Tổ Bịp

  • 6786 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 38. Cao thủ mở khóa chốn lao tù
Tôi và Yến Tử trốn khỏi Đại Đồng, đi một mạch về phương Bắc. Đột nhiên, trước mắt hiện ra một bức tường đất cao lớn, chắn ngang tầm mắt và bước chân hai đứa. Tường thành loang lổ, dạn dày sương gió, lại dị thường cao vút, cỏ cây chẳng thể mọc nổi, chúng tôi không cách nào leo qua.
Yến Tử nói đó là Trường Thành.
Trước đây, tôi chỉ nghe tiên sinh trong tư thục kể về Trường Thành. Thầy nói có người đàn bà nọ khóc ròng rã bảy ngày bảy đêm, khóc đến sập cả tường thành. Giờ đây đứng dưới chân vạn lý quan sơn, ngước nhìn bức tường cao chạm mây, tôi mới hiểu tiên sinh ngày trước chỉ toàn nói xạo, cũng giống như những lời của Khổng phu tử, đều là dối trá hết. Trường Thành cao lớn kiên cố, cỏ cây không mọc, đừng nói là người đàn bà kia khóc bảy ngày đêm, dẫu có khóc bảy vạn năm hay bảy ức năm, cũng chẳng đời nào khóc sập được nó.
Không thể vượt tường, chúng tôi đành men theo chân thành mà đi. Đi hơn mười dặm mới thấy một chỗ sụt lở, bấy giờ mới lách mình qua được.
Phía bắc Trường Thành, người ta gọi là Sai Ngoại.
Gió Sai Ngoại rất gắt, thổi vào mặt đau rát. Vùng biên ải này bao la vô tận, liếc mắt chẳng thấy bờ. Bầu trời nơi đây vừa cao vừa xanh, tựa hồ một đại dương sâu thẳm khôn cùng.
Bức tường đất sừng sững mấy ngàn năm ấy đã chia cắt thế gian thành hai thế giới khác biệt.
Sai Ngoại mênh mông bát ngát, chúng tôi ôm trong mình viên đại kim cương, muốn tìm được lão ăn mày ở chốn này thực chẳng phải chuyện dễ dàng. Có khi đi mấy ngày đêm chẳng bóng người qua lại; muốn dò hỏi tung tích một ai đó, đúng là khó hơn mò kim đáy bể.
Thế nhưng Đại Đồng đã chẳng thể quay về, chúng tôi chỉ còn cách tìm lão ăn mày. Giao viên kim cương cho lão mới là phương sách an toàn nhất. Khổ nỗi lão ăn mày ở đâu, chúng tôi không rõ. Lão đi mây về gió, bặt vô âm tín như chim hạc giữa trời xanh, có lẽ chỉ bản thân lão mới biết mình đang ở chốn nào.
Chúng tôi cứ thế lang thang khắp bình nguyên Sai Ngoại, tìm kiếm hết làng này đến xóm khác.
Một ngày nọ, hai đứa đặt chân tới huyện Xích Phong. Thời bấy giờ Xích Phong thuộc tỉnh Nhiệt Hà. Nhiệt Hà là một trong bốn tỉnh vùng Đông Bắc, ba tỉnh còn lại là Hắc Long Giang, Cát Lâm và Phụng Thiên. Phụng Thiên chính là Liêu Ninh ngày nay.
Đêm ấy, chúng tôi nghỉ lại tại khách sạn Thông Nguyên trong huyện. Để tiết kiệm, hai đứa ở chung một phòng.
Đến nửa đêm, bên ngoài chợt vang lên tiếng đập cửa rầm rầm. Một nhóm người xông thẳng vào khách sạn Thông Nguyên, bảo rằng có đặc vụ Nhật Bản trà trộn vào Xích Phong, yêu cầu khám phòng.
Sau này tôi mới nghe nói, thời kỳ đó Nhật Bản đã phái mười vạn đặc vụ tới Trung Hoa, vòi bạch tuộc vươn đến tận từng tỉnh thành. Kẻ đóng giả thương nhân, người giả làm tham mưu, kẻ lại sắm vai du khách, bọn chúng tuồn mọi thông tin tình báo về đại bản doanh Nhật Bản để chuẩn bị cho kế hoạch xâm lược.
Kẻ khám phòng là cảnh sát. Chúng lục soát người tôi, lôi ra viên đại kim cương rồi áp giải cả tôi lẫn Yến Tử đi.
Ban đầu tôi cứ ngỡ mình không phải đặc vụ Nhật thì chẳng việc gì phải sợ, cũng không nghĩ tới chuyện giấu viên kim cương đi. Chẳng ngờ được bọn chúng lại ngang nhiên khám người.
Tôi đúng là quá đần, đần đến chết mất thôi.
Chúng tôi bị tách ra để thẩm vấn.
Bọn cảnh sát bắt tôi khai ra gốc gác, nguồn gốc viên kim cương, tại sao Yến Tử lại đi cùng tôi và đến Xích Phong để làm gì.
Tôi biết quan phủ đang truy lùng Hổ Trảo. Lúc ấy tôi chưa hay tin Hổ Trảo đã bị áp giải về kinh thành, nên tuyệt đối không thể tiết lộ quan hệ với anh ta. Tôi cũng biết lão ăn mày là sư phụ của Hổ Trảo, nếu nói mình đi tìm lão thì sẽ liên lụy đến lão. Điều duy nhất tôi có thể nói là về Yến Tử.
Tôi bảo: "Yến Tử là vợ chưa cưới của tôi."
Bọn cảnh sát không tin nửa lời, chúng mắng: "Cái thằng nhà quê vừa đần vừa ngốc như mày mà lại có cô vợ xinh đẹp thế này sao? Có bịa chuyện cũng không biết đường mà bịa. Nói! Mày đã bắt cóc tiểu thư nhà quyền quý nào về đây?"
Chúng mặc định Yến Tử là tiểu thư khuê các.
Yến Tử dù sao cũng có liên quan đến Hổ Trảo, vì thế lúc này tôi chỉ còn cách im lặng.
Bọn chúng vung roi da, từng lằn roi quất xuống người tôi đau đớn. Để không làm lộ Hổ Trảo và Yến Tử, tôi cắn răng không thốt một lời. Chúng đánh đến mức tôi da thịt nát bươm, mấy bận suýt chút nữa là hôn mê bất tỉnh.
Sau cùng, bọn chúng đánh đến mệt lả, hậm hực bảo: "Thằng cha này da thịt cứng thật, thôi bỏ đi, đi ăn cơm đã."
Chúng kéo nhau đi đánh chén, còn tôi vẫn bị treo lơ lửng trên xà nhà. Vì đau đớn, mồ hôi vã ra như tắm, mồ hôi thấm vào vết thương khiến toàn thân cay xè, buốt nhói.
Tuy nhiên, nỗi đau thể xác chẳng thấm tháp gì, tôi có thể cắn răng chịu đựng, nhưng nỗi đau trong lòng thì không. Tôi nghĩ đến Yến Tử, lo sợ cô ấy cũng phải chịu những cực hình như thế này.
Yến Tử đang ở đâu? Tôi không biết.
Đến tối, thấy chẳng thể cạy được nửa lời từ miệng tôi, bọn chúng ném tôi vào lao giam.
Trong ngục tối om như hũ nút, tôi nằm dài trên sàn đá lạnh lẽo, cảm nhận được lũ chuột chạy ngang qua chân. Tôi khẽ rung chân, chúng liền rúc vào góc tường kêu chí chóe.
Đến nửa đêm, bên ngoài chợt đổ mưa lớn. Nước mưa tràn vào lao như suối nhỏ, thấm qua người tôi, làm các vết thương lại một phen đau buốt lửa đốt.
Tôi cứ ngỡ trong lao chỉ có mình mình, bấy giờ đột nhiên từ góc tường vang lên tiếng nói: "Cậu xê qua bên này một chút thì sẽ không bị ướt."
Người nọ nói giọng địa phương, âm mũi rất nặng. Tôi thấy làm lạ, không hiểu sao trong này còn có người nữa, lão bị bắt vì tội gì?
Bên ngoài vọng lại tiếng bước chân của lính canh, lội nước bì bõm. Khi kẻ đó dừng lại trước cửa sắt, tiếng bước chân im bặt, tựa hồ đang dỏng tai nghe ngóng. Tôi và người kia đều im lặng. Lính canh không thấy động tĩnh gì, lại lẹt quẹt bước chân rời đi.
Ngoài kia, tiếng mưa rả rích dần ngớt, tiếng ếch nhái kêu ran như những dấu chấm than; lại có tiếng dế mèn lanh lảnh, nghe trong trẻo như tiếng suối chảy.
Người nọ trong góc tối hỏi: "Vì sao cậu bị tống vào đây?"
Tôi không dám nhắc tới viên kim cương và Yến Tử, chỉ đáp: "Bọn chúng kiểm tra đặc vụ Nhật rồi bắt tôi vào."
Lão bảo: "Suốt ngày đặc vụ với chả tình báo, làm gì có lắm đặc vụ Nhật thế?"
Tôi tò mò hỏi: "Đặc vụ Nhật là cái gì hả lão?"
Lão đáp: "Ồ, cậu còn chưa biết sao? Cậu là người phương nào?"
Tôi bảo: "Tôi là người trong quan nội."
Lão gật gù: "Hèn chi. Nhật Bản là một quốc gia, cùng văn cùng chủng với Trung Hoa ta, đời đời kiếp kiếp là láng giềng hữu nghị, quan hệ thân thiết như anh em một nhà. Nhật Bản phát triển lắm, Trung Hoa thì lạc hậu, người Nhật muốn giúp Trung Hoa có 'ngày tháng tốt đẹp' nên mới đến đây."
Đây là lần đầu tôi nghe về đất nước Nhật Bản, liền hỏi: "Nhật Bản ở đâu?"
Lão bảo: "Nhật Bản xa lắm, từ đây đi về phía đông mấy ngàn dặm, băng qua đại dương, đi thêm mấy ngàn dặm nữa mới tới."
Tôi thắc mắc: "Người Nhật muốn giúp dân mình sống sướng, sao còn phải phái đặc vụ làm gì?"
Lão cười: "Đặc vụ gì đâu? Toàn là bọn chúng nói nhảm đấy. Chúng mượn cớ này để tống tiền dân lành, vu cho người ta là đặc vụ Nhật, cứ xì tiền ra là được thả thôi."
Tôi không đoán định được lai lịch người này, nhưng nghe cách nói chuyện thì thấy lão là người hiểu rộng biết nhiều, ngay cả một nước Nhật xa xôi lão cũng hay biết. Kiến thức và nhãn quan của lão phong phú hơn hẳn vị tiên sinh ở tư thục của tôi. Nhưng tại sao lão cũng bị bắt?
Tôi hỏi: "Nhà lão ở đâu?"
Lão đáp: "Nhà ta ở Phụng Thiên."
Phụng Thiên thì tôi biết, đó là vùng quan ngoại. Nhưng giọng lão nghe chẳng giống, giọng lão mang âm mũi đặc trưng của vùng này.
Tôi hỏi tiếp: "Phụng Thiên xa vậy, sao lão lại đến tận Xích Phong?"
Lão bảo: "Người Nhật vào Phụng Thiên rồi nên ta rời đi, dạt về đây."
Tôi ngạc nhiên: "Lão vừa bảo người Nhật tốt, sao họ đến Phụng Thiên lão lại bỏ chạy?"
Lão hạ thấp giọng: "Ta là kẻ trộm."
Tôi giật nảy mình, không ngờ trong cái lao ngục tối tăm ở Xích Phong này lại gặp được đồng nghiệp. Tôi dùng hắc thoại giang hồ để dò xét: "Hóa ra là dân 'ăn cơm cửa sau', lão là hạng 'thợ cả' phải không?"
Ý tôi muốn hỏi lão có phải là cao thủ trong nghề trộm đạo hay không. Trong giang hồ, kẻ bản lĩnh gọi là thợ cả, kẻ kém cỏi là thợ vịn.
Lão không phản ứng gì, trong bóng tối chẳng nghe thấy tiếng lão nói, chỉ có tiếng thở khe khẽ như gió thoảng qua kẽ lá.
Tôi bảo: "Lão không phải người trong nghề rồi, lão lừa tôi."
Lão đáp: "Hóa ra cậu cũng là người trong nghề, thất kính, thất kính."
Tôi nói: "Đã là đồng đạo, sao lão không dùng 'tiếng lóng'? Lão không hiểu lời tôi nói, chắc chắn lão không phải dân trong nghề."
Lão bảo: "Ta tung hoành giang hồ nửa đời người, chưa từng lỡ tay, chẳng ngờ lại lật thuyền trong mương, sa cơ ở cái huyện nhỏ Xích Phong này."
Tôi vặn lại: "Đến tiếng lóng lão còn không hiểu, lấy gì bắt tôi tin lão là đồng đạo?"
Lão bảo: "Cậu đỡ ta dậy."
Tôi lom khom bò dậy, men theo vách tường mò tới bên cạnh lão, hỏi: "Lão bị sao thế?"
Lão rên rỉ: "Ta bị gãy cả hai chân rồi, nếu không thì cái lao tù nhỏ bé này sao nhốt nổi ta."
Tôi đỡ lão dậy, lão run rẩy mò tới sau cánh cửa sắt, rút từ đế giày ra một mẩu sắt nhỏ, thọc vào lỗ khóa. Lão đẩy mạnh một cái, tiếng "cạch" vang lên, khóa đã mở.
Tôi há hốc mồm kinh ngạc.
Lão khóa lại như cũ, giấu mẩu sắt vào đế giày rồi bảo tôi đỡ lão về góc tường.
Lão hỏi: "Giờ thì tin chưa?"
Tôi chắp tay xá dài: "Tiền bối tại thượng, xin nhận của vãn bối một lạy."
Tôi nghĩ thầm, có người này giúp bẻ khóa, lo gì không sớm thoát khỏi cái chốn tối tăm này.
Sáng hôm sau, cửa sắt vang lên tiếng lách cách rồi mở toang, những người trong lao chậm chạp bước ra sân để "thả gió". Người kia không đứng dậy nổi, tôi phải dìu lão dậy, cùng bước ra sân.
Trong nhà lao này giam giữ tới hàng trăm người, đủ mọi hạng người đứng tựa vào tường, xiêu vẹo, ủ rũ, tựa như những khúc củi bị thiêu dở, cảnh tượng ấy chắc chỉ có dưới địa ngục mới thấy.
Tất cả những người này đều là đặc vụ Nhật ư? Rõ ràng là không. Đều là kẻ trộm ư? Cũng không phải. Có cả những lão già gần đất xa trời, cả những đứa trẻ còn để chỏm, bọn họ đi đứng còn chẳng vững, sao có thể là đặc vụ hay kẻ trộm được. Tôi bắt đầu tin lời lão nói, chỉ cần nộp tiền mới mong được thả ra.
Sau cơn mưa, trời hửng sáng, một tia nắng lọt qua tầng mây. Lão đồng nghiệp ngước mắt nhìn lên, thèm khát nhìn bầu trời như một chiếc lá khô sắp héo rũ cố tận thu từng giọt nước mưa.
Thời gian thả gió chỉ vỏn vẹn vài phút. Sau đó, mọi người lại lững thững quay về buồng giam. Mấy kẻ nấn ná ở sân bị lính canh đá cho mấy phát vào mông.
Tôi và lão quay lại lao, cửa sắt khép lại cái rầm rồi khóa chặt.
Tôi hỏi: "Phải xưng hô với lão thế nào đây? Mãi mà tôi vẫn chưa biết tên lão."
Lão bảo: "Cứ gọi ta là lão Đồng đi."
Tôi đoán lão họ Đồng. Nghe đồn, họ Đồng và họ Phùng đều là hậu duệ của sử gia Tư Mã Thiên. Năm xưa Tư Mã Thiên viết "Sử Ký" làm phật lòng Hán Vũ Đế nên bị tống giam, chịu cung hình. Hai người con trai của ông trốn ra ngoài, chia chữ Tư Mã ra, một chữ "Tư" (司), một chữ "Mã" (马). Chữ "Tư" thêm một nét sổ thành chữ "Đồng" (同), chữ "Mã" thêm hai chấm thủy thành chữ "Phùng" (冯). Hai người con lần lượt đổi họ, vì thế hậu thế những người họ Đồng và họ Phùng đều là con cháu Tư Mã Thiên.
Biết lão là hậu duệ Tư Mã Thiên, tôi nảy sinh lòng tôn kính. Trong tư thục, tiên sinh cũng nhiều lần nhắc đến vị sử gia này.
Bên ngoài không có tiếng chân người, qua khe cửa sắt, tôi thấy hai lính canh đang đứng tán gẫu dưới gốc cây cách đó mấy chục mét, súng gác vào thân cây. Tôi và lão Đồng tựa lưng vào tường, ngồi tận góc trong cùng của buồng giam. Chỗ đó rải đầy rơm rạ vương vãi, đêm qua lão đã ngủ ở đấy.
Lão Đồng hỏi tôi: "Sao cậu lại dấn thân vào cái nghề này?"
Tôi hỏi: "Nghề nào cơ?"
Lão Đồng đưa hai ngón tay lên kẹp vào không trung, làm động tác móc túi tiền.
Tôi tin lão Đồng là hậu duệ bậc vĩ nhân nên không giấu giếm, kể cho lão nghe về Băng Lưu Tử, về Hổ Trảo, về Yến Tử, về viên đại kim cương và cả lão ăn mày.
Lão Đồng hỏi: "Giờ viên kim cương ở đâu?"
Tôi buồn bã: "Không biết, bị bọn khám đêm lấy mất rồi."
Lão bảo: "Cậu biết bọn chúng đến khám, sao không giấu nó đi?"
Tôi phân bua: "Đêm đó chúng xông vào khách sạn, hô hoán tất cả phải đứng yên, chỉ kiểm tra đặc vụ Nhật thôi. Tôi nghĩ mình không phải đặc vụ nên chẳng việc gì phải sợ, thành ra mất cảnh giác. Chúng lục soát người tôi, lấy mất viên kim cương rồi còn vu cho tôi là đồ đi chôm của người khác."
Lão Đồng tặc lưỡi: "Uổng cho cậu nói giang hồ hiểm ác, ôm vật báu trong người mà lại không biết phòng thân."
Tôi đáp: "Tôi chỉ phòng bọn 'lão hải', ai dè mấy gã 'ưng trảo tôn' này cũng phải đề phòng."
Lão hải là người trong giang hồ, còn ưng trảo tôn là cách gọi người của công môn.
Lão Đồng nói: "Cái đất nước này thối nát cùng cực, kẻ chốn công môn còn tham lam hơn cả dân giang hồ, càng bẻ cong luật pháp, càng chẳng biết liêm sỉ là gì."
Lão lại hỏi: "Cậu tên Ngai Cẩu, quả thực là một con chó vừa đần vừa ngốc. Cậu chỉ biết giang hồ hiểm ác, mà chẳng biết sự đời còn hiểm độc hơn giang hồ, quan trường lại còn kinh tởm hơn cả sự đời. Chậc, cô vợ lanh lợi kia của cậu sao không nhắc cậu một tiếng?"
Tôi bảo: "Lúc bọn khám phòng vào, Yến Tử không có mặt."
Lão hỏi: "Cô ta đi đâu?"
Tôi đáp: "Khi bọn chúng đến, cô ấy ra ngoài thám thính địa hình, sợ có người của giang hồ bám đuôi. Khi bọn cảnh sát đã vào trong phòng rồi, cô ấy mới quay về."
Lão Đồng bảo: "Hèn chi. Có cô vợ khôn ngoan như thế bên cạnh mà vẫn để mất viên kim cương."
Tôi thở dài: "Giờ tôi chỉ lo bọn chúng đánh đập Yến Tử, hành hạ cô ấy thôi."
Lão Đồng an ủi: "Vợ cậu thông minh hơn cậu gấp mười lần, cô ta không khờ như cậu đâu, chắc chắn sẽ không sao, cậu cứ yên tâm."
Tôi hỏi: "Vậy còn viên kim cương thì sao? Giờ nó ở đâu rồi?"
Lão bảo: "Còn đi đâu được nữa? Đứa nào khám người thì nằm trong tay đứa đó, đứa nào thẩm vấn thì nằm trong tay đứa đó. Ở cái xứ mục nát này, cậu tưởng chúng sẽ nộp vật báu lên trên chắc? Chúng chẳng chừa thứ gì, cái gì cũng dám tham, cái gì cũng dám vớ lấy."
Chỉ cần Yến Tử không bị hành hạ, tôi cũng nhẹ lòng; chỉ cần biết tung tích viên kim cương, tôi cũng thấy yên tâm đôi chút.
Tôi hỏi: "Kẻ khám người là một đứa, kẻ thẩm vấn lại là đứa khác, rốt cuộc nó nằm trong tay ai?"
Lão Đồng khẳng định: "Thằng nào là sếp thì nằm trong tay thằng đó. Trung Hoa là một xã hội đặt quan chức lên trên hết, cấp trên vơ vét tất cả, nô dịch tất cả; còn cấp dưới cam chịu bị sai khiến, cam chịu bị xâu xé, tận lực nịnh hót để lấy lòng bề trên. Nhìn khắp giới động vật, cũng chẳng tìm thấy loài nào kỳ quái như vậy. Đây là một đất nước dị thường, mọi thói hư tật xấu của muôn loài đều có thể tìm thấy ở người Trung Hoa, thậm chí có những thứ súc sinh không có, người ta vẫn cứ có."
Tôi nhớ tới Cao Thụ Lâm, Băng Lưu Tử và những hạng người mình từng gặp. Họ đa phần là dân giang hồ, mà dân giang hồ dù sao vẫn tuân theo quy tắc giang hồ. Còn kẻ chốn công môn thực sự còn tệ hại hơn nhiều. Lời lão Đồng nói quả không sai.
Lão Đồng lại bảo: "Cậu hiểu giang hồ mà không hiểu quan trường; ta am tường quan trường nhưng lại mù tịt chuyện giang hồ. Hay là ta và cậu làm một vụ giao dịch, ta lấy lại viên kim cương cho cậu, còn cậu tìm cho ta thứ ta cần, thấy sao?"
Tôi đáp: "Được thôi, nhưng lão cần thứ gì?"
Lão bảo: "Đêm nay ta sẽ nói cho cậu biết."
Trời sập tối, tôi thấp thỏm chờ lão Đồng nói ra yêu cầu của mình, nhưng lão cứ im lặng mãi.
Đêm ấy trăng sáng vằng vặc, soi tỏ nhà lao như ban ngày. Ánh trăng hắt vào phòng giam làm vạn vật trở nên hư ảo, chập chờn.
Gần đến nửa đêm, trên mái nhà chợt vang lên tiếng ngói vỡ khẽ khàng. Tôi thì thào với lão Đồng: "Có người đến, ở trên mái ấy."
Lão Đồng hỏi nhỏ: "Ai thế?"
Tôi đáp: "Chẳng rõ, là người trong giới giang hồ."
Lão Đồng nằm phục xuống đất, vơ đống rơm rác phủ kín lên người. Tôi đang lúc ngơ ngác thì ngoài cửa sắt xuất hiện một kẻ mặc đồ dạ hành. Hắn dòm dử qua khe hở, tôi vẫn ngồi im trên mặt đất nhìn hắn.
Gã nọ hạ thấp giọng hỏi: "Bên trong còn ai không?"
Tôi cũng khẽ đáp: "Hết rồi."
Bóng đen ấy biến mất khỏi cửa phòng tôi, tiếng bước chân nhẹ bẫng dời sang cửa buồng bên cạnh.
Một lát sau, tôi thấy dưới sân có năm sáu kẻ mặc đồ dạ hành, đi đứng hết sức bí ẩn. Chúng chụm đầu bàn bạc một hồi rồi lại trèo lên mái nhà, biến mất dạng.
Lão Đồng lồm cồm bò ra khỏi đống rơm, tóc tai dính đầy vụn cỏ, trông thật nhếch nhác. Tôi hỏi: "Bọn chúng tìm ai? Tìm lão à?"
Lão gật đầu: "Phải."
Tôi thắc mắc: "Sao chúng lại tìm lão?"
Lão bảo: "Bọn chúng là vệ sĩ của một nhà quyền quý. Đêm đó ta lẻn vào nhà ấy định 'thó' ít đồ thì bị phát hiện, ngã từ mái nhà xuống gãy cả hai chân. Sau đó lính tuần bắt ta vào ngục, không ngờ lũ vệ sĩ kia vẫn không chịu buông tha, định vào tận đây để hại ta."
Tôi im lặng, thầm phân tích lời lão nói. Theo kinh nghiệm giang hồ, lời lão Đồng đầy sơ hở. Nhà quyền quý có người giữ nhà, gọi là gia đinh chứ chẳng ai gọi là vệ sĩ; vệ sĩ là kẻ áp tải hàng hóa, tiền bạc trên đường. Có lẽ lão không biết cách gọi, chuyện đó không lạ. Nhưng gia đinh tuyệt đối không bao giờ lẻn vào ngục để lấy mạng người, họ chẳng bao giờ rời khỏi phủ đệ, đó là quy tắc giữ nhà.
Rốt cuộc lão Đồng là ai? Nhóm người dạ hành kia là hạng gì? Lòng tôi tràn đầy nghi hoặc.
Sau đó, mải suy nghĩ một hồi tôi lại thiếp đi lúc nào không hay. Đầu óc tôi vốn chậm chạp, cứ gặp chuyện gì nghĩ không thông là lại buồn ngủ, mà đã buồn ngủ là lăn ra ngủ ngay lập tức.
Khi tỉnh dậy, trăng đã xế về tây, trời sắp sáng. Trong ánh ban mai mờ ảo, tôi thấy lão Đồng đang mở trừng trừng đôi mắt, có lẽ lão vừa tỉnh, hoặc cũng có thể cả đêm lão chẳng hề chợp mắt.
Tôi hỏi: "Đêm qua lão bảo có việc cần tôi làm, là việc gì thế?"
Lão Đồng không trả lời ngay mà hỏi ngược lại: "Cậu có biết Thành Cát Tư Hãn không?"
Tôi bảo: "Không biết. Những người tôi quen tên chỉ có hai hoặc ba chữ, chưa thấy ai tên dài bốn chữ bao giờ. Cái tên nghe lạ tai thật."
Lão Đồng nói: "Thành Cát Tư Hãn là vị thần của đại thảo nguyên, ông ấy mất mấy trăm năm rồi, cậu không biết là phải. Trước thời ông ấy, thảo nguyên chỉ là những bộ lạc rời rạc như sao trên trời, chính Thành Cát Tư Hãn đã thống nhất họ, lập nên một đạo quân hùng mạnh. Ông ấy đội mũ đồng, cưỡi chiến mã, dẫn quân chinh chiến đông tây, dựng lên một đế quốc khổng lồ vắt ngang hai châu Á - Âu, cương vực rộng lớn nhất trong lịch sử. Sau khi ông ấy mất, chiếc mũ đồng của ông trở thành thánh vật, truyền đời không dứt. Trên mũ khắc ba chữ 'Đại Khả Hãn', chỉ cần thấy chữ đó là biết vật của Thành Cát Tư Hãn để lại."
Tôi bĩu môi: "Một cái mũ đồng mà cũng thành thánh vật sao?" Tôi nhớ lại dạo làm nghề đồ cổ giả ở huyện Bảo Hưng, bọn thợ chỉ cần một đêm là đúc ra được mấy chục cái mũ đồng như thế. Đem chôn vào hố phân mươi ngày nửa tháng, đào lên là có rỉ đồng ngay, chẳng ai nghi ngờ thật giả.
Lão Đồng bảo: "Người thảo nguyên rất mực sùng bái đức tin. Họ thấy mũ đồng như thấy chính Thành Cát Tư Hãn. Ông ấy còn được tôn là Đại Khả Hãn. Vì thế, ai nắm giữ mũ đồng sẽ có quyền thay mặt Thành Cát Tư Hãn ra lệnh, thống trị cả thảo nguyên."
Tôi hỏi: "Một cái mũ đồng từ mấy trăm năm trước mà có uy quyền lớn vậy sao?"
Lão Đồng tiếp: "Thành Cát Tư Hãn mất đi, lăng mộ thì nhiều nhưng thật giả khôn lường, cốt để phòng kẻ trộm mộ. Vật duy nhất ông để lại nghe đâu chính là chiếc mũ này. Mấy trăm năm nay, người thảo nguyên vẫn đảnh lễ cúng bái Thành Cát Tư Hãn, thấy vật như thấy người. Có được mũ đồng là có thể hiệu lệnh trăm vạn dân thảo nguyên."
Tôi hỏi: "Thế cái mũ ấy giờ ở đâu?"
Lão Đồng hạ giọng: "Đó là bí mật lớn nhất của người thảo nguyên, họ không bao giờ hé răng với người ngoài. Mấy trăm năm qua, thổ phỉ, đạo tặc, quan phủ đều muốn chiếm lấy nhưng chẳng ai toại nguyện, thậm chí có người còn nghi truyền thuyết về mũ đồng là giả. Thế nhưng gần đây, tung tích mũ đồng đã lộ diện, nó đang được giấu ngay tại huyện Xích Phong này."
Tôi kinh ngạc: "Thật sao? Sao nó lại tới được Xích Phong?"
Lão Đồng bảo: "Mũ đồng vốn được bí mật thờ phụng trong một ngôi chùa ở Ô Lan Sát Bố. Nhưng hai năm nay tình hình căng thẳng, thổ phỉ muốn lấy, mã tặc muốn đoạt, quan phủ rình rập, ngay cả người Nhật cũng nhòm ngó. Các hòa thượng trong chùa mới sai người mật tải mũ đồng về Xích Phong."
Tôi hỏi: "Mấy chuyện này sao lão biết tường tận vậy?"
Lão Đồng đáp: "Ta vốn âm thầm bảo vệ mũ đồng bấy lâu nay. Ta chính là truyền nhân của Thành Cát Tư Hãn."
Lạ thật, truyền nhân Thành Cát Tư Hãn sao không họ Thành mà lại họ Đồng? Tôi thắc mắc: "Lão là truyền nhân mà sao họ Đồng?"
Lão giải thích: "Mấy trăm năm qua, dân tộc hòa huyết, truyền nhân chúng ta giờ mang đủ loại họ rồi."
Tôi bảo: "Mũ đồng để trong chùa ở Xích Phong thì chắc là an toàn rồi. Lão cần tôi làm gì?"
Lão Đồng thở dài: "Không, để ở đó chẳng an toàn chút nào. Hai vị lạt ma hộ tống thì đáng tin, nhưng đám lạt ma ở chùa Xích Phong lại nảy sinh tà tâm. Chúng luôn tìm cách hại chết hai người kia để chiếm đoạt mũ đồng cho riêng mình. Nếu thánh vật rơi vào tay lũ tặc tử ấy, hậu quả thật khôn lường."
Lão ngừng một lát rồi tiếp: "Ta không thể ra ngoài được, ta cần cậu lấy mũ đồng từ ngôi chùa đó ra, giao cho một người. Chỉ có ở chỗ người đó, mũ đồng mới tuyệt đối an toàn. Nếu không, thiên hạ sẽ lầm than."
Nghe lời lão Đồng, trong lòng tôi bỗng trào dâng một cảm giác thiêng liêng. Tôi thấy mình như sắp đi cứu vạn dân khỏi lầm than, sắp trở thành một bậc đại anh hùng đội trời đạp đất.
Tôi hỏi: "Tôi đi trộm mũ đồng, nhưng lão có biết nó giấu ở đâu trong chùa không?"
Lão Đồng nói: "Ngôi chùa đó có một mật thất dưới lòng đất, có ba lớp cửa, mỗi cửa đều khóa đồng. Mở được ba ổ khóa là vào tới nội thất. Ở đó có một pho tượng của vị trụ trì đầu tiên, tượng rỗng ruột, mũ đồng giấu ở bên trong."
Tôi tò mò: "Sao lão biết kỹ thế?"
Lão không trả lời câu hỏi đó mà nói tiếp: "Trong chùa có nuôi hai con chó chăn cừu, to như bắp cày. Đó là giống chó chăn cừu Mông Cổ thuần chủng, người thảo nguyên gọi là Đông Phương Giảo Lang Khuyển (chó săn sói phương Đông), nó có thể đuổi và cắn chết cả sói rừng."
Tôi rùng mình: "Chó chăn cừu Mông Cổ à, tôi chưa nghe bao giờ. Chỉ nghe nói giống Ngao Tạng cực kỳ lợi hại thôi."
Lão Đồng bảo: "So với chó Mông Cổ thì Ngao Tạng chẳng là gì cả. Ngao Tạng cũng hung dữ nhưng trí khôn thì kém xa. Chó chăn cừu Mông Cổ được nuôi dưỡng rộng rãi, từ lúc sinh ra đã sống cùng bầy cừu, tình cảm rất sâu đậm. Người thảo nguyên chăn cừu cứ việc giao bầy cho chúng rồi tìm chỗ khuất gió mà uống rượu ăn thịt. Lũ chó này tận trung chức trách, canh giữ bầy cừu khiến lũ sói không có cửa bén mảng. Đến mùa đông, thú nhỏ ngủ đông, thức ăn khan hiếm, sói rừng hay liều mạng tấn công bầy cừu vào ban đêm. Chó Mông Cổ kịch chiến với sói ngay ngoài lều, xác sói nằm la liệt. Sáng ra, chủ nhân bước ra chỉ thấy chó mình mình đầy máu nhưng vẫn hiên ngang đứng vững. Một con chó trưởng thành có thể hạ gục hai ba con sói dữ."
Tôi bắt đầu thấy sợ: "Trong chùa có tận hai con quái vật như thế, tôi không dám đi đâu."
Lão Đồng cười: "Chúng tuy hung dữ với sói nhưng lại rất hiền với người và cừu, đó là thiên tính. Khoảng một ngàn năm trước, người Mông Cổ cổ đại ở Đại Hưng An Lĩnh di cư về phía tây đến thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ, đi theo họ là một loài mãnh thú thể hình vạm vỡ, lông dày, cực kỳ khỏe mạnh và mưu trí, dám đương đầu với cả hổ báo. Chúng trung thành tuyệt đối với chủ. Chó Ngao Tạng thực chất cũng chỉ là một biến chủng của chó Mông Cổ mà thôi."
Tôi không hiểu: "Sao Ngao Tạng lại là biến chủng của chó Mông Cổ được?"
Lão Đồng giải thích: "Năm xưa Thành Cát Tư Hãn tây chinh, mang theo một đội quân chó chăn cừu. Chúng theo đại quân đi khắp Tây Vực, Tây Á, Trung Á đến tận châu Âu, lai tạp với các giống chó địa phương mà sinh ra Ngao Tạng, chó chăn cừu Thổ Nhĩ Kỳ, chó Caucasian, chó Trung Á... Vì vùng này núi non hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt nên chó Mông Cổ có gen cực tốt, con cháu chúng vì thế cũng mang dòng máu ưu việt."
Lão dừng lại một chút rồi bảo: "Chính vì chúng quá trung thành và không có tâm đề phòng con người, nên chỉ cần cậu dùng mưu mẹo một chút là đối phó được. Trên đời này, khó đối phó nhất là con người, lòng người còn hiểm độc hơn mãnh thú gấp trăm lần."
Tôi nhẩm tính: "Trộm mũ đồng, trước phải trị hai con chó; sau phải mở ba ổ khóa đồng; thứ ba là trong chùa chắc chắn có người canh gác. Nhiệm vụ này gian nan quá."
Lão Đồng khích: "Cậu bôn ba giang hồ bao năm, chút chuyện nhỏ này mà cũng chùn bước sao?"
Tôi suy nghĩ rồi bảo: "Trị hai con chó thì tôi có thể làm thân với chúng trước. Chùa chiền là nơi mở cửa, tôi cứ ngày ngày vào cho chúng ăn, chừng nửa tháng là quen hơi ngay. Đêm đến hành sự chúng sẽ không sủa."
Lão Đồng lắc đầu: "Cách đó hay, nhưng không kịp đâu. Nửa tháng nữa thì mũ đồng bị đám lạt ma xấu xa kia cướp mất rồi, lúc đó muốn đoạt lại khó như lên trời. Thảo nguyên rộng lớn, chúng giấu đâu mình tìm sao được."
Tôi lại hiến kế: "Trong giang hồ có cách trị chó giữ nhà, là đem thịt ngâm rượu cho chúng ăn, đợi chúng say bí tỉ rồi mới vào trộm."
Lão Đồng bảo: "Cách đó dùng với chó thường thì được, chứ với giống tinh khôn như chó Mông Cổ thì vô tác dụng."
Tôi cố vắt óc: "Còn một cách nữa là dụ chúng đi nơi khác. Chúng trung thành với chủ, đó là ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm. Tôi sẽ đào hố bẫy ngoài chùa, nhử chúng vào đó là xong."
Lão Đồng gật đầu: "Phải đấy, chó dù khôn cũng chỉ là cầm thú, sao đấu lại con người."
Tôi tiếp: "Lạt ma canh gác cũng không sao, tôi có thể lách qua mắt chúng. Khổ nỗi ba cái ổ khóa kia tôi chịu chết."
Lão Đồng bảo: "Ta sẽ dạy cậu cách khai khóa. Khóa là do người làm ra, mà đồ người làm ra thì ắt có cách giải."
Nói đoạn, lão bảo tôi đỡ ra sau cửa sắt, lão một tay cầm ổ khóa, một tay làm động tác thị phạm: "Ổ khóa giống như một tòa thành, điểm yếu nhất của tòa thành là cổng thành, còn điểm yếu nhất của ổ khóa là lỗ cắm chìa. Đánh thành phải tập trung binh lực vào cổng, mở khóa cũng phải hạ thủ từ lỗ chìa. Khóa thường đều có lỗ cắm."
Tôi thắc mắc: "Người ta bảo mỗi chìa mở một khóa, khóa trên đời muôn hình vạn trạng, làm sao mở hết được?"
Lão Đồng cười bí hiểm: "Cũng không hẳn, có những loại khóa không cần chìa, ví như cái khóa ở chùa Xích Phong kia."
Lão giảng giải tiếp: "Mật thất có ba tầng cửa, khóa mỗi tầng mỗi khác. Tầng một là 'Vô thược tỏa' (khóa không chìa), tầng hai là 'Ám môn tỏa' (khóa cửa ngầm), tầng ba là 'Mật mã tỏa' (khóa mã số). Bí mật của ba ổ khóa này, ngoài trụ trì ra chỉ có ta biết."
Tôi thầm thắc mắc lão Đồng này rốt cuộc làm nghề gì mà tường tận bí mật trong chùa đến vậy. Mật thất người ngoài không được vào, sao lão lại biết cả loại khóa. Tôi định hỏi nhưng lại thôi, lòng thêm phần cảnh giác. Lão Đồng này quá bí ẩn, lão chửi rủa quan phủ thậm tệ chứng tỏ không phải người công môn; lão mù tịt tiếng lóng giang hồ nên cũng chẳng phải dân trong nghề. Không phải hai hạng đó thì là dân thường, mà dân thường sao lại biết bẻ khóa, lại thạo chuyện thảo nguyên đến thế?
Lão Đồng tiếp tục: "Vào chùa rồi, cậu đi ra điện sau. Ở đó thờ một pho Đại Hắc Thiên Thần, dưới bệ thờ có một tấm gỗ, nhấc lên là thấy lối xuống hầm..."
Tôi hỏi: "Đại Hắc Thiên Thần là vị nào?"
Lão giải thích: "Đó là hóa thân của thần Shiva trong Bà La Môn giáo, ba đầu sáu tay, mặt mũi dữ tợn. Trong Phật giáo Ngài là vị Hộ pháp, còn trong Bà La Môn là vị Y thần."
Tôi gật đầu ghi nhớ.
Lão nói tiếp: "Cửa tầng một dùng khóa không chìa. Nó vốn chẳng có chìa, cũng không dùng chìa để mở. Muốn mở nó, chỉ có một cách: dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa tay phải nắm chặt thân khóa, ba ngón tương ứng của tay trái nắm chặt quai khóa. Ép nhẹ thân và quai vào nhau, rồi lại khẽ kéo ra, nắm vững điểm tựa và lực đẩy là có thể dùng mẹo mở được..."
Lão đang nói dở thì sân chùa chợt vang lên tiếng hô hoán, một bóng đen lướt nhanh như chớp qua cửa sắt, tiếp đó là hai tiếng súng nổ chát chúa và tiếng bước chân truy đuổi lạch bạch. Kẻ nổ súng là lính canh ngục, nghe tiếng bước chân là biết chúng chẳng đời nào đuổi kịp người kia.
Kẻ đó là ai? Có phải một trong những kẻ dạ hành đêm trước? Hay là một người vượt ngục? Thân thủ ấy rõ ràng là cao thủ giang hồ.
Tiếng súng làm cả nhà lao náo động. Tôi nghe thấy hầu như buồng nào cũng có tiếng kêu la, hỏi han xôn xao. Mấy bó đuốc tiến vào ngục, đám lính canh lăm lăm đao súng, quát tháo rầm rĩ: "Câm miệng! Đứa nào còn ho he là ông bắn bỏ!"
Mất một lúc lâu nhà lao mới yên tĩnh trở lại, bọn lính canh rút đi.
Lão Đồng lại quay về chủ đề cũ: "Khóa tầng một không chìa, khóa tầng hai là khóa cửa ngầm."
Tôi hỏi: "Khóa cửa ngầm là sao?"
Lão bảo: "Nó tinh vi hơn khóa thường, lỗ khóa giấu trong cơ quan. Kẻ không biết cầm lên nhìn nát mắt cũng không thấy lỗ chìa đâu, nhưng người thạo nghề thì mở dễ như chơi. Cái khóa ở chùa Xích Phong có khắc một thanh bích tà kiếm trên quai. Cậu chỉ cần nhấn vào chuôi kiếm, miếng đồng dưới đáy khóa sẽ trượt ra, lộ ra lỗ khóa. Thế là nó lại thành cái khóa bình thường thôi."
Tôi nhăn mặt: "Dù là khóa thường tôi cũng có mở được đâu."
Lão bảo: "Cái khóa ở cửa lao này thuộc loại thường nhất đây. Chỉ cần một sợi dây thép, uốn cong một đầu, chọc nghiêng vào lỗ khóa, rồi cứ thế khều móc, kéo một phát là ra."
Lão rút sợi thép từ đế giày, uốn nắn một hồi rồi đưa cho tôi. Đầu sợi thép hơi cong như cái thìa nhỏ. Tôi thọc vào ổ khóa, cứ ngỡ sẽ mở được ngay, ai dè loay hoay mãi chẳng thấy động tĩnh gì.
Lão Đồng cầm lại sợi thép, cổ tay khẽ rung một cái, ổ khóa đã bật mở. Lão bảo: "Mở khóa cần kỹ xảo. Ngón tay cậu phải cảm nhận được sự thay đổi tinh vi qua sợi thép. Khi đầu cong của thép chạm đúng lẫy khóa, sẽ có một độ rung rất nhẹ, lúc đó mới kéo."
Tôi hỏi tiếp: "Tầng một không chìa, tầng hai cửa ngầm, vậy tầng ba khóa mã số là thế nào?"
Lão giải thích: "Đó là loại khóa hình trụ nằm ngang, trên trục có năm vòng xoay, mỗi vòng khắc bốn chữ Hán, tổng cộng hai mươi chữ. Khi xoay sao cho năm chữ tạo thành một câu mật mã là khóa mở."
Tôi hỏi: "Mật mã là chữ gì?"
Lão bảo: "Mỗi khóa một mã khác nhau, thường là mấy câu thơ hư hư thực thực. Mã của cái khóa này là 'Hỏa thang tự tồi chiết'."
Tôi giật mình: "Hỏa thang tự tồi chiết? Đó là một câu trong Đại Bi Chú mà, chỉ là ghép hai câu làm một thôi. Nguyên văn là: Ngã nhược hướng đao sơn, đao sơn tự tồi chiết; Ngã nhược hướng hỏa thang, hỏa thang tự khô kiệt."
Lão Đồng ngạc nhiên: "Phải đấy, người trong cửa Phật có khi đoán ra Đại Bi Chú, nhưng không đoán nổi 'Hỏa thang tự tồi chiết'. Còn hạng phàm phu tục tử thì càng mù tịt. Ủa, sao cậu lại biết Đại Bi Chú?"
Tôi đáp: "Tôi từng làm hòa thượng."
Tôi cứ ngỡ lão sẽ hỏi thêm chuyện tu hành của tôi, nhưng lão không hỏi. Lão bảo: "Bí mật ba ổ khóa ta đã truyền hết cho cậu rồi, cậu gắng mà nghiền ngẫm, sớm lấy được mũ đồng ra. Ta cũng sẽ giúp cậu tìm lại viên đại kim cương."
Tôi gật đầu lia lịa.
Lão dặn thêm: "Cậu chỉ được hành sự vào ban đêm, trước lúc trời sáng phải quay về. Sáng sớm và giờ ăn bọn chúng đều điểm danh đấy."
Tôi quả quyết: "Tôi biết rồi."
Trời đã sáng hẳn, ngoài sân lại vang lên tiếng quát tháo của lính canh. Tôi bảo: "Đêm nay tôi sẽ ra ngoài thám thính địa hình trước."
Lão Đồng gật đầu: "Được, đêm nay ta sẽ bẻ khóa cho cậu đi."

 

 

(Tổng: 6786 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0