Tổ Bịp
- 11143 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 17. Lần theo dấu vết
Chiều ngày hôm sau, lão mù giả lật đật mang tin tới. Lão bảo các lộ nhân mã đều đã quay về, phía Thần Hành Thái Bảo đã đánh hơi được hành tung của con mụ đó. Hiện tại, Thái Bảo đang âm thầm bám theo và sai người về báo tin, hướng đi là về phía Nam.
Lão mù giả còn cho biết, cứ đến mỗi ngã rẽ hay góc ngoặt, Thần Hành Thái Bảo đều sẽ để lại ám hiệu là hình một con dao nhỏ.
Nhị Sư thúc nghe xong, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Ông kéo tôi lên chiếc xe ngựa, thúc đánh xe quất roi thật mạnh, chạy dọc theo con lộ hướng Đông Nam mà lao vun vút.
Xe ngựa phi nước đại chừng nửa canh giờ, khi mặt trời đã bắt đầu chếch bóng về tây thì gặp một ngã ba đường. Nhị Sư thúc ra hiệu cho xe dừng lại. Bác đánh xe gồng mình kéo thắng, một tiếng kít chói tai vang lên khô khốc, xe ngựa khựng lại, bốn móng ngựa vẫn còn gõ xuống mặt đất. Nhị Sư thúc quay sang khẽ bảo tôi:
— Xuống xem thử bên đảo niệm hay thiết niệm có thanh tử không.
Nhị Sư thúc đang dùng tiếng lóng giang hồ để tránh tai mắt gã phu xe. Chúng tôi đang đi về phía Nam, gặp hai ngã rẽ Đông và Tây. Trong tiếng lóng, phía Đông gọi là "đảo niệm", phía Tây là "thiết niệm", con dao gọi là "thanh tử", còn ám khí là "ám thanh tử". Ý ông là bảo tôi xuống xem lối rẽ phía Đông hay phía Tây có dấu dao khắc hay không.
Tôi nhảy xuống xe, quan sát một hồi thì thấy trên thân một cây cổ thụ cao lớn ngay đầu lối rẽ phía Đông có khắc hình một con dao dài chừng bốn tấc. Vết khắc cực kỳ tinh xảo, cán dao cong cong, lưỡi dao sắc lẹm, mũi dao chỉ thẳng về hướng Đông.
Tôi trèo nhanh lên xe, chỉ tay về phía đó. Nhị Sư thúc dứt khoát:
— Đi hướng Đông!
Chiếc xe ngựa lại tiếp tục hành trình, lộc cộc lao về phía mặt trời lặn.
Khi hoàng hôn buông xuống, xe ngựa đi vào một ngôi làng nhỏ. Đám chó trong làng thấy cỗ xe lạ thì sủa ông ổng, đuổi theo sau; mấy đứa trẻ con cũng hò hét chạy theo đám bụi cuốn mù mịt. Băng qua ngôi làng, con đường lại rẽ ngoặt sang trái. Tôi nhảy xuống, lần này trên bức tường gạch của hộ dân cuối làng, lại thấy một con dao nhỏ khác Thần Hành Thái Bảo để lại, vẫn là những nét khắc tinh tế, sắc sảo ấy.
Qua khỏi làng không xa là một thị trấn. Phố xá ở đây chật hẹp, khách bộ hành thưa thớt. Giữa đường, một đám người đang vây quanh, kẻ khom lưng, người rướn cổ nhìn chằm chằm xuống đất như đang xem thứ gì lạ lắm.
Đám đông chắn ngang lối đi, chúng tôi đành phải xuống xe đi bộ.
Vừa mới chen chân vào, đã nghe thấy một kẻ trầm trồ:
— Lợi hại thật, nhìn thằng nhóc này xem, loáng cái đã ăn được bảy tám đồng bạc trắng rồi.
Tôi nhìn vào giữa vòng vây, thấy một gã thanh niên đang ngồi xếp bằng dưới đất, trước mặt úp hai cái bát sứ. Gã nhấc bát lên cho mọi người xem: đáy bát bên trái có một trái cầu đỏ nhỏ xíu lông lá, bát bên phải thì trống rỗng. Sau đó, đôi tay gã bắt đầu múa may, hai cái bát sứ tráo qua đổi lại nhanh như chớp mắt, rồi gã dừng lại bắt mọi người đoán xem trái cầu nằm ở bát nào.
Một thiếu niên đưa cho gã một đồng bạc trắng. Gã bắt đầu xoay bát. Khi dừng lại, cậu thiếu niên chỉ tay, giọng chắc nịch:
— Nó nằm ở bát này!
Gã thanh niên lật bát lên, quả nhiên trái cầu đỏ nằm ở đó. Gã đành phải đưa hai đồng bạc cho cậu thiếu niên. Cứ thế, chỉ sau vài lượt, cậu ta đã gom về hơn mười đồng bạc trắng ngon ơ.
Tôi nhìn mà ngứa ngáy chân tay, bèn chen vào định thử vận may. Cậu thiếu niên kia lập tức thu tay, bảo tôi:
— Ăn thế là đủ rồi, tôi đi đây, nhường chỗ cho cậu đấy.
Tôi hớn hở ngồi thụp xuống, mắt dán chặt vào gã thanh niên khi gã đặt trái cầu vào bát bên trái. Vậy mà khi gã xoay tới xoay lui một hồi, đầu óc tôi cũng quay cuồng theo, kết quả là thua đứt một đồng bạc.
Tôi không tin mắt mình lại kém đến thế, bèn đặt tiếp một đồng nữa. Lần này, trái cầu vẫn ở bên bát trái, tôi nhìn chòng chọc vào cái bát đó, không tin gã có thể biến nó đi đâu được. Gã vừa xoay vừa lầm rầm đọc khẩu quyết: "Mắt anh tinh, tay tôi nhanh, thắng thua trong chớp mắt, bạc trắng một đồng thôi."
Tôi nhìn rõ mồn một là bát bên trái, thế nhưng khi lật lên, chẳng thấy bóng dáng trái cầu đâu cả.
Bay vèo hai đồng bạc trắng, tôi bắt đầu cuống cả lên. Sư phụ mỗi tháng chỉ cho tôi có hai đồng bạc chứ mấy. Tôi thọc tay vào túi định móc nốt đồng cuối cùng ra gỡ gạc.
Đột nhiên, từ phía sau có ai đó kéo mạnh tôi một cái, giọng nói trầm thấp vang lên:
— Ngai Cẩu, đi mau!
Lúc này, mười mấy kẻ xung quanh bỗng ập tới vây kín lấy chúng tôi, mặt mày đứa nào đứa nấy nhăn nhở, cười cợt nhả:
— Đừng bỏ cuộc nhanh thế chứ. Thua trước thắng sau là chuyện thường tình mà.
Nhị Sư thúc và tôi định lách ra, nhưng bọn chúng đã dàn thành một bức tường người dày đặc, không hở một kẽ. Có những bàn tay đã bắt đầu táy máy, rờ rẫm lên người tôi và Nhị Sư thúc.
Nhị Sư thúc lạnh lùng quát một câu:
— Đều là Xả Lão Hải cả, các vị định làm cái trò gì đây?
Đám người kia khựng lại, những cánh tay đang mó máy lập tức rút về.
Gã thanh niên ngồi dưới đất đứng bật dậy, nheo mắt hỏi:
—Bài cầm đường nào thế?
Nhị Sư thúc đáp gọn lỏn:
— Làm nghề xem tướng.
Đám người lập tức dạt ra nhường đường:
— Sao không nói sớm, đi đi, mời các vị cứ đi.
Gã thanh niên kia còn tử tế trả lại hai đồng bạc đã ăn của tôi, nói:
— Vị huynh đệ này chắc là mới ra nghề phải không?
Nhị Sư thúc nói:
— Còn chưa vào giang hồ đâu. Tôi dẫn nó đi mở mang tầm mắt thôi.
Gã thanh niên gật gù:
— Các vị có gặp khó khăn gì cứ báo cho anh em một tiếng.
Nhị Sư thúc tạ ơn bọn họ rồi kéo tôi lên xe, rời khỏi thị trấn nhỏ.
Trên xe, tôi cứ bần thần nhớ lại cảnh tượng lúc nãy, thực sự không tài nào hiểu nổi. Rõ ràng mắt tôi nhìn chằm chằm vào cái bát bên trái, trái cầu rõ ràng nằm ở đó, sao xoay vài vòng lại biến mất tăm được?
Tôi hỏi Nhị Sư thúc, ông giải thích:
— Đấy gọi là trò Yến Vĩ Tử, hay còn gọi là Lão Nguyệt. Mày thấy hắn đặt trái cầu vào bát, nhưng thực chất ngay khoảnh khắc cái bát úp xuống, tầm nhìn của mày bị che khuất, trái cầu đã bị hắn kẹp chặt vào kẽ ngón tay rồi. Thế nên mày có lật cái bát nào lên thì cũng chỉ thấy toàn là không khí mà thôi.
À, thì ra là thế. "Yến Vĩ Tử" cũng là tiếng lóng giang hồ, chỉ những băng nhóm lừa đảo. "Lão Nguyệt" là những kẻ dàn cảnh để đưa người ta vào tròng.
Trong lòng tôi dấy lên một nỗi kinh sợ xen lẫn thán phục. Giang hồ này hóa ra còn bao nhiêu chuyện ly kỳ và đáng sợ đến thế. Nếu không phải người trong cuộc, chúng ta chỉ thấy phố xá, nhà cửa, đàn ông, đàn bà; nhưng nếu đã dấn thân vào, chúng ta sẽ thấy một thế giới hoàn toàn khác, tăm tối và đầy cạm bẫy.
Vừa chạm trán đám Yến Vĩ Tử kia chưa được bao lâu, chẳng ngờ chúng tôi lại đụng phải một toán khác.
Vì nôn nóng đuổi theo Thần Hành Thái Bảo, Nhị Sư thúc hối thúc chúng tôi tiếp tục đi xuyên đêm. Nghe đâu cách đó ba mươi dặm có một huyện thành, chúng tôi quyết định sẽ nghỉ chân tại đó.
Gần nửa đêm, cả bọn mới đến được huyện thành. Nhưng lạ thay, cổng thành chẳng đóng lại. Tiến lại gần, chúng tôi mới thấy thành quách đã sụp đổ tan tành nhiều chỗ, có những lỗ hổng to bằng cả cái thùng gánh nước. Trong thành tối tăm mịt mùng, chỉ lác đác vài đốm lửa bập bùng như ma trơi, lại còn có tiếng khóc nỉ non lúc gần lúc xa theo gió đưa lại, nghe rợn cả tóc gáy. Cảm giác như chúng tôi vừa bước chân vào một bãi tha ma khổng lồ, nỗi sợ hãi cứ thế len lỏi vào từng thớ thịt.
Nhưng ngoài nơi này ra, chẳng còn chỗ nào để tá túc.
Nhị Sư thúc tặc lưỡi:
— Cứ vào đại đi rồi tính.
Tiếng xe ngựa nghiến trên đường lát đá xanh lộc cộc, lộc cộc. Tiếng chuông ngựa và tiếng bánh xe vang vọng giữa màn đêm tĩnh mịch. Từ trong bóng tối, hai bóng người lù lù hiện ra. Bọn họ đốt đuốc lên hỏi chúng tôi là ai.
Nhị Sư thúc xuống xe, nói chúng tôi là dân buôn bán, vì lỡ độ đường nên muốn tìm chỗ ngủ trọ.
Hai kẻ kia cầm đuốc tiến lại gần, soi mói ba người chúng tôi từ đầu đến chân một lượt rồi mới nói:
— Thành này chẳng có quán trọ nào đâu.
Nhị Sư thúc nghĩ bọn họ nói dối, bèn nài nỉ:
— Quán trọ nào cũng được, kể cả một gian nhà củi.
Một gã thở dài:
— Thời buổi binh đao loạn lạc, ai mà dám đi đêm. Quán trọ không có khách nên đóng cửa hết rồi.
Gã kia tiếp lời:
— Chủ quán trọ chạy mất dạng từ lâu rồi. Mấy ngày trước nơi này mới đánh nhau một trận to, dân chúng trốn hết lên núi rồi. Thành bị phá, nhà cửa cháy rụi cả. Quân lính đi rồi, người ta mới kéo nhau về thành đấy chứ.
Nhị Sư thúc hỏi:
— Phe nào đánh với phe nào vậy?
Gã cầm đuốc lắc đầu:
— Có quỷ mới biết được. Đứa mặc áo xanh, đứa mặc áo lam, đứa đen, đứa vàng, giọng nói thì đủ loại vùng miền, chẳng biết ai đánh ai nữa. Chỉ khổ dân đen thôi. Ngô ngoài đồng sắp chín đến nơi mà chẳng ai dám hái, cứ để thối rữa cả ra.
Nhị Sư thúc cảm thán:
— Phải đấy, đánh tới đánh lui làm gì cho khổ, sao không để người ta yên ổn mà sống cơ chứ?
Thấy chúng tôi có vẻ là người lương thiện, bọn họ cho chúng tôi tá túc trong một gian nhà trống ngay gần cổng thành. Nói là gần cổng thành, chứ thực ra cổng thành đã bị pháo bắn tan nát, rồi lửa chiến tranh thiêu thành tro bụi cả rồi.
Sư phụ chỉ có thời hạn năm ngày, mà giờ đã trôi qua ba ngày rồi. Nếu trong vòng năm ngày tới mà không tìm thấy con mụ kia, liệu Đại chưởng quỹ có hạ thủ với sư phụ không?
Tôi tin là có. Đại chưởng quỹ đã giết ba ông thầy coi tướng rồi, giết thêm một người nữa lão cũng chẳng bận tâm. Sư phụ có thể là nhân vật lẫy lừng trong giới tướng thuật, nhưng trong mắt lũ thổ phỉ, ông chẳng là cái thá gì cả.
Không phải giang hồ nào cũng như nhau. Nó giống như trăm nghề trong thiên hạ, mỗi nghề mỗi khác.
Sáng hôm sau, tại một ngã tư đường trong huyện thành, tôi lại bắt gặp ám hiệu hình con dao của Thần Hành Thái Bảo. Lần này, nó được khắc trên một khúc gỗ cháy đen.
Vừa mới ngoặt qua ngã tư, đột ngột có một bóng người lao ra, ngã lăn quay ngay trước đầu xe ngựa. Bác đánh xe hốt hoảng dừng gấp, nhảy xuống xe thì thấy người kia nằm bất động, máu me đầm đìa, bác sợ đến đờ người.
Ngay lập tức, bảy tám kẻ từ đâu ập tới, la lối om sòm:
— Đâm chết người rồi! Đâm chết người rồi!
Bác đánh xe ôm khư khư cái roi, mặt cắt không còn giọt máu, miệng lắp bắp không nên lời.
Tôi định xuống xe, Nhị Sư thúc giữ chặt tay tôi, thì thầm:
— Cứ bình tĩnh.
Đám người kia thấy bác đánh xe ăn mặc rách rưới, lại đang hồn siêu phách lạc thì chuyển mục tiêu sang chiếc xe ngựa. Thấy chúng tôi ăn mặc bảnh bao, chúng quát lớn:
— Xuống xe! Đâm chết người rồi, đứa nào cũng đừng hòng chạy thoát!
Nhị Sư thúc không hề nao núng, thong thả móc trong ngực ra mấy đồng bạc trắng, dúi vào tay một gã đứng gần đó, khẽ nói:
— Làm nghề buôn bán nhỏ, chẳng có mấy đồng đâu, các vị bài cầm cứ nhận lấy mà đi trửu sơn.
Hắn nghe Nhị Sư thúc nói ám ngữ, bàn tay định nhận bạc bỗng rụt lại như phải bỏng. Nhị Sư thúc vẫn dúi bạc vào tay hắn:
— Huynh đệ còn phải vội lên đường, không thể hầu chuyện các đại ca được.
Tôi hiểu ý Nhị Sư thúc, ông đang bảo chúng tôi là dân làm ăn nhỏ, đưa ít tiền cho bọn chúng đi uống rượu, đừng gây khó dễ.
Đám người kia lập tức khiêng kẻ đang nằm "ngất xỉu" sang một bên, xe ngựa cứ thế chậm rãi rời đi.
Tôi hỏi Nhị Sư thúc bọn họ là ai, ông bảo:
— Lại là một đám Yến Vĩ Tử đấy.
— Nhưng người nằm dưới đường toàn máu là máu mà? — Tôi thắc mắc.
— Máu heo ấy mà — Nhị Sư thúc cười nhạt.
Giang hồ hiểm ác, sống chết chỉ trong gang tấc, tính mạng lúc nào cũng đặt trên đầu đao lưỡi kiếm. Đã dấn thân vào cái giới này, ai mà chẳng có lúc phải chịu thua thiệt.
Rời khỏi huyện thành, chúng tôi hối hả chạy về phía Đông. Lại đến một ngã ba, tôi nhảy xuống xe, sục sạo khắp các vách nhà, thân cây, tường gạch để tìm ám hiệu của Thần Hành Thái Bảo, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy gì. Từ huyện thành đến đây toàn là đường cái thênh thang, cũng không có dấu hiệu gì khả nghi, lẽ ra Thần Hành Thái Bảo phải để lại ám hiệu chứ. Tôi tìm đi tìm lại, vẫn chẳng thấy gì.
Tôi đành thất thểu leo lên xe, báo với Nhị Sư thúc:
— Không thấy thanh tử.
Nhị Sư thúc nhảy xuống xe, ông không nhìn vào nhà cửa hay cây cối mà cúi xuống xem xét các dấu chân trên mặt đất. Cuối cùng, ông phát hiện ở đầu lối rẽ phía Nam, trên nền đất có vẽ một hình con dao nhỏ.
Khi quay lại xe, vẻ mặt Nhị Sư thúc vô cùng nghiêm trọng. Ông hối bác đánh xe:
— Chạy mau, hướng Nam!
Bác đánh xe quất roi cái chát, con ngựa lồng lên như chó săn thấy thỏ, lao vút về phía trước. Tôi nhìn Nhị Sư thúc, không dám mở miệng hỏi. Tại sao không khắc trên tường, trên cây cho dễ thấy mà lại phải vẽ xuống đất? Chắc chắn Thần Hành Thái Bảo đã gặp phải tình huống bất trắc, phải lén lút để lại ám hiệu.
Xe ngựa đã chạy ròng rã suốt hai ngày hết mà vẫn chưa đuổi kịp con mụ kia và Thần Hành Thái Bảo. Chúng tôi đã mất một ngày rưỡi ở huyện thành, trong khi Thần Hành Thái Bảo thì không ngừng truy đuổi. Lẽ ra cả chúng tôi và Thái Bảo đều phải bắt kịp mụ ta rồi mới phải, vậy mà bóng dáng mụ vẫn mịt mù tăm tích.
Lạ thật, quả là kỳ quái.
Chúng tôi tiếp tục truy đuổi, ám hiệu con dao trên đường ngày càng trở nên sơ sài, về sau chỉ còn là một dấu gạch chéo.
Đến gần trưa, chúng tôi tới một thị trấn nhỏ. Dù bụng đói cồn cào nhưng sợ trễ việc, chúng tôi chỉ kịp mua mấy chiếc bánh nướng, vừa đi vừa ăn. Đột nhiên, tôi thấy ven đường có một ám hiệu con dao, lần này không phải vẽ hay khắc, mà là dùng đá xếp thành. Hình con dao xếp rất vội vàng, ngay cả cán dao cũng chỉ có một nửa.
Mũi dao chỉ thẳng vào cánh đồng bên đường, chứ không chỉ theo hướng lộ chính phía trước.
Tại sao con mụ đó lại bỏ đường cái mà đâm đầu vào cánh đồng hoang? Thần Hành Thái Bảo đã gặp chuyện gì mà ngay cả thời gian xếp đá cho tử tế cũng không có?
Chúng tôi quyết định đuổi theo vào cánh đồng hoang. Thế nhưng địa hình ở đây gập ghềnh khó đi, mương rãnh chằng chịt, xe ngựa cứ đi một đoạn lại bị kẹt cứng. Nhị Sư thúc lấy trong người ra một thỏi vàng, nhét vào tay bác đánh xe bảo bác chờ ở đây. Chúng tôi tháo dây buộc ngựa ra, mỗi người cưỡi một con, phi thẳng về phía trước.
Truy đuổi trên đồng hoang khó hơn đường cái vạn lần. Đường cái thì cứ thế mà đi, còn đồng hoang rộng mênh mông, biết đường nào mà lần?
Nhị Sư thúc quan sát địa hình xung quanh rồi bảo tôi:
— Đuổi theo hướng khe hở phía trước kia!
Muốn thoát khỏi vùng đồng hoang này, chỉ có con đường duy nhất là đi qua chỗ đất thấp đó. Nhận định của lão giang hồ như Nhị Sư thúc quả không sai, đi được một quãng, chúng tôi thấy trên đất có một bãi phân ngựa còn rất mới.
Nhị Sư thúc khẳng định:
— Ta đoán bọn họ cưỡi ngựa, quả đúng là như vậy.
Ông cúi xuống xem xét những dấu móng ngựa xung quanh bãi phân, rồi trầm giọng:
— Thần Hành Thái Bảo gặp nguy rồi.
— Sao thúc biết ạ? — Tôi thảng thốt hỏi.
— Dấu móng ngựa hỗn loạn, tuyệt đối không phải chỉ có hai con để lại. Nhìn thế này chắc chắn phải từ bốn con trở lên. Nếu con mụ kia cưỡi ngựa chạy trước, Thần Hành Thái Bảo cưỡi ngựa đuổi sau, thì hai dấu móng ngựa còn lại từ đâu ra? Nếu có ba con ngựa chạy trước, một mình Thái Bảo đuổi sau, hắn sẽ để lại ám hiệu báo cho chúng ta biết mình đang đơn thương độc mã. Nhưng giờ Thái Bảo chỉ để lại ám hiệu truy đuổi, mà dấu vết ngày càng sơ sài, chứng tỏ hắn không còn thời gian để làm ám hiệu nữa. Tại sao lại không có thời gian? Vì phía sau có truy binh!
Tôi lại hỏi:
— Nếu ám hiệu ngày càng sơ sài, sao ở thị trấn nhỏ lại có ám hiệu xếp bằng đá ạ?
Nhị Sư thúc phân tích:
— Chắc là bọn truy đuổi cũng dừng lại mua bánh nướng như chúng ta, Thần Hành Thái Bảo đã tranh thủ chút thời gian quý báu đó để xếp đá. Chưa kịp xếp xong thì bọn chúng đã đuổi tới gần, hắn đành phải bỏ dở mà chạy tiếp. Xem ra tính mạng của Thần Hành Thái Bảo đang ngàn cân treo sợi tóc.
Tôi nghe mà lạnh cả người.
Nhị Sư thúc bồi thêm:
— May mà bọn truy đuổi vẫn chưa biết chúng ta đang bám sát sau lưng chúng. Nếu tình hình nguy cấp, chúng ta có thể cho bọn chúng một đòn bất ngờ.
— Bọn truy đuổi đó là ai vậy thúc?
— Tạm thời vẫn chưa rõ.
Chúng tôi thúc ngựa chạy đến cái khe hở đó. Đó vốn là một đoạn tường thành cổ đã sụp đổ, bao năm mưa nắng đã khiến tường thành loang lổ, trông như một con lạc đà kiệt sức nằm phục trên đồng hoang. Dẫu vậy, tường thành vẫn cực kỳ kiên cố, bao nhiêu năm trôi qua mà cỏ dại vẫn không mọc nổi.
Nhị Sư thúc nằm rạp xuống, nhận dạng dấu móng ngựa, rồi nói:
— Tổng cộng có bốn con ngựa đi qua đây.
Tuy nhiên, bọn họ đã đi qua đây bao lâu thì ông không biết được. Ông áp tai xuống đất nghe ngóng nhưng chẳng có tiếng động gì; ông lại liếm ướt ngón tay út, giơ lên đón gió rồi đưa lên mũi ngửi, vẫn không thấy mùi vị gì khả nghi.
Nhị Sư thúc bảo:
— Bọn họ đã đi lâu rồi. — Nhưng cụ thể là bao lâu thì chưa biết được.
Phía trước khe hở có một con đường, chúng tôi đoán bọn họ sẽ lên con đường đó nên vội vàng chạy tới. Quả nhiên, trên bờ mương bên đường đất, chúng tôi thấy dấu móng ngựa hướng về phía trước, chắc chắn là từ đồng hoang nhảy lên mặt đường, đúng là dấu vết của bốn con ngựa kia.
Đi dọc theo con đường, lại gặp một ngã ba, nhưng lần này chúng tôi hoàn toàn mất dấu. Dấu móng ngựa ở đây hỗn loạn, chằng chịt như lá rụng mùa thu che kín mặt đường. Có vẻ như có một đơn vị kỵ binh vừa hành quân qua đây. Không thể xác định được là kỵ binh đi trước hay bọn họ đi trước nữa.
Chúng tôi rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, không biết nên đuổi theo hướng nào. Hy vọng Thần Hành Thái Bảo để lại dấu dao khắc, nhưng tìm kiếm trong vòng mấy chục mét xung quanh vẫn chẳng thấy một ám hiệu nào.
Đột nhiên, Nhị Sư thúc tìm thấy một đồng tiền trong lớp đất, đồng tiền được mài nhẵn thín, trên mặt khắc chữ "Càn Long Thông Bảo".
Tiền Càn Long từ lâu đã không còn giá trị lưu hành, chẳng ai rảnh rỗi mang nó theo người, lại càng không thể tự dưng xuất hiện ở nơi đồng không mông quạnh này. Nó đã xuất hiện ở đây thì chắc chắn có uẩn khúc.
Nhị Sư thúc khẳng định:
— Đây là do Thần Hành Thái Bảo cố ý để lại.
— Tại sao anh ấy lại làm thế?
— Thái Bảo bị truy đuổi gắt gao, không kịp xuống ngựa khắc dấu, đành phải ném đồng tiền xuống đường để chỉ lối cho chúng ta.
Tôi vẫn hoài nghi:
— Sao thúc biết là của anh ấy?
— Loại tiền này là vật bất ly thân của người phái Giang Tướng khi bôn ba giang hồ, dùng để bói toán. Nếu ta không đoán lầm, phía trước chắc chắn sẽ còn thấy bút lông, nghiên mực, những thứ mà thầy tướng dùng để viết quẻ cho khách.
Chúng tôi lại lên ngựa, theo hướng đồng tiền mà đuổi tiếp. Đến ngã rẽ tiếp theo, quả nhiên thấy một cây bút lông nằm chỏng chơ. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính là Thần Hành Thái Bảo đã báo hiệu cho chúng tôi.
Chúng tôi hối hả đuổi theo, lại tới một ngã tư, nhưng lần này dù tìm kỹ đến đâu cũng không thấy nghiên mực hay bất cứ vật gì làm dấu. Chuyện này là thế nào?
Nhị Sư thúc bảo:
— Quay lại tìm, bọn họ chưa đến được ngã tư này đã rẽ ngang rồi.
Chúng tôi quay lại tìm kiếm dọc lối cũ, quả nhiên dưới rãnh nước ven đường thấy một cái nghiên mực và một hàng dấu chân ngựa. Chúng tôi chui vào bãi cỏ ven đường, đi được mười mấy mét thì thấy một con đường mòn lẩn khuất trong lùm cỏ rậm rạp, nếu không nhìn kỹ thì không tài nào thấy được.
Tiếp tục đuổi theo con đường mòn, đột nhiên thấy một vật gì đó sáng lấp lánh dưới đất. Nhặt lên xem, hóa ra là một miếng móng ngựa sắt đã mòn vẹt.
Nhị Sư thúc nói:
— Bất kể là móng của con ngựa nào thì con ngựa đó cũng không thể chạy nhanh được nữa. Đi mau, phải đuổi kịp bọn chúng trước khi trời tối!
Đuổi thêm vài dặm, một con hào sâu chắn ngang lối đi. Hào dốc đứng, ngựa không thể xuống được. Con hào chạy theo hướng Nam - Bắc, đứng trên bờ hào nhìn xuống, chúng tôi thấy dấu móng ngựa chạy về cả hướng Đông lẫn hướng Tây. Nghĩa là có ngựa chạy về phía Đông, có ngựa chạy về phía Tây.
Liệu có phải bọn truy đuổi đã chia làm hai ngả để vây bắt? Khả năng này khó xảy ra, vì chúng chỉ có hai người, khi truy đuổi sẽ không bao giờ tách nhau ra, vì tách ra sẽ làm mất ưu thế của mình, chắc chắn bọn chúng hiểu điều đó. Vậy chỉ còn một khả năng: cả bốn người đều xuống ngựa, trượt xuống hào, rồi thả ngựa đi tự do. Hai con ngựa của bọn truy đuổi đã quen hơi nhau nên cùng chạy về một hướng khác với hai con ngựa lạ kia.
— Xuống hào!
Con hào sâu chừng hai ba mươi trượng, chúng tôi bám vào cỏ dại và rễ cây bên vách đá, trượt dần xuống đáy hào. Ở đây quả nhiên thấy dấu chân người. Đi dọc theo những dấu chân dưới đáy hào âm u chừng trăm mét, dấu chân đột ngột biến mất.
Nhị Sư thúc quan sát xung quanh rồi chỉ tay:
— Bọn họ ở trong cái hang kia kìa.
Theo hướng tay ông chỉ, tôi thấy trên vách đá bên trái có một cái hang, cách mặt đất chừng mười thước. Chúng tôi nín thở lắng nghe nhưng không thấy động tĩnh gì khả nghi, bèn bám đá leo lên miệng hang. Trước mắt là một đống lửa vừa tàn, vách hang bị khói hun đen kịt. Đưa tay vào đống tro, vẫn còn thấy hơi ấm.
Nhị Sư thúc nhận định:
— Thần Hành Thái Bảo đã trốn vào trong hang này, bọn truy đuổi đốt lửa định hun khói cho hắn phải ra ngoài.
— Thế giờ anh ấy đâu rồi thúc?
— Ta cũng không biết.
Trong lòng tôi vô cùng lo lắng cho an nguy của Thần Hành Thái Bảo. Tuy chưa từng nói với anh ấy lời nào, cũng mới chỉ gặp mặt một lần, nhưng anh ấy đã vì chúng tôi mà rơi vào hiểm cảnh. Anh ấy được an toàn chính là niềm an ủi của tôi, anh ấy gặp nguy nan chính là nỗi lo của tôi.
Tôi rón rén theo chân Nhị Sư thúc bước vào trong hang, thấy hang chỉ sâu chừng vài chục mét, trống huơ trống hoác. Chúng tôi ngẩng đầu nhìn lên, chợt rùng mình thấy vô số dơi bám dày đặc trên vách hang, vách hang dốc đứng, chẳng có chỗ nào để ẩn náu.
Quay lại miệng hang, Nhị Sư thúc nhặt được một mảnh vải xám mắc trên mỏm đá. Vừa định bước ra, đột nhiên trên không trung vang lên những tiếng kêu chin chít liên hồi, vô số con dơi như một đám mây đen kịt ùa xuống tấn công chúng tôi. Cả hai hoảng hốt, lăn lông lốc từ miệng hang xuống thung lũng. Đống cỏ dại và ngải cứu dày đặc dưới thung lũng đã che lấp thân hình chúng tôi.
Đám dơi quần thảo trên không trung một lúc rồi lại bay ngược vào hang.
Người bị dơi cắn, chỉ vài ngày sau là xong đời. Dân gian vẫn tin rằng dơi hút máu người, ai bị cắn sẽ cạn hết máu mà chết. Mãi mấy chục năm sau tôi mới biết, dơi mang mầm bệnh dại. Nó cắn một cái là truyền virus dại vào người. Người ta chết không phải vì mất máu mà là vì lên cơn dại.
Có lẽ đám dơi tấn công chúng tôi là vì lúc trước đã bị bọn kia dùng khói hun, nên lũ quái vật xấu xí ấy coi chúng tôi là kẻ thù.
Nhị Sư thúc quả quyết:
— Thần Hành Thái Bảo vẫn còn sống!
— Sao thúc biết được?
Ông giơ mảnh vải lên:
— Đây là mảnh vải từ áo dài, người phái giang tướng chúng ta thích mặc áo dài cho trang trọng, nho nhã. Đây chắc chắn là vải từ áo của Thần Hành Thái Bảo. Mảnh vải này vướng vào đá, nhưng không phải bị đá xé rách, mà là do Thái Bảo cố tình xé ra để treo lên mỏm đá.
— Sao thúc nhìn ra được hay vậy?
— Vải bị đá xé sẽ có hình tam giác; còn vải dùng tay xé sẽ có hình vuông. Mảnh vải này hình vuông, chắc chắn là hắn tự xé.
— Thế sao anh ấy phải làm vậy ạ?
— Để dụ bọn kia vào trong hang.
— Phải rồi, chắc chắn là để lũ dơi kia trị bọn chúng! — Tôi reo lên.
Nhị Sư thúc lắc đầu:
— Không phải, Thần Hành Thái Bảo không vào hang, hắn cũng chẳng biết trong hang có dơi đâu. Hắn chỉ muốn dẫn dụ bọn chúng vào hang để mình có thêm thời gian chạy trốn thôi.
Tôi phục Nhị Sư thúc sát đất, liền hỏi:
— Thúc ơi, sao thúc biết nhiều thế?
— Người phái giang tướng chúng ta đơn độc hành tẩu giang hồ, phải biết quan sát sắc mặt, nhìn thấu tâm can, sớm đã luyện được đôi mắt và cái đầu của một thám tử đại tài rồi. Giang hồ hiểm ác, sơ sẩy một chút là mất mạng như chơi. Thực ra thám tử làm sao có được đầu óc nhạy bén như chúng ta. Thám tử chỉ được đào tạo qua sách vở trường lớp, còn chúng ta là dùng mạng mình mà trải nghiệm trên giang hồ. Phải kinh qua bao nhiêu sóng gió hiểm nguy mới đúc kết được những kinh nghiệm xương máu này. Những gì chúng ta làm được, thám tử chưa chắc đã làm nổi. Mày nhìn Thần Hành Thái Bảo xem, lợi hại chưa, lần nào cũng để lại ám hiệu trong gang tấc, lại còn dụ được bọn truy đuổi tới cái hang này, thám tử nào làm được như thế?
Nghe Nhị Sư thúc nói vậy, tôi bỗng thấy thêm phần kính trọng cái nghề của mình. Tôi lại hỏi:
— Tại sao bọn truy đuổi lại đốt lửa ở cửa hang mà không xông vào?
— Bọn chúng không biết lai lịch của Thần Hành Thái Bảo, cũng chẳng biết hắn có súng hay không. Nếu liều lĩnh xông vào, Thái Bảo ở trong tối, bọn chúng ở ngoài sáng, vào đứa nào là chết đứa nấy, thế nên chúng mới dùng chiêu "hun cáo" như vậy.
Tôi đã hiểu. Hồi nhỏ ở quê, tôi thường theo con trai mấy lão tá điền dùng sàng bẫy chim, dùng nước đổ hang chuột, dùng khói hun hang cáo. Cáo với nhím trông khá giống nhau vì đều có lông gai rất dài, nhưng cáo to hơn nhím nhiều. Nhím chỉ to bằng nắm tay, còn cáo có khi dài tới nửa mét, trông như một con heo con. Cáo hay ăn giun, ếch và phá hoại hoa màu. Thế nên thấy hang cáo là chúng tôi lại đốt cành khô, cởi áo ra quạt khói vào hang. Chỉ một lát là con cáo hắt hơi liên tục rồi phải chui ra.
Nếu Thần Hành Thái Bảo không ở trong hang, vậy anh ấy có thể ở đâu?
Nhị Sư thúc nói:
— Nơi này rừng rậm núi cao, vực sâu thăm thẳm, đúng là chỗ ẩn náu tuyệt vời. Trốn ở đây thì dù có xua quân lùng sục cả núi cũng chưa chắc đã tìm ra. Nhưng Thần Hành Thái Bảo lên đường vội vã, chắc chắn không mang theo nhiều lương khô. Bị truy đuổi suốt bao lâu nay, hắn cũng chẳng có thời gian mà mua đồ ăn. Giờ này chắc chắn Thần Hành Thái Bảo đang đói lả người. Một người đang đói khát cùng cực sẽ không bao giờ đâm đầu vào rừng sâu không bóng người, mà sẽ tìm đến nơi có người sống. Chúng ta lên đỉnh núi nhìn xem quanh đây có ngôi làng nào không.
Nhị Sư thúc đang nói chợt khựng lại:
— Không đúng, không đúng, vẫn còn một điều ta chưa nghĩ thông. Chuyện này kỳ lạ quá.
— Chuyện gì ạ?
Ông nhặt bốn viên đá nhỏ đặt lên một tảng đá lớn, rồi nói:
— Con mụ kia chạy trước, Thần Hành Thái Bảo đuổi sau, rồi hai gã truy đuổi lại bám sát gót hắn. Cả đám đều chạy liên tục như vậy, chuyện này không hợp lẽ thường chút nào.
— Sao lại không hợp ạ?
— Con mụ đó và Thần Hành Thái Bảo vốn không quen biết, cũng chẳng biết Thái Bảo là ai, hà cớ gì mụ phải liều chết chạy trốn như vậy? Chỉ cần mụ dừng lại là cuộc truy đuổi này sẽ kết thúc ngay. Còn hai gã truy đuổi kia chắc cũng chẳng có thù oán gì sâu nặng với Thần Hành Thái Bảo để mà phải bám đuổi dai dẳng đến thế. Người phái giang tướng chúng ta luôn nằm lòng câu "dĩ hòa vi quý", tuyệt đối không gây thù chuốc oán với ai. Hễ đối phương thấy mình lừa đảo thì cứ trả tiền lại là xong. Chuyện bói toán này, tin thì có, không tin thì không có. Anh không tin tôi bói đúng thì tôi lấy tiền anh làm gì? Thế nên, hai gã kia và Thần Hành Thái Bảo chắc chắn không có lương tử gì với nhau đâu. "Lương tử" là tiếng lóng, nghĩa là xích mích, tư thù.
Nhị Sư thúc dừng lại một chút rồi hỏi tôi:
— Sắp tới mày cũng phải tự mình lăn lộn giang hồ rồi, thử phân tích xem bốn người này là tình thế gì?
Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp:
— Theo cháu, con mụ đó chạy không phải vì Thần Hành Thái Bảo; hai gã kia đuổi cũng chẳng phải vì Thái Bảo, mà Thái Bảo chỉ là kẻ kẹt ở giữa thôi. Ồ, cháu hiểu rồi! Hai gã đó là Ưng Trảo Tôn, còn con mụ kia là tội phạm đang lẩn trốn!
"Ưng Trảo Tôn" chính là tiếng lóng chỉ quan sai, mật thám.
Nhị Sư thúc bực mình quát:
— Mày ngu quá thể, cứ thế này thì làm sao bôn ba giang hồ nổi!
Phải, tôi thật ngu ngốc, có những đạo lý rành rành mà cứ nghĩ không ra.
Nhị Sư thúc giảng giải:
— Quan sai có cách liên lạc riêng, đi đến đâu là báo tin cho đồng bọn đến đó, hoặc là đổi ngựa truy đuổi, hoặc là chặn đầu đón lõng. Hai gã này suốt quãng đường chỉ có tự mình bám đuổi, không rời nửa bước, rõ ràng chẳng liên quan gì đến Ưng Trảo Tôn cả. Bọn chúng là người của Thiên Vương Trại!
À, cuối cùng tôi cũng thông suốt. Nếu không phải người của Thiên Vương Trại thì làm sao lại liều mạng truy đuổi như vậy, và con mụ kia cũng chẳng cần phải chạy thục mạng đến thế.
Nhị Sư thúc lại nói:
— Vẫn không đúng!
— Lại sai chỗ nào nữa thế?
— Một con hươu chạy trước, một con sói đuổi sau, một con báo lại đuổi sau cùng, cả ba đều bị dồn vào đường cùng. Con hươu thì không nói làm gì, đằng nào cũng bị ăn thịt, dù sói ăn hay báo ăn thì kết cục cũng như nhau. Nhưng con sói thì khác, nó muốn sống sót thì mày bảo nó phải làm sao?
Tôi ngẩn người ra, lắc đầu.
— Con sói chỉ có nước bắt tay với con hươu, cùng liều mạng một phen. Có như thế chúng mới mong thoát khỏi cái chết.
— Ý thúc là Thần Hành Thái Bảo và con mụ đó đã liên thủ với nhau để đối phó với hai gã kia?
— Chính là vây đó! Mụ ta và Thần Hành Thái Bảo chắc chắn đang cùng nhau chạy trốn. Nếu họ còn đề phòng lẫn nhau thì đã sớm bị bọn kia tóm gọn rồi. Mày cứ nhớ lại xem, suốt quãng đường này, nào là băng qua đồng hoang, nhảy qua tường đổ, trượt xuống hào sâu, để lại ám hiệu nơi cửa hang, rồi chiêu "thảo xà hôi tuyến", "kim thiền thoát xác"... đó đều là những ngón nghề của một lão giang hồ thứ thiệt. Nếu mụ kia chạy trước, Thái Bảo đuổi sau, thì làm sao mụ ta lại dẫn dụ được Thái Bảo và bọn truy đuổi vào những tử lộ để rồi tìm được đường sống trong chỗ chết như vậy. Suốt quãng đường này họ liên tục thay đổi lộ trình, chứng tỏ tình thế vô cùng nguy cấp, sắp bị đuổi kịp tới nơi rồi mới phải làm vậy. Và lần nào cũng thoát hiểm trong gang tấc. Thế nên, bốn người bọn họ ban đầu là một đuổi một, hai đuổi một. Sau vì tình thế ép buộc đã trở thành hai đuổi hai, hai kẻ phía trước đã kết thành đồng minh.
Tôi thầm nghĩ, chắc chắn là vậy rồi. Lúc đó tình thế nguy cấp như thế, chỉ cần do dự một chút là bị hai gã kia bắt được ngay, thế nên họ mới phải bắt tay nhau.
Nhị Sư thúc ra lệnh:
— Lên núi, tìm bọn họ!
Chúng tôi leo lên đỉnh núi. Đỉnh núi nằm ở phía bên kia con hào, đứng trên đó nhìn xuống, chẳng thấy bóng dáng hai con ngựa của chúng tôi đâu cả. Tôi lo lắng:
— Ngựa mất rồi, lát nữa chúng ta về bằng cách nào?
Nhị Sư thúc gắt lên:
— Sao lại quay về lối cũ? Mày thật chẳng biết trời cao đất dày là gì, đã dấn thân vào chốn hiểm nguy, liếm máu trên lưỡi dao mà còn dám đi đường cũ sao?
Tôi thấy mình thật sự không phải kiểu người có thể hành nghề này, từ lúc đi tới giờ toàn bị Nhị Sư thúc trách mắng. Thôi thì sau chuyến này, tôi cứ quay về đi dây hay khắc ấn cho lành.
Phái Giang Tướng chúng tôi quan niệm rằng: "Tội ở Nhất, không ở Tướng". "Tướng" là kẻ lừa đảo, "Nhất" là kẻ bị lừa. Cả hai đều là ám ngữ giang hồ. Tội lỗi nằm ở kẻ bị lừa, chứ không phải kẻ lừa đảo. Nếu anh không tham thì sao anh bị lừa được, chẳng lẽ thói tham lam không phải là tội lỗi của anh sao?
Đồ tể trước khi giết bò thường lấy một mảnh vải đen che mắt nó lại, lẩm nhẩm: "Không trách mày, chẳng trách tao, chỉ trách chủ mày đã bán mày cho tao." Rồi giơ cái búa tạ nặng gần bốn cân nện một nhát trời giáng vào đầu bò, con vật ngã quỵ xuống như một bức tường đổ. Tao là đồ tể, tao không có tội, thế gian này luôn cần có người làm đồ tể; mày cũng không có tội, vất vả cả đời để rồi bị người ta ăn thịt; kẻ có tội là chủ của mày, vì tiền mà bán mày cho đồ tể.
Đồ tể chính là "Tướng". Thế gian này ít đồ tể, mà kẻ làm "Tướng" cũng chẳng có bao nhiêu. Muốn làm đồ tể phải có gan góc, tâm địa sắt đá; muốn làm "Tướng" cũng cần có điều kiện, đó là phải cực kỳ thông minh. Tôi thấy mình chẳng thông minh, không làm "Tướng" nổi, chắc chỉ hợp làm "Nhất" thôi.
Đứng trên đỉnh núi nhìn ra xa thấy rất nhiều lùm cây, lùm to lùm nhỏ, chỗ rậm chỗ thưa. Tôi biết, cứ nơi nào có rừng cây là nơi đó chắc chắn có làng mạc.
Con người sống giữa thiên nhiên cũng giống như loài thỏ, luôn phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Hang thỏ bao giờ xung quanh cũng phải có cỏ rậm để che mắt đại bàng và cáo sói. Con người cũng vậy, làng mạc bao giờ cũng bao quanh bởi rừng cây rậm rạp để che mắt thú dữ, và cũng để tránh tầm nhìn của đại bàng trên cao. Nơi nào có người là nơi đó nuôi gà nuôi vịt, mà đó lại là món khoái khẩu của đại bàng. Nơi nào có người cũng thường có đàn cừu, mà một con đại bàng khổng lồ có thể quắp đi cả một con cừu non.
Nhưng giữa bao nhiêu rừng cây thế kia, làm sao biết nơi nào có người ở? Thần Hành Thái Bảo và con mụ đó sẽ trốn ở ngôi làng nào?
Nhị Sư thúc chỉ tay vào một lùm cây nhỏ, khẳng định:
— Bọn họ ở kia!
— Sao thúc chắc thế ạ?
— Vì trong rừng đó có cây xuân.
— Tại sao rừng có cây xuân thì chắc chắn có người ở ạ?
Nhị Sư thúc kể:
— Đó là một truyền thuyết cổ xưa. Chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, vua Quang Vũ nhà Hán là Lưu Tú khi lâm nạn đã chạy vào một rừng cây. Lúc đó ông đang đói khát cùng cực, bèn trèo lên một cây dâu rừng, thấy quả dâu chín mọng liền hái ăn cho đỡ đói. Ăn xong quả nhiên thấy hết đói hết khát. Khi quân truy đuổi đi rồi, Lưu Tú từ trên cây nhảy xuống, lạy cây dâu đó mấy lạy, bảo rằng sau này nếu ta làm vua, nhất định sẽ phong ngươi là vua của các loài cây. Sau này Lưu Tú làm vua thật, liền đi phong vương cho cây. Nhưng vì lúc đó là mùa đông, cây cối rụng hết lá, Lưu Tú đã nhìn nhầm cây xuân thành cây dâu mà phong làm vua của các loài cây. Thế nên về sau, nhà nào khi xây tường dựng nhà, trước sân sau vườn đều nhất định phải trồng cây xuân.
À, hóa ra là vậy. Chúng tôi đi vào rừng cây xuân đó, quả nhiên thấy có vài gian nhà. Trên một cây cổ thụ đầu làng có một hình con dao được khắc vô cùng rõ nét.
Ngôi làng này không lớn lắm, chỉ có chừng năm sáu hộ dân. Nhị Sư thúc vừa dẫn tôi vào làng, đột nhiên ông kéo tuột tôi lại, nấp sau một cây liễu lớn.
Tôi thì thầm:
— Có chuyện gì thế thúc?
— Tình hình không tốt! — Nhị Sư thúc thầm thì đáp.
— Sao vậy ạ?
— Trong làng im ắng quá mức, ngay cả một tiếng chó sủa cũng không có. Đống lửa ở cửa hang vẫn còn hơi ấm, chứng tỏ bọn họ vừa mới rời đi không lâu, nghĩa là họ vào làng này cũng chỉ mới đây thôi. Tại sao lại không có tiếng chó sủa, cũng chẳng nghe tiếng người nói chuyện?
— Thế giờ làm sao ạ?
— Sẽ có hai khả năng: một là làng không có người, hai là trong làng có phục kích. Nhưng đầu làng lại có ám hiệu của Thần Hành Thái Bảo, nên khả năng phục kích không cao. Làng không có người sao? Cũng không đúng, trong không khí rõ ràng có mùi khói bếp, lại còn có mùi phân lợn, phân bò.
Nhị Sư thúc cảnh giác như một con cáo già, đúng là phong thái của một lão giang hồ thứ thiệt. Tôi có học thêm trăm năm nữa chắc cũng chẳng theo kịp ông. Thôi thôi, tốt nhất là đừng có nhúng chân vào cái vũng nước đục tướng thuật này làm gì, mình chỉ là con tôm nhỏ, chẳng bao giờ biến thành cá mập được đâu. Tôm nhỏ mà cứ tưởng mình là cá mập thì chỉ có nước chết mà chẳng biết tại sao mình chết.
Tôi hạ quyết tâm, sau khi xong việc cho sư phụ, tôi sẽ rời khỏi chùa Hương Dũng ngay lập tức.
Nhị Sư thúc hỏi tôi:
— Có biết trèo cây không?
— Dạ biết.
Hồi trước ở gánh xiếc, trèo cây leo cột là chuyện cơm bữa, cũng là bài học vỡ lòng của tôi.
Nhị Sư thúc nhìn lên ngọn cây liễu:
— Trèo lên đi, nhớ đừng để phát ra tiếng động.
Tôi ôm chặt thân cây, hai chân kẹp chặt rồi rướn người lên một đoạn, cứ thế chẳng mấy chốc tôi đã leo lên đến chạc cây, náu mình sau những cành lá lòa xòa. Nhị Sư thúc cũng leo lên theo, kỹ thuật của ông chẳng kém gì tôi cả. Xem ra dân giang hồ thì cái gì cũng phải biết một ít.
Hai chúng tôi ôm cành cây, phóng tầm mắt nhìn vào trong làng. Thấy ở đầu kia làng có một tên đang cầm súng canh giữ lối ra; còn trong một cái sân nhà khác, cũng có một tên cầm súng đang sục sạo khắp nơi, từ chuồng gà, sau chum nước cho đến đống củi khô... Hắn vừa tìm vừa nhìn dáo dác xung quanh. Dưới chân tường, cả gia đình chủ nhà gồm hai vợ chồng và hai đứa nhỏ đang đứng co cụm, mặt mày ai nấy đều hiện rõ vẻ kinh hoàng. Ngay giữa sân, một con chó nằm vật trên vũng máu lớn.
Bọn chúng có súng, chắc chắn là thổ phỉ rồi, là đám tay sai do Hắc Cốt Đầu phái đi lùng bắt con mụ kia. Chúng tôi tay không tấc sắt, giờ biết làm sao đây?
Thần Hành Thái Bảo liệu có ở trong làng này không? Lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi. Sau khi sục sạo hết lượt các nhà, hai tên cầm súng gặp nhau ở lối ra của làng. Bọn chúng thì thầm bàn bạc gì đó rồi vác súng tiếp tục đuổi theo hướng phía trước.
Chúng tôi không có súng, Thần Hành Thái Bảo chắc cũng vậy. Chúng tôi là đám xem tướng trên giang hồ chứ có phải thổ phỉ đâu, có bao giờ thấy "tể tướng" nào tay lăm lăm súng ống, mình trần trùng trục xông pha trận mạc bao giờ? Thế nhưng giờ đây, một "tể tướng" không súng đối đầu với lũ thổ phỉ có súng thì kiểu gì cũng chịu thiệt.
Tôi thấy thắc mắc, bọn chúng có súng trong tay, sao không bắn chết mụ ta? Mà sư phụ bảo Nhị Sư thúc đưa mụ vào lầu xanh, sao không bảo giết quách đi cho rảnh nợ?
Tôi thắc mắc với Nhị Sư thúc.
Ông giải thích:
— Đại chưởng quỹ muốn bắt sống, chẳng ai dám làm mụ ta chết cả, bằng không Đại chưởng quỹ sẽ tìm đến tận nhà. Đại chưởng quỹ muốn giết ai thì chỉ mình hắn mới có quyền giết, kẻ nào dám thay hắn hạ thủ là chuốc họa vào thân ngay.
À, thì ra là vậy. Sự xuất hiện của hai tên thổ phỉ cho thấy Thần Hành Thái Bảo và con mụ kia vẫn còn sống, và bọn chúng đã mất dấu mục tiêu. Bọn chúng mất dấu chính là cơ hội của chúng tôi.
Nhị Sư thúc hỏi:
— Giết hai thằng tiểu tốt này thì Thần Hành Thái Bảo sẽ hết nguy hiểm, mà chúng ta cũng được an toàn. Mày có gan làm không?
Qua mấy ngày tiếp xúc, tôi đã khâm phục Nhị Sư thúc sát đất, tin rằng hễ ông muốn làm gì là chắc chắn sẽ thành công. Tôi dõng dạc đáp:
— Dạ có!
Nhưng chưa kịp để Nhị Sư thúc phản ứng, tôi lại ngập ngừng:
— Nhưng bọn chúng có súng, mình thì không, làm sao mà giết được?
Nhị Sư thúc cười bảo:
— Người phái Giang Tướng không dùng súng mà dùng cái đầu để giết người. Hơn nữa giết người không bao giờ thấy máu, kẻ nào giết người thấy máu thì chỉ là hạng bét mà thôi.
Hai chúng tôi tụt xuống dưới. Nhị Sư thúc rút từ đống củi ra một cành cây, bẻ đi làm thành một cây gậy chống. Tôi tự hỏi cây gậy này thì làm được tích sự gì trước họng súng của bọn chúng, nhưng Nhị Sư thúc lại nói:
— Bọn chúng có súng, ta chỉ có gậy, nhưng cây gậy của ta có thể đập nát sọ của bọn chúng.
Nhị Sư thúc dắt tôi đi trong rừng cây. Rừng không có lối, chúng tôi phải len lỏi giữa các gốc cây mà đi. Đám chim chóc bị tiếng bước chân làm giật mình bay lên tán loạn, kêu ầm ĩ trên không trung.
Nhị Sư thúc quay lại nhắc nhở:
— Bước chân của mày chưa đúng rồi, đi như thế sẽ gây ra tiếng động lớn đấy. Đi trong rừng phải nhấc chân cao, đặt chân nhẹ; còn đi ban đêm thì phải để chân sát đất rồi mới hạ xuống. Nhấc cao đặt nhẹ thì sẽ không gây tiếng động; để chân sát đất thì sẽ không dẫm phải chông sắt của đối phương.
Tôi làm theo cách của Nhị Sư thúc, quả nhiên không còn con chim nào bị giật mình bay đi nữa. Mấy con chim gáy, chim bách thanh vốn thính nhạy, vừa mới định vỗ cánh bay đi thấy im ắng lại đậu yên chỗ cũ.
Khi mặt trời lặn, chúng tôi đã đến sát một ngôi làng. Đứng trên gò đất cao nhìn xuống thấy có một con đường nhỏ ngoằn ngoèo chạy qua làng, nhưng chúng tôi không thấy ám hiệu con dao nào cả.
Tôi nói:
— Thần Hành Thái Bảo chắc không vào làng này đâu thúc, chẳng thấy ám hiệu gì cả.
Nhị Sư thúc khẳng định:
— Nhất định là có đi qua đây, vì đây là con đường duy nhất. Nhưng vì ở đây không có ngã rẽ nên Thái Bảo không để lại dấu vết thôi. Thái Bảo sẽ đi đường này, và hai tên thổ phỉ cũng vậy. Chúng ta băng rừng đi đường tắt nên lát nữa bọn chúng sẽ tới đây thôi.
Nghe nói thổ phỉ sắp tới, tôi lại thấy hãi. Nhị Sư thúc trấn an:
— Có gì mà sợ? Chúng ta dùng trí đấu với chúng nó chứ có dùng sức đâu mà lo.
Ông phủi sạch bụi bặm trên người, rồi cũng bảo tôi phủi sạch quần áo. Ông dặn:
— Tí nữa gặp bọn chúng, mày tuyệt đối không được nói lời nào, cứ để thúc đối phó. Dù bọn chúng có hỏi mày cũng phải giả làm người câm.
— Dạ rõ.
Nhị Sư thúc bảo tôi đi trước, tay trái ông đặt lên vai tôi, tay phải chống gậy dò đường, hai chúng tôi đi ngược hướng với bọn thổ phỉ.
Nhị Sư thúc đóng vai người mù, còn tôi là đứa câm.
Đi được chừng trăm mét thì gặp hai tên thổ phỉ đi tới, bọn chúng dùng áo bọc súng lại vác trên vai. Áo ngắn súng dài nên báng súng vẫn lộ ra ngoài. Cả hai tên đều có nước da đen nhẻm, một tên béo, một tên gầy. Bọn chúng há hốc mồm thở hồng hộc, răng đen sì — nghe nói người nào hút thuốc lào nhiều, nhất là loại thuốc rẻ tiền, thì răng mới đen như thế.
Hai tên đi đến trước mặt, tên béo gắt gỏng hỏi:
— Này thằng kia, có thấy ai chạy qua đây không?
Tôi cứ nhìn chằm chằm vào mũi hắn, không nói một lời. Lúc đầu tôi cũng sợ lắm, nhưng nghe người ta bảo nếu sợ ai mà không dám nhìn thẳng vào mắt họ thì cứ nhìn vào mũi họ là hết sợ ngay.
Tên béo quát:
— Thằng ranh kia, hỏi mày sao không trả lời?
Nhị Sư thúc bấy giờ mới vểnh tai nghe rồi cười khà khà:
— Hai vị tiên sinh, người sáng mắt mà chẳng bằng lão già mù này sao? Không thấy đứa nhỏ này là đứa câm à?
Tên béo hứ một tiếng:
— Câm à? Một lão mù dở với một thằng câm, đúng là một đôi trời hành.
Nhị Sư thúc không thèm chấp với hắn, chỉ vươn cổ lên ngửi ngửi rồi nói:
— Sát khí nặng quá, nếu hai vị không chê, lão xin có vài lời.
Tên béo gạt đi:
— Bọn tao đang bận việc, không rảnh nghe lão lảm nhảm.
Tên gầy thì bảo:
— Thời gian gấp lắm, lão mù muốn nói gì thì nói nhanh lên.
Tên béo giục:
— Đi thôi đi thôi, hơi đâu mà nghe lão bốc phét, vào làng phía trước mà hỏi.
Bọn chúng vừa lướt qua người chúng tôi, Nhị Sư thúc bỗng thốt lên:
— Hai vị đang tìm hai người, một nam một nữ phải không?
Hai tên thổ phỉ đang bước đi bỗng khựng lại, quay ngoắt đầu lại. Tên gầy trầm trồ:
— Lão thầy tướng này cũng có nghề đấy nhỉ.
Tên béo vẫn bán tín bán nghi:
— Nghề ngỗng gì, chắc là lão đoán mò thôi.
Nhị Sư thúc nói:
— Nếu không chê, lão xin xem chỉ tay cho, xem xong là biết ngay.
Tên béo đứng yên một chỗ, còn tên gầy bước lại gần, chìa bàn tay ra cho Nhị Sư thúc. Ông chỉ sờ qua một cái liền bảo:
— Nam trái nữ phải, xin đổi tay cho.
Tên gầy đổi sang tay trái. Ngón trỏ và ngón giữa của Nhị Sư thúc như gà mổ thóc, cứ gõ vào lòng bàn tay tên gầy, rồi đột ngột thốt lên:
— Các vị tìm người đàn ông kia mới được ba ngày; còn tìm người đàn bà kia thì đã lâu hơn nhiều rồi.
Tên gầy hỏi dồn:
— Lâu là bao lâu?
— Xem mạch tượng thì đã quá mười ngày rồi.
Con mụ đó đến chùa, cộng thêm mấy ngày truy đuổi nữa thì đúng là hơn mười ngày thật.
Tên gầy kinh ngạc nhìn sang tên béo. Tên béo bấy giờ mới lật đật chạy lại, nhìn Nhị Sư thúc với ánh mắt nửa tin nửa ngờ.
Nhị Sư thúc nói:
— Mời vị tiên sinh này đổi chỗ cho.
Tên béo chìa tay trái ra, Nhị Sư thúc sờ sờ một hồi rồi kêu lên kinh ngạc:
— Mạch tượng của vị tiên sinh này rõ ràng quá. Hai vị ban đầu cưỡi ngựa, sau lại đi bộ, dọc đường gió sương vất vả, cực nhọc vô cùng.
Lần này đến lượt tên béo tròn mắt nhìn tên gầy, còn tên gầy thì há hốc mồm kinh ngạc không thốt nên lời.
Nhị Sư thúc đột ngột đổi giọng:
— Vị tiên sinh này, tiền đồ đáng lo, tiền đồ đáng lo lắm thay!
Tên béo hốt hoảng:
— Sao cơ? Có chuyện gì vậy lão?
Nhị Sư thúc quả quyết:
— Đổi người đi, mời vị tiên sinh kia lại đây.
Tên gầy thành kính chìa bàn tay ra, Nhị Sư thúc sờ xong liền biến sắc mặt:
— Tiền đồ thực sự đáng lo ngại, thực sự đáng lo ngại!
Tên gầy mặt mày xám ngoét, run giọng hỏi:
— Làm sao hả? Có chuyện gì thế?
Nhị Sư thúc xua tay:
— Không thể nói, không thể nói được! Hai vị cứ lên đường đi, cứ coi như lão già này chưa nói gì, coi như lão nói nhăng nói cuội thôi.
Nói xong, ông đặt tay lên vai tôi, dứt khoát bước đi. Tên béo và tên gầy ngơ ngác nhìn nhau. Khi chúng tôi đi được mười mấy bước, bọn chúng liền lật đật đuổi theo.
Tôi chỉ lo bọn chúng sẽ bỏ đi luôn, không ngờ bọn chúng lại mắc bẫy. Một khi đã đuổi theo thì cái tròng đã thắt vào cổ, có muốn tháo ra cũng không được.
Tên gầy níu áo Nhị Sư thúc, khẩn khoản:
— Đại sư xin dừng bước, Ngài nói nửa chừng như vậy làm tôi thấy lo quá. Xin Ngài chỉ giáo cho.
Nhị Sư thúc nói:
— Cứ coi như lời gió thoảng mây trôi đi, lão già này nói xằng nói bậy thôi, tiên sinh đừng tin. Lão có nói chắc tiên sinh cũng chẳng tin đâu.
Tên gầy nài nỉ:
— Đại sư cứ nói đi, nói ra thì có làm sao đâu?
Nhị Sư thúc thở dài:
— Ngày mai hai vị sẽ gặp họa đổ máu.
Nói xong, ông lại chống gậy bước tiếp. Lần này thì cả tên gầy lẫn tên béo đều hoảng thật sự. Bọn chúng mỗi đứa một bên giữ chặt lấy Nhị Sư thúc, tên gầy lắp bắp hỏi:
— Sao... sao lại gặp họa đổ máu chứ?
— Hai vị vừa đến gần, lão đã ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc. Có phải hai vị đang sống cảnh "đầu đặt trên lưỡi đao" không? Lão sờ lòng bàn tay thấy hai vị đều thuộc mệnh Hỏa. Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ — người mệnh Hỏa kỵ nhất là dính phải máu tanh. Máu tưới lên lửa, lửa sẽ tắt ngay. Lửa tắt thì người cũng tận mạng.
Tên gầy và tên béo nhìn nhau, vẻ mặt đứa nào đứa nấy đều thảm hại. Bọn chúng sợ xanh mắt rồi. Suốt quãng đường truy đuổi Thần Hành Thái Bảo và con mụ kia, bọn chúng sợ nhất là bị phục kích. Bọn chúng đoán Thái Bảo không đi một mình mà chắc chắn còn có đồng bọn. Ái chà, hỏng rồi, chắc là sắp tới địa bàn của Thái Bảo nên bọn chúng sắp gặp họa rồi.
Tên gầy hỏi dồn:
— Giờ phải làm sao? Có cách nào hóa giải không?
Nhị Sư thúc nói:
— Muốn giải cũng không khó. Đêm nay vào giờ Tý, lúc trăng lên giữa trời, hai vị hãy từ chỗ này đi thẳng về hướng chính Bắc đúng năm trăm bước, không được thừa một bước, cũng không được thiếu một bước; sau đó rẽ sang hướng Tây đi tiếp đúng năm trăm bước, cũng không được thừa hay thiếu một bước nào. Suốt dọc đường tuyệt đối không được ngoái đầu lại. Sau đó quỳ xuống đất, niệm một trăm lần câu "Quan Thế Âm Bồ Tát xin hãy tha thứ cho con", họa đổ máu tự khắc sẽ tan biến.
Tên gầy và tên béo lộ vẻ mừng rỡ. Tên gầy lục túi không thấy gì, liền nháy mắt với tên béo. Tên béo móc túi lấy ra hai đồng bạc trắng đưa cho Nhị Sư thúc. Ông xua tay:
— Lão tiết lộ thiên cơ đã tổn thọ mất ba năm rồi, còn tham gì tiền bạc nữa. Đi đi, đi mau đi!
Hai tên thổ phỉ cúi gập người, cảm tạ Nhị Sư thúc rối rít. Một vị thầy tướng tận tình chỉ điểm mà không lấy tiền thì chắc chắn không phải kẻ lừa đảo rồi, biết đâu lại là Bồ Tát hiển linh cứu khổ cứu nạn cũng không chừng. Bọn chúng đứng nhìn theo bóng chúng tôi khuất xa mới chịu quay trở vào làng.
Nhị Sư thúc lạnh lùng bảo:
— Đêm nay sẽ lấy mạng hai đứa này.
Nửa đêm, ánh trăng mờ ảo. Hôm đó là ngày hai mươi ba âm lịch, trăng hạ huyền tuy có trăng nhưng không sáng lắm, mây mù bao phủ xung quanh càng làm không gian thêm phần u ám.
Tên gầy và tên béo đi từ trong làng ra. Bọn chúng tìm đến đúng chỗ ban chiều rồi bắt đầu hành trình "giải hạn": đi thẳng về hướng Bắc năm trăm bước, sau đó rẽ sang hướng Tây. Khi mới đi được chừng hai trăm bước hướng Tây, bọn chúng đột nhiên thấy mình đã lạc bước vào giữa một bãi tha ma.
Cánh đồng mộ địa này là nơi chôn cất bao nhiêu thế hệ người làng xung quanh, mộ lớn mộ nhỏ nhiều không kể xiết. Cạnh mỗi ngôi mộ đều trồng những cây bách cổ thụ, có cây to như tòa bảo tháp, có cây nhỏ như cán roi. Giữa bãi tha ma, những đốm lửa ma trơi xanh lét lúc ẩn lúc hiện, lúc xa lúc gần. Tiếng chim cú mèo kêu thảm thiết vọng lại từ xa, nghe rợn cả người.
Hai tên thổ phỉ sợ đến run lẩy bẩy. Bọn chúng nắm chặt lấy tay nhau mà bước tiếp. Vừa đi đến giữa bãi tha ma, thình lình từ một ngôi mộ hiện ra một con ác quỷ cao tới ba bốn trượng, mặt xanh nanh dài, thân hình to lớn dị hợm. Con ác quỷ nhìn thấy bọn chúng liền cười lên sằng sặc, gào thét:
— Các con ơi ra mau, có mồi ngon tới rồi đây!
Tên gầy và tên béo sợ đến hồn xiêu phách lạc, chẳng còn nhớ gì đến lời dặn của lão thầy tướng mù nữa. Bọn chúng rú lên kinh hoàng rồi quay đầu bỏ chạy thục mạng. Tên béo chẳng may vấp phải một ngôi mộ, lăn lông lốc xuống đất, đầu đập vào bia đá máu chảy ròng ròng; còn tên gầy thì đâm sầm vào một cây bách, những lá bách nhọn hoắt chọc vào mắt khiến hắn đau đớn, trước mắt chỉ còn một màu đen tối tăm.
Tên béo lồm cồm bò dậy chạy tiếp, vừa chạy đến trước một cây bách lớn, chợt thấy trên cây có một cái xác treo cổ, tóc dài rũ rượi, mặt trắng bệch, cái lưỡi thè ra dài thượt. Hắn sợ đến mức suýt ngất xỉu, bèn rẽ sang hướng phải mà chạy. Vừa chạy được vài bước, từ dưới mộ lại trồi lên một con ác quỷ khác, tay cầm quạt ba tiêu gào lớn:
— Hắc Bạch Vô Thường đâu, mau bắt thằng béo này về cho lão gia làm mồi nhắm!
Hắc Bạch Vô Thường lập tức nhảy từ dưới mộ lên, lao thẳng về phía tên béo. Hắn kêu thét lên một tiếng kinh hoàng, quay đầu chạy loạn xạ rồi hụt chân ngã xuống vực sâu thăm thẳm.
Tên gầy lúc này toàn thân run cầm cập, cố bò dậy mà không nổi. Con ác quỷ cầm quạt ba tiêu thong thả tiến lại gần, tên gầy cố dùng ngón tay banh mí mắt ra nhìn thì thấy con ác quỷ rút một cái búa đinh từ ngang hông ra, nện một nhát trời giáng. Tên gầy đổ ụp xuống, nằm bất động.
Sáng hôm sau, dân làng đi chợ, đi làm đồng, đi cưới hỏi... vẫn nô nức qua lại cạnh bãi tha ma đó, chẳng ai biết rằng đêm qua đã có hai mạng người nằm lại nơi này.
Trò giả thần giả quỷ đối với người phái Giang Tướng mà nói thì quá dễ dàng, vì đó là bài học cơ bản của chúng tôi. Bãi tha ma này chúng tôi đã nhắm sẵn từ lúc đi qua rồi, Nhị Sư thúc tính toán kỹ lưỡng vị trí nên mới bảo bọn chúng đi năm trăm bước hướng Bắc rồi năm trăm bước hướng Tây để dồn chúng vào đúng giữa bãi tha ma.
Bãi tha ma ba mặt là đất bằng, còn một mặt là vực sâu. Chỉ cần dồn được bọn chúng về phía vực là kế hoạch thành công. Con ác quỷ cao ba bốn trượng kia thực ra chỉ là một đạo cụ. Đêm đó chúng tôi nấp trong một gian nhà bỏ hoang, làm ra mấy cái đạo cụ như vậy. Khi hai tên thổ phỉ đi tới, tôi nấp sau mộ chỉ việc dựng con quỷ đó lên là bọn chúng đã sợ mất mật rồi. Thấy bọn chúng quay đầu chạy, tôi giật sợi dây thừng dài thế là cái xác treo cổ đang nằm dưới đất liền treo lơ lửng trên không trung. Cái xác đó cũng chỉ là đạo cụ thôi. Lúc ấy, bọn chúng chỉ còn nước chạy sang trái hoặc sang phải. Chạy sang phải là đụng ngay Nhị Sư thúc đóng giả ác quỷ cầm quạt ba tiêu, ông chỉ cần hô một câu "Hắc Bạch Vô Thường" là tên béo đã hồn bay phách lạc, cứ thế mà lao thẳng xuống vực.
Còn tên gầy thì khỏi phải nói, chẳng cần Nhị Sư thúc ra tay, ngay cả tôi lại gần bóp cổ gã chắc gã cũng chẳng dám phản kháng.
Hai tên thổ phỉ hung hãn đã đền mạng như thế đó, bọn chúng chết trong mê hồn trận của quỷ dữ. Thực ra trên đời này làm gì có quỷ, toàn là do con người tự hù dọa mình mà sinh ra quỷ đó thôi.
Trong lòng không tà quỷ, vạn sự chẳng hãi hùng.