, những tưởng có thể cùng nhau rời khỏi cửa thiền để kết nghĩa phu thê, nào ngờ chàng tú tài lại đột ngột lâm bệnh nặng rồi qua đời. Sau khi hạ sinh đứa trẻ, nàng ni cô đành viết một phong huyết thư đặt vào trong tã lót, rồi bỏ con lại bên vệ đường.
Đứa bé được người ta nhặt về, mười sáu năm sau đỗ Giải nguyên. Giải nguyên là người đỗ đầu kỳ thi Hương, tương đương với thủ khoa đại học toàn tỉnh ngày nay. Người con vô tình nhìn thấy huyết thư, biết được thân thế của mình, cũng biết mẹ mình là ni cô, bèn quyết tâm tìm mẹ ruột. Hễ thấy ni cô am là chàng vào bái phỏng. Một ngày nọ đến ngôi am nơi mẹ đang tu hành. Qua những lời thăm dò lẫn nhau, người mẹ cuối cùng cũng biết chàng thiếu niên anh tuấn trước mặt chính là con ruột của mình. Thế nhưng, bà không dám nhận.
Cha Lệ Mã hát ngoài thánh điện suốt ba tháng ròng, thu hút rất nhiều người đến xem. Ba tháng sau, tin tức cuối cùng cũng truyền đến tai Lệ Mã.
Lệ Mã cảm thấy ông lão này có ẩn tình gì đó, nếu không tại sao suốt ba tháng trời ông ta cứ hát đi hát lại mỗi khúc hát này? Nàng sai kỵ sĩ đưa ông lão vào trong thánh điện.
Lệ Mã vừa nhìn thấy người bước vào thánh điện liền nhận ra là cha mình. Cha đến để đón nàng đi. Cha vừa nhìn thấy người đẹp đeo vàng đeo bạc kia cũng biết là con gái, nhưng ông cũng không dám tiến lên nhận mặt.
Xung quanh có vô số đôi mắt đang chằm chằm theo dõi nhất cử nhất động của Lệ Mã.
Lệ Mã hỏi: "Người đến là ai?"
Cha đáp: "Đi xin ăn đến đây, xin cho chốn dung thân."
Lệ Mã hỏi: "Ông biết làm gì?"
Cha đáp: "Tôi là thợ làm vườn, biết nghề cắt tỉa."
Lệ Mã giữ cha lại trong thánh điện làm một người thợ chăm sóc hoa cỏ.
Mỗi ngày trôi qua, người cha đều có thể nhìn thấy con gái mình. Ông dõi theo bóng dáng nàng lướt qua trước mặt với đôi lông mày cau lại đầy sầu muộn, nhưng ông chẳng thể tiến lại nhận con. Ông nhìn ánh đèn nơi cửa sổ phòng nàng thắp sáng đến tận đêm khuya, nhìn bóng người lẻ loi in trên khung cửa, vậy mà ông cũng chẳng thể nhận con. Ông thấy con gái mình giữa cảnh tiền hô hậu ủng, được muôn người vây quanh như sao vây lấy trăng, thế nhưng nàng lại chẳng hề cảm thấy vui vẻ chút nào... Ông có thể nhìn thấy con, nhưng tuyệt đối không được bước tới nhận nhau. Ông đứng ở một khoảng cách rất gần, gần ngay trước mắt con gái mình, vậy mà thực tế lại xa xôi vạn dặm, xa đến mức chẳng thể nào chạm tới được.
Đêm đó, lão giáo chủ qua đời.
Trong chốn thánh điện, việc lão giáo chủ thăng thiên là một sự kiện trọng đại vô cùng, từ trong ra ngoài đâu đâu cũng bận rộn hỗn loạn thành một đoàn. Cha của Lệ Mã đã chớp lấy thời cơ này, đưa nàng bỏ trốn khỏi thánh điện. Họ đào lên một phần tài sản đã chôn giấu từ trước, rồi cùng nhau băng qua sa mạc Đằng Cách Lý để tìm đến một ngôi làng có tên gọi là A Y Lạp.
A Y Lạp, ngôi làng hẻo lánh và tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài ấy, giờ đây là nơi sinh sống của người thiếu nữ xinh đẹp nhất vùng đất này cùng người cha vô cùng hiền từ của nàng. Thế gian ngoài kia tuy rộng lớn bao la, nhưng họ tin chắc rằng sẽ chẳng có ai tìm ra mình. Người cha vẫn luôn mòn mỏi đợi chờ ngày con gái Lệ Mã có thể bắt đầu một cuộc đời bình dị như bao người khác, được hưởng cảnh chồng cày vợ dệt, sinh con đẻ cái, cứ thế đời đời truyền nối về sau.
Nhưng con gái Lệ Mã lại sở hữu dung mạo quá mức xinh đẹp, khiến cho chẳng một ai dám đến dạm ngõ cầu thân. Con gái vốn không nên quá xinh đẹp, bởi lẽ từ xưa đến nay hồng nhan thường bạc mệnh, những cô gái có nhan sắc chim sa cá lặn thường dễ vướng phải biết bao chuyện thị phi và rắc rối, xung quanh lúc nào cũng có đủ hạng đàn ông vây quanh. Đàn bà con gái chỉ cần dung mạo dễ nhìn là đủ rồi, như vậy mới có thể nắm giữ được mọi hạnh phúc mà một người phụ nữ nên có.
Kể từ sau khi giáo chủ Lệ Mã bỏ trốn, các Thánh điện kỵ sĩ đã giăng ra thiên la địa võng khắp nơi nhằm truy tìm tung tích của nàng.
Tuy vậy, bọn họ chẳng thể ngờ được rằng, Lệ Mã lại có đủ can đảm để băng qua sa mạc Đằng Cách Lý hoang vu không dấu chân người và còn hung dữ hơn cả thú dữ, để tìm đường sang phía bên kia sa mạc sinh sống.
Ba năm sau, cả Lệ Mã và cha đều tin rằng thánh điện đã có chủ nhân mới, chắc hẳn mọi người đã quên chuyện cũ. Họ quyết định một lần nữa băng qua sa mạc Đằng Cách Lý để đào lên toàn bộ số tài sản còn chôn giấu, sau đó cùng nhau trở về ngôi làng A Y Lạp ở phía Đông sa mạc để tiếp tục cuộc đời bình dị.
Họ quay lại phía tây sa mạc, đào hết trân bảo lên, rồi trở về A Y Lạp. Nhưng bão cát ập đến, bão cát thổi suốt hơn mười ngày trời, cồn cát bị san bằng, hố cát bị lấp đầy, hai cha con hoàn toàn mất phương hướng.
Điều tồi tệ hơn cả là giữa lúc tuyệt vọng ấy, người cha lại lâm trọng bệnh.
Lệ Mã giết thịt con lạc đà cuối cùng cũng không cứu sống được cha. Nàng vứt bỏ những châu báu ngọc ngà giá trị liên thành lại trong sa mạc, tìm một sợi dây thừng, kéo thi thể cha, đi về hướng A Y Lạp.
Sau đó, Lệ Mã gặp được đoàn vận tiêu, gặp được tôi.
Lệ Mã không cần sự trường sinh vĩnh hằng nơi thiên đường, chỉ cần tình yêu ngắn ngủi chốn nhân gian. Chúng tôi ở bên nhau, chúng tôi đi giữa sa mạc hoang lương khắc nghiệt còn hơn là ngồi trong tòa thánh điện dát vàng nạm ngọc.
Nhưng chẳng một ai có thể ngờ rằng, vào cái đêm định mệnh ấy tại quán trọ nơi cửa ngõ sa mạc, tôi đã uống say rồi thô bạo giật phăng tấm khăn che mặt của Lệ Mã xuống. Hành động ấy đã bị đám tai mắt của Thánh điện kỵ sĩ phát giác. Kể từ giây phút đó, mọi chuyện hoàn toàn thay đổi.
Sau khi nghe người gã gầy ốm phái tới kể hết về thân thế của Lệ Mã, tôi thao thức suốt đêm không sao chớp mắt nổi.
Trên thế gian này chỉ có duy nhất một vị giáo chủ của Mạc Da giáo, nhưng giữa chốn giang hồ hiểm ác này cũng chỉ có duy nhất một Ngai Cẩu mà thôi. Tôi chẳng màng đến việc Lệ Mã là vị giáo chủ nắm giữ quyền uy vô hạn hay nàng có gia thế hiển hách đến nhường nào, tôi chỉ cần Lệ Mã, người con gái đã cùng tôi nương tựa lẫn nhau giữa sa mạc mênh mông, cùng tôi vượt qua cửa tử để giành lại sự sống.
Tôi không cần sự trường sinh vĩnh cửu nơi thiên đường, tôi chỉ cần một tình yêu ngắn ngủi giữa chốn nhân gian.
Tôi nhất định phải cứu bằng được Lệ Mã ra ngoài.