Tổ Bịp
- 2483 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 9. Tất cả đều hóa hư không
Hạ tuần tháng Chạp, nhà nào nhà nấy đều tất bật sắm sửa, gánh xiếc chẳng còn lấy một mống khách. Người ta mải đồ xôi, gói bánh, quét dọn cửa nhà... mấy ai còn tâm trí mà xem trò tạp kỹ? Thế là chúng tôi đành nán lại nơi huyện thành huyên náo ấy, vất vưởng chờ Tết sang.
Càng gần ngày cuối năm, phong vị Tết lại càng nồng đượm. Không gian vương vít mùi khói pháo khét lẹt, đèn lồng đỏ treo cao, câu đối đỏ dán cửa, đám trẻ con xúng xính trong tà áo mới. Người người gặp mặt đều chắp tay cung kính, nụ cười rạng rỡ nở trên môi.
Tôi chợt thèm một mái nhà đến lạ. Tôi tự hỏi nếu giờ này mình đang ở nhà thì sẽ làm gì, cha mẹ đang làm gì. Vương Tế Quỷ dẫu keo kiệt đến tận xương tủy, nhưng ông ấy vẫn là cha tôi, có cha dù sao vẫn tốt hơn là đơn độc một mình. Nếu giờ còn ở nhà, hẳn tôi cũng được diện áo mới, đốt pháo hoa, cắn những miếng thịt to đến sướng miệng và cùng lũ bạn tranh nhau xem ai nhiều tiền lì xì hơn.
Nhưng tôi chẳng còn nhà nữa, cũng chẳng biết nhà mình ở chốn nao.
Tiệc Tết vừa tàn, nơi đây vẫn nhộn nhịp như cũ. Dân các làng tổ chức đội "xã hỏa", kéo về huyện lỵ thi thố. Nào đi cà kheo, múa thuyền cạn, nào cưỡi lừa giấy, nhảy ương ca... nối đuôi nhau thành hàng, gương mặt ai nấy đều hớn hở. Làng này trổ tài tung hứng trên cao, làng kia khoe ngón võ thuật. Trước cổng huyện phủ đặt một chiếc bàn bát tiên, bên trên xếp chồng những đồng bạc trắng loáng. Tiết mục của làng nào đặc sắc, tiếng reo hò càng lớn thì chồng bạc ấy sẽ thuộc về họ. Quan huyện vận trường bào mã quái, mặt mày hớn hở chắp tay chào hỏi trên đài; đám nha lại phía sau cũng tươi cười rạng rỡ, vui vẻ lạ thường. Dưới bậc thềm là hai đội trống hội, một bên đỏ rực, một bên vàng chói, tiếng trống vàng lên giòn giã, khuấy động bầu không khí nóng hừng hực... Gánh xiếc vẫn chẳng có ma nào thèm ngó.
Mãi đến sau rằm tháng Giêng, nếp sống của người dân mới trở lại vẻ bình lặng thường nhật, gánh xiếc cuối cùng cũng lên đường.
Qua Tết, Tiểu Thiên và Tiểu Vạn bắt đầu phải độc lập hành sự. Cao Thụ Lâm giao cho tôi nhiệm vụ: khi đang diễn trên dây thừng, phải chỉ ra ba gia đình giàu có nhất để ba người bọn họ chia nhau hành động.
Làng đầu tiên chúng tôi dừng chân năm ấy là Mã Gia Hà, một ngôi làng lớn với hơn trăm hộ dân.
Sân khấu dựng ngay trên sân phơi thóc, tiếng chiêng đồng vang vọng khắp làng, mọi người đổ xô ra khỏi cửa. Sau Tết, đất đai vẫn còn đóng băng chưa kịp tan hết, dân quê còn nhàn tản đợi mùa gieo hạt. Gánh xiếc vừa đến, tất thảy đều kéo ra xem.
Tôi đứng trên dây, kín đáo ra hiệu vị trí ba ngôi nhà bề thế. Ba bóng người lập tức lẻn đi, leo qua tường rào. Phía Bồ Đề và Tiểu Thiên đều thuận lợi, nhưng chỗ Tiểu Vạn lại xảy ra chuyện.
Cái sai nằm ở chỗ Tiểu Vạn đã quên mất chiêu "ném đá dò đường".
Trong sân chắc chắn không có người, nhưng rất có thể có chó. Theo lệ thường, kẻ trộm khi ngồi trên bờ tường nhất định phải ném một hòn đá để thăm dò, nếu có chó thì tuyệt đối không được nhảy xuống. Ngặt nỗi, Bồ Đề truyền dạy đủ mọi ngón nghề trộm đạo cho hai đệ tử, lại quên khuấy mất quy tắc cơ bản nhất này.
Tiểu Thiên may mắn vì nhà kia không nuôi chó; còn Tiểu Vạn lại gặp xui xẻo.
Đứng từ trên dây cao, tôi thấy Tiểu Vạn vừa nhảy vào sân thì một con chó săn to như con bê từ hậu viện lao xồ ra. Tiểu Vạn hoảng loạn tìm đường chạy, nhưng sao thoát nổi nanh vuốt loài thú dữ, chưa kể bức tường cao sừng sững đã chặn đứng đường lui. Tiểu Vạn bị chó săn quật ngã, nó điên cuồng cắn xé, thằng bé chỉ biết vùng vẫy trong tuyệt vọng.
Tôi không biết phải làm sao. Nếu tôi ngừng diễn, dân làng quay về nhà, Bồ Đề và Tiểu Thiên sẽ bị tóm gọn; nhưng nếu tôi tiếp tục diễn, Tiểu Vạn sẽ bị chó cắn đến chết mất.
Tôi bước đi trên dây thừng, lòng dạ như lửa đốt. Phải làm sao đây? Làm sao bây giờ?
Đi thêm một vòng, tôi rốt cuộc không chịu nổi nữa, bèn tuột khỏi cột gỗ. Cao Thụ Lâm hầm hầm chất vấn tại sao, tôi thầm thì: Tiểu Vạn bị chó vồ trong sân rồi.
Sắc mặt Cao Thụ Lâm đại biến, lão vội vàng quay người, giục chúng tôi thu dọn đồ đạc lên xe.
Đám đông luyến tiếc tản ra, chúng tôi đánh xe ngựa hớt hải tháo chạy.
Xe ngựa lao đi vun vút, tôi bám chặt lấy thành xe. Cao Thụ Lâm không ngừng ngoái đầu xem có ai đuổi theo không.
Chạy được chừng hai ba dặm, Bồ Đề từ đám cỏ dại ven đường vọt ra. Gã bảo vẫn chưa lấy được gì, vừa nghe tiếng kêu thảm của Tiểu Vạn theo gió đưa tới là biết hỏng chuyện rồi, liền nhảy tường trốn thoát ngay. Gã không đợi được Tiểu Thiên, thằng bé vẫn chưa ra khỏi làng.
Mã Gia Hà là làng lớn, sân phơi thóc cách làng hàng trăm mét. Chuyện Tiểu Vạn bị chó xé xác chắc chỉ có Bồ Đề và Tiểu Thiên ở gần đó nghe thấy, còn đám người xem xiếc ngoài sân phơi thì chẳng hay biết gì.
Bồ Đề vẫn còn tiếc hai đứa đồ đệ, bảo Cao Thụ Lâm dừng xe đợi thêm chút nữa. Cao Thụ Lâm gắt:
Đợi cái gì mà đợi! Đợi nữa là cả lũ bị tóm hết. Hai đứa nó cứ mặc cho trời định đi.
Xe ngựa lại phi như bay. Đường quê không một bóng người, mây chiều sà thấp, gió nổi lên cuốn theo những hạt tuyết li ti, tạt vào mặt đau buốt. Về sau, tuyết rơi càng lúc càng dày, vết bánh xe trên đường hiện rõ mồn một. Bồ Đề khuyên mọi người nên chia làm hai ngả, Thụ Trạng đánh xe đi trước, những người còn lại tìm chỗ ẩn nấp để tránh bị truy đuổi. Gã nói:
Trong nghề bọn ta có câu, ngày tuyết rơi không hành sự.
Cao Thụ Lâm nhìn bầu trời đầy tuyết mịt mù, ngửa mặt cười lớn:
Trời giúp ta rồi! Cứ thế mà đi, tuyết rơi thế này chẳng mấy chốc sẽ xóa sạch vết bánh xe thôi.
Xe ngựa lại lầm lũi đi qua một phiên chợ. Chợ vắng tanh không bóng người, chỉ có những chiếc đèn lồng đỏ trên mái hiên khách sạn run rẩy trong làn tuyết. Ai nấy đều vừa đói vừa lạnh, chỉ mong được quây quần bên bếp lửa hồng, húp một bát cháo ngô nóng hổi, nhưng Cao Thụ Lâm bắt phải đi tiếp. Lão bảo:
Nếu có người đuổi theo, chắc chắn họ sẽ nghĩ chúng ta trú lại đây, thế nên chúng ta càng không được dừng lại.
Đi đến nửa đêm thì tới một cửa ải giữa núi. Gió tuyết lúc này càng dữ dội, đất trời trắng xóa một màu. Gió lùa vào khe núi khiến tuyết tích tụ dày tới mấy mét, xe ngựa không sao qua nổi. Chúng tôi xuống xe, hơi thở của ngựa phun ra thành luồng hơi nóng, bờm ngựa đóng một lớp băng.
Cao Thụ Lâm lảo đảo đi về phía sườn núi, chúng tôi cũng liêu xiêu bước theo. Lớp áo bông mỏng manh như tờ giấy, chẳng chống chọi nổi với cơn cuồng phong. Đến chân núi, chân tay tôi đã tê dại, mất hết cảm giác. Thấy một hang đá dưới sườn núi, mọi người chen nhau chui vào, dựa vào hơi ấm của nhau để giữ mạng. Thụ Trạng dắt cả ngựa vào trong, lũ khỉ rét quá kêu chí chóe.
Mùa đông phương Bắc nhiệt độ có thể xuống tới âm hai mươi, ba mươi độ, tuyệt đối không thể sống sót ngoài trời. Giờ đây, tiến thoái lưỡng nan, tuyết chặn đường về, chúng tôi kẹt lại trong hang đá lạnh lẽo. Răng ai nấy đánh vào nhau lập cập, người cứng đờ vì giá rét. Chúng tôi áp sát vào bụng ngựa, ôm ghì lấy chân chúng, mong có chút hơi ấm ít ỏi.
Đáng sợ nhất là muốn nhóm lửa mà chẳng tìm đâu ra một thanh củi khô. Trận tuyết lớn đã dìm tất cả cỏ cây vào ẩm ướt, chúng tôi chỉ còn biết lấy thân mình chống lại cái lạnh đang bủa vây.
Thụ Trạng bảo:
Dỡ xe ngựa ra.
Gã đạp tuyết ngập đến thắt lưng, bước tới chỗ xe ngựa. Tiếng củi nứt toác "răng rắc" vang vọng tận vào trong hang. Gã lật nhào chiếc xe, chân giậm một bên càng, tay ôm lấy bên kia, gồng mình bẻ gãy, tách rời càng xe khỏi thùng xe.
Thụ Trạng ôm đống gỗ vụn vào hang. Nhưng trong hang lại chẳng có lấy một mẩu bùi nhùi để mồi lửa. Thụ Trạng nhìn quanh quất, đoạn chỉ vào thắt lưng Cao Thụ Lâm:
Móc ra đi.
Môi Cao Thụ Lâm run bần bật:
Cái gì?
Thụ Trạng gắt:
Ngân phiếu chứ cái gì!
Cao Thụ Lâm ngẩn người một hồi, rồi dùng những ngón tay đông cứng cố sức cởi thắt lưng. Cái thắt lưng của lão vừa dài vừa rộng, bên trong nhét đầy những xấp tiền giấy mệnh giá lớn. Thúy Nhi và tôi đều từng tò mò tiền của lão giấu ở đâu, hóa ra đều nằm cả ở đấy.
Thụ Trạng vò nát đống tiền giấy rồi châm lửa. Ngọn lửa bùng lên, gã chất những thanh gỗ từ xe ngựa lên trên. Tiền giấy vừa cháy rụi thì củi cũng bắt đầu bén lửa.
Cao Thụ Lâm phủ phục bên đống lửa, rú lên những tiếng thê lương như loài sói dại.
Nửa đời tích cóp, nửa đời mưu tính lọc lừa, cuối cùng tất cả chỉ để đổi lấy một đống lửa sưởi ấm trong đêm đông tàn khốc.
Lúc ấy, chẳng thể tìm được thứ gì khác để nhóm lửa nữa. Củi cỏ đều ướt, quần áo ướt, rèm xe cũng ướt, ngay cả mui xe ngựa cũng phủ đầy tuyết. Chỉ có những tờ giấy bạc khô ráo giấu trong lớp thắt lưng của lão là thứ duy nhất có thể bắt lửa ngay lập tức. Không có đống lửa này, cả lũ sẽ chết cóng ở đây. Chúng tôi cần hơi ấm để giữ mạng, cần ngọn lửa để hong khô quần áo.
Đêm đó tôi chợt nghĩ: Tiền nhiều phỏng có ích gì, sống được mới là điều quan trọng nhất.
Tiền bạc, danh vọng, tất cả rốt cuộc chỉ là hư ảo khi đứng trước lằn ranh của sự sống và cái chết. Giữa hang núi xa xăm, trong tiếng gió rít điên cuồng, ngọn lửa từ đống tiền ấy đang nhảy múa, thiêu rụi cả một đời tham vọng của lão cáo gì, biến tất cả thành tro bụi.
Trời sáng, tuyết ngừng rơi, không khí ấm dần lên. Phóng mắt nhìn quanh, núi rừng khoác lớp áo trắng tinh khôi, đẹp vô ngần. Nhưng Cao Thụ Lâm chẳng còn tâm trí nào mà ngắm nghía. Lão bò sát đất, không ngừng bới móc trong đống tro tàn, hy vọng tìm được một tờ tiền chưa cháy hết.
Chỉ sau một đêm, từ một kẻ giàu có, lão trắng tay hoàn toàn, trông già đi cả chục tuổi.
Thụ Trạng bảo:
Tiền tài là vật ngoài thân. Anh cứ nghĩ lại hoàn cảnh tối qua, muốn tiền thì mất mạng, muốn mạng thì mất tiền. Tiền sao quý bằng mạng được?
Cao Thụ Lâm ngẩng đầu lên, mặt mũi lem nhem những vệt than đen thui, lão lẩm bẩm:
Tao muốn cả mạng, cả tiền cơ.
Thụ Trang nói:
Muốn tiền thì khó gì? Anh em ta đều có nghề, mua thêm cái xe, dựng lại gánh khác mà làm.
Cao Thụ Lâm mếu máo:
Lấy gì mà mua? Tao chẳng còn một xu dính túi.
Thụ Trạng gạt đi:
Còn ngựa đây thây! Bán một con đi là đủ mua hai cái xe lớn rồi. Chúng ta mua một cái thôi, tiền dư để ăn dọc đường. Diễn một buổi là có tiền một buổi.
Cao Thụ Lâm mếu máo đáp:
Đành vậy thôi.
Thụ Trạng bảo tôi theo gã ra chợ bán ngựa, những người còn lại đợi trong hang. Ai nấy đói đến lả người. Lúc chúng tôi đi, kẻ thì dặn mua bánh bao nhân thịt, người thì đòi mua bánh quẩy thừng. Quẩy thừng khi ấy là món ăn xa xỉ vô cùng.
Chúng tôi dắt ngựa ra cái chợ đêm qua. Tuyết phủ lấp lối đi, phải nhìn kỹ lắm mới nhận ra con đường cũ.
Đến được chợ thì đã quá trưa. Đói đến mức bụng dán vào lưng, đi đứng lảo đảo, tưởng chừng sắp ngã quỵ. Phố xá thưa thớt, hàng quán đóng cửa im ỉm. Thụ Trạng giục:
Mày rao đi, không rao ai biết mình làm gì?
Tôi hỏi:
Rao thế nào?
Thụ Trạng bảo:
Cứ kêu bán ngựa.
Tôi cất tiếng:
Bán ngựa đây...
Giọng yếu ớt, mềm nhũn như sợi bún. Thụ Trang gắt:
Hét to lên!
Tôi ráng hết sức:
Bán ngựa đây!
Phía trước là một quán trọ, một toán người cưỡi ngựa từ đó đi ra. Họ đã đi cách tôi chừng mười mét, chợt nghe tiếng rao thì đồng loạt ngoái đầu lại. Tôi sững sờ khi thấy trong đám người ấy có cái đầu của Tiểu Thiên. Thằng bé đang ngồi sau lưng một người, tay ôm chặt lấy thắt lưng hắn.
Chúng tôi muốn bán ngựa, chẳng gặp được người mua, lại chạm mặt kẻ đi lùng bắt. Cao Thụ Lâm và những người khác đợi bánh bao nhân thịt trong hang, bánh chẳng thấy đâu, chỉ thấy xiềng xích tìm đến.
Tất cả chúng tôi đều bị tống vào đại lao của huyện.