Tổ Bịp

  • 7042 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 48. Huyết chiến nơi tiệm thợ cạo
Tiệm hớt tóc bé tẹo, dáng rộng mà bẹt, liếp cửa ghép lại từ những phiến gỗ rời. Phía trên và dưới mỗi tấm gỗ đều có rãnh khía, cứ thế lùa từng tấm vào tổ hợp thành cánh cửa hoàn chỉnh. Phiến gỗ cuối cùng và khung cửa có đóng khoen sắt, chỉ cần xỏ dây xích rồi khóa lại là nội bất xuất ngoại bất nhập. Lúc đóng cửa, các phiến gỗ phải được xếp đúng thứ tự, nếu không sẽ chẳng tài nào khép khít. Để tránh nhầm lẫn, trên mỗi tấm gỗ đều có khắc dấu Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân...
Thế nhưng đêm ấy, tiệm hớt tóc lại thiếu mất hai phiến gỗ. Chúng tôi cứ thế nương theo khe hở mà lọt vào trong. Thời đó, tiệm hớt tóc không bóng bẩy như những salon hay tiệm làm tóc bây giờ. Đàn ông đa phần đều cạo trọc, chỉ mấy bậc trí thức có học thức mới để kiểu tóc rẽ ngôi. Bởi vậy, những người làm nghề này thường là mấy lão già.
Thợ hớt tóc ngày ấy không chỉ có mỗi việc cạo đầu, mà còn kiêm luôn cả cạo râu, cắt lông mũi, lấy ráy tai, bóp vai đủ bộ. Tiệm cũng chẳng mấy khi mở cửa cố định, phần lớn thời gian thợ hớt tóc cứ quẩy gánh đi rong khắp hang cùng ngõ hẻm. Trên tay họ cầm một miếng sắt hình móng ngựa, chỉ cần gõ vào nhau là phát ra tiếng "u u" đặc trưng, dân làng nghe thấy thanh âm ấy là biết thợ hớt tóc đã về. Gánh hàng của họ một bên đựng đồ nghề và chậu đồng, bên kia là lò than dùng để đun nước, thế nên dân gian mới có câu tục ngữ "gánh hàng hớt tóc, một đầu nóng".
Lão thợ hớt tóc không có mặt ở tiệm, nhưng toàn bộ đồ nghề vẫn còn đó. Liếp cửa mở toang, lò than vẫn đang cháy, nào dao cạo, kéo, khăn mài dao, đá mài, móc tai... đều đủ cả. Duy chỉ chẳng thấy bóng dáng lão đâu, chắc là đang bận đi nhà vệ sĩ, không ngờ lại để chúng tôi lẻn vào.
Mắt chúng tôi vừa mới quen với bóng tối trong tiệm thì đám Cái Bang đã đuổi sát gót. Chúng đứng thành một hàng dài trước cửa tiệm, lặng im phăng phắc. Chúng tôi đứng bên trong, nín thở chờ đợi, cũng chẳng nói một lời.
Nơi phố xá xa xăm, tiếng gọi hồn của Ngai Cẩu đã dứt, thay vào đó là một thanh âm khác. Một người đàn ông già nua cất giọng khàn đặc giữa đêm đen: "Thiên hoàng hoàng, địa hoàng hoàng, nhà ta có đứa trẻ hay khóc đêm. Người quân tử đi ngang qua đọc ba lần, cho nó ngủ một mạch đến sáng bạch." Thời ấy, hễ đứa trẻ nào hay quấy khóc ban đêm hoặc mất ngủ, người lớn trong nhà sẽ viết bốn câu thơ này lên giấy vàng, dán ở ngã tư đường. Người qua kẻ lại nếu đọc giúp ba lần, tương truyền đứa trẻ sẽ ngủ ngon đến tận bình minh.
Sau phút im lặng ngắn ngủi, một gã Cái Bang tay cầm trường đao lừng lững tiến lên. Hắn nấp sau phiến gỗ, lắng tai nghe ngóng động tĩnh bên trong, rồi từ từ lách người qua khe hở, thò nửa thân trên vào. Trong tiệm tối om, hắn chẳng nhìn thấy gì, nhưng tôi lại thấy rõ mồn một bóng hình hắn. Tôi nấp ngay sau cánh cửa, vớ lấy miếng sắt rỗng của lão thợ hớt tóc, giáng một cú chí tử xuống. Gã kia đổ rầm xuống đất như một khúc gỗ.
Gã vừa ngã xuống, đám người ngoài cửa đều giật bắn mình. Yến Tử nhanh tay chộp lấy con dao cạo, vung mạnh ra ngoài. Con dao cắm phập vào người một gã khác, hắn khẽ rú lên một tiếng rồi cũng gục xuống.
Đám Cái Bang ngoài kia vội vã dạt ra hai bên ngõ, gã bị tôi đập trúng cũng lăn lóc ra ngoài cửa. Trong và ngoài lại rơi vào thế đối đầu căng thẳng.
Chẳng ai mở miệng, nhưng không khí đặc quánh, căng như dây đàn đã kéo hết cỡ.
Tôi lần mò trong tiệm hớt tóc, cố tìm lấy một món vũ khí vừa tay. Tìm mãi mới thấy một chiếc đòn gánh, thấm đẫm mồ hôi của lão thợ lâu ngày nên bóng loáng, nhẵn thín. Tôi siết chặt đòn gánh trong tay, nép sau cánh cửa, chỉ cần đứa nào dám thò đầu vào, tôi sẽ cho nó một đòn nát óc.
Bên ngoài không thấy ai xông vào nữa, thay vào đó là hàng chục mũi tên vun vút bắn vào trong. Có mũi ghim vào phiến gỗ, có mũi bay loạn xạ trong phòng. May mà tôi và Yến Tử đã sớm nấp kỹ, nếu không đã bị bắn thành cái sàng.
Đang lúc thầm mừng rỡ, bên ngoài lại vang lên tiếng sột soạt, mỗi lúc một gần. Tôi ghé mắt vào khe hở nhìn ra, đột nhiên thấy một tia sáng lạnh lẽo áp sát như tia chớp. Theo bản năng, tôi nghiêng người né tránh, đúng lúc một lưỡi dao sắc lẹm đâm xuyên qua khe hở, rạch dọc theo mép gỗ phát ra tiếng "xè xè" rợn người. Nếu tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ, chắc chắn đã bị đâm thủng bụng.
Bên ngoài vang lên tiếng nói nén trong cổ họng, giọng khàn đặc:
"Thằng nhãi bên trong nghe cho rõ, khôn hồn thì bước ra đây, bọn tao không làm khó mày, để mày đi. Còn nếu cứ cố chấp chống đối, bọn tao sẽ băm mày thành trăm mảnh."
Tôi và Yến Tử vẫn im như phắc.
Thanh âm khàn đục kia lại nhắc lại lần nữa. Chẳng nghe thấy động tĩnh gì, một kẻ khác lên tiếng:
"Chết cả rồi chứ gì, chắc chắn là chết ngốt trong đó rồi."
Đám người bên ngoài dần dần áp sát, chúng dừng lại cách cửa tiệm chỉ vài thước, bàn mưu tính kế xông vào. Kẻ thì bảo dùng chiêu "Dạ chiến bát phương", múa đao kín mít để hộ thân; kẻ lại đòi tìm tấm gỗ làm khiên, chỉ cần lọt qua cửa là chẳng còn gì phải sợ.
Tôi lo sốt vó, nghĩ mãi không ra cách đối phó. Dù là chiêu trò gì thì với thế trận chênh lệch này, chúng tôi cũng khó lòng địch nổi. Yến Tử ghé sát tai tôi nói nhỏ:
"Cái lò, cái lò kìa!"
Nghe đến "cái lò", tôi như chợt bừng tỉnh. Lò than của thợ hớt tóc đỏ lửa suốt ngày đêm, đêm đến thường được phủ một lớp than vụn, chỉ để lại một khe hở nhỏ bằng chiếc đũa cho lửa cháy liu riu. Nếu không có khe hở ấy, lò sẽ tắt ngóm. Nhìn ngoài thì tưởng lò đã nguội, nhưng thực chất dưới lớp than vụn kia là những khối than hồng rực. Trong tình cảnh lấy ít địch nhiều này, cái lò chính là món thần binh lợi khí chẳng gì bằng.
Tôi bưng lò than trong tay, nhích từng bước về phía cửa. Bên ngoài, đám Cái Bang vẫn đang mải mê tranh cãi, bỗng nhiên một luồng than nóng hổi tạt thẳng vào mặt. Chúng rú lên đau đớn, hốt hoảng tháo chạy ra xa.
Tranh thủ lúc mối nguy tạm thời được giải tỏa, Yến Tử đưa tay sờ lên mặt tôi, hỏi khẽ:
"Mũi tên ngoài sân lúc nãy, vết thương có nặng không em?"
Tôi đáp:
"Không sao đâu chị."
Yến Tử chạm vào vết thương trên mặt, tôi theo bản năng khẽ rùng mình. Chị bảo:
"Máu chảy ròng ròng thế này mà còn bảo không sao."
Yến Tử đi đến góc tường, xé một miếng bông từ chiếc chăn bông của lão thợ hớt tóc, ném vào lò than. Mùi khét lẹt lập tức tỏa ra. Chị nhúm lấy phần tro bông vừa cháy xong, xát thẳng vào vết thương trên mặt tôi.
Tôi gượng gạo:
"Không hề gì, chẳng đau tí nào đâu."
Nói thì nói vậy chứ tro bông xát vào thịt đau điếng, cảm giác bỏng rát thấu tận xương tủy. Yến Tử nép sát vào tôi, dịu dàng:
"Chị biết là đau lắm."
Tôi hỏi:
"Sao chị biết tro bông lại cầm được máu?"
Yến Tử đáp:
"Chị biết nhiều mẹo dân gian lắm. Tro bông cầm máu, tỏi giã trị sưng, gừng đường chữa ngạt mũi. Còn cái loại vừa ngốc vừa khờ như em cũng có bài thuốc đấy, dùng..."
Tôi sốt sắng hỏi:
"Dùng cái gì cơ?"
Yến Tử cười bảo:
"Dùng một miếng ván gỗ, vỗ vào má trái hai mươi cái, má phải hai mươi cái, vừa vỗ vừa hô: Tại sao tôi lại ngốc thế này? Tại sao tôi lại ngốc thế này? Vỗ xong, hô xong là thông minh ra ngay."
Tôi ngây ngô hỏi lại:
"Có thật là linh không chị?"
Yến Tử không nhịn được bật cười thành tiếng:
"Cái tính khờ của em lại trỗi lên rồi đấy, em bảo có linh hay không?"
Lúc ấy, chúng tôi chẳng mảy may lo lắng cho cảnh hiểm nghèo trước mắt, bởi trời sắp sáng rồi. Hễ trời sáng, bọn chúng không muốn đi cũng buộc phải đi.
Đang trò chuyện, đám Cái Bang bên ngoài lại im lìm bao vây lấy tiệm. Lần này, chúng kiếm đâu ra một chiếc ghế đẩu tròn. Loại ghế này giờ hiếm thấy lắm, mặt ghế hình tròn, bốn chân uốn cong khắc hình rồng, đầu rồng ngậm bảo châu chính là chân ghế. Giữa các chân ghế có các thanh gỗ hình lăng trụ nối với nhau. Đám Cái Bang nắm chặt thanh gỗ, vung vẩy che chắn rồi tiến sát tiệm hớt tóc.
Yến Tử phóng kéo ra, con kéo cắm phập vào mặt ghế. Gã cầm ghế có vẻ đắc chí, dựa vào "khiên" mà thò được nửa thân người vào. Yến Tử nhanh tay vớ lấy chiếc chăn bông cáu bẩn, nặc mùi mồ hôi và mùi chân của lão thợ, trùm kín lên đầu gã và chiếc ghế. Tôi vung đòn gánh giã xuống tới tấp. Gã rú lên một tiếng nghẹn ngào trong chăn rồi vội vàng thụt đầu ra ngoài.
Hai bên lại rơi vào thế giằng co.
Đám Cái Bang ngoài kia lên tiếng:
"Bên trong nghe đây, mày mà chịu ra, chuyện gì cũng dễ nói. Nhược bằng không ra, tụi tao phóng hỏa đốt nhà đấy!"
Tôi quát lại:
"Mẹ kiếp chúng mày, dám vào đây thì chuyện gì cũng xong. Còn không vào thì lão tử đi ngủ đây!"
Một giọng nói uy nghiêm, trầm thấp vang lên:
"Đứa bên trong nghe cho rõ, cứ dây dưa thế này chẳng báu bở gì cho ai đâu. Nếu là thằng đàn ông thì đường đường chính chính ra đây làm một trận."
Yến Tử đốp chát lại ngay:
"Ta chẳng phải đàn ông, ta là mẹ nuôi của ngươi đây!"
Bên ngoài rộ lên một hồi xôn xao, tiếng kinh ngạc vang lên không ngớt.
Đằng xa vọng lại tiếng gà gáy, tiếng gáy có vẻ ngập ngừng như thể cổ họng bị đổ đầy dấm chua, rồi sau đó, hàng loạt tiếng gà khác đồng thanh cất lên lảnh lót. Trời sắp sáng thật rồi.
Lòng tôi dâng lên nỗi hân hoan.
Bất chợt, tôi ngửi thấy mùi dầu cải, rồi tiếng dầu tưới lên ván gỗ nghe sũng nước. Bọn chúng định phóng hỏa thật rồi.
Tôi bảo Yến Tử:
"Chị theo sát em, mình xông ra ngoài!"
Tôi vừa cầm đòn gánh bước đến cửa tiệm, một mũi tên lao vút vào, ghim trúng vai tôi. Lực đạo kinh người của mũi tên khiến tôi lùi lại mấy bước, Yến Tử vội đỡ lấy tôi né sau phiến gỗ.
Mũi tên này có ngạnh, không tài nào rút ra được, nếu cố sức rút sẽ kéo theo cả mảng thịt. Cơn đau thấu tận tâm can bủa vây lấy tôi, tôi siết chặt nắm đấm, mồ hôi ướt đẫm lòng bàn tay. Tôi thào thào với Yến Tử:
"Không ngờ mình lại chết ở đây."
Yến Tử bảo:
"Chết thì chết cùng nhau, xuống hoàng tuyền còn có bạn."
Chúng tôi ngồi bệt xuống đất, dựa vào nhau chờ đợi thần chết gõ cửa. Nhưng tử thần chẳng thấy đâu, chỉ nghe bên ngoài vang lên một tiếng gọi:
"Ngai Cẩu, Yến Tử, ra đi thôi!"
Giữa ánh sáng mờ ảo của buổi sớm mai, tôi và Yến Tử nhìn nhau ngơ ngác. Tôi thấy mặt chị đầy vẻ nghi hoặc, chị nhìn tôi cũng chẳng kém gì. Giọng nói ấy nghe quen lắm, nhưng nhất thời chẳng thể nhớ ra là ai.
Yến Tử vọng ra cửa:
"Người ngoài kia là bằng hữu phương nào? Xin cho biết danh tính."
Tiếng nói lại vang lên:
"Mấy đứa này, ngay cả lão tử mà cũng không tin sao? Tụi ta là 'người trong kẹt' từ Xích Phong tới đây." Dứt lời, trong tiệm hớt tóc đã xuất hiện thêm hai bóng người, béo gầy như nhau, cao thấp bằng nhau. Ái chà, là Hắc Bạch khất cái!
Một người trong số đó hỏi:
"Hai đứa sao rồi?"
Yến Tử đáp:
"Ngai Cẩu bị trúng Khuyển xỉ đảo câu tiễn rồi."
Kể từ khi bị trúng tên ngạnh, tôi vẫn luôn gồng mình chịu đựng. Giờ thấy Hắc Bạch khất cái xuất hiện, biết mình đã thoát nạn, luồng khí ấy vừa buông ra là cả người rã rời, chẳng còn sức mà đứng vững, đổ nhào vào lòng Yến Tử.
Hắc Bạch khất cái nhìn vết thương trên vai tôi, mặt biến sắc đầy kinh hãi. Trời mỗi lúc một sáng, vạn vật trong tiệm dần hiện rõ. Tôi cố mướt mắt ra nhìn, đã có thể phân biệt được ai là Bạch khất cái, ai là Hắc khất cái. Bạch khất cái tặc lưỡi:
"Cái loại tên ngạnh răng chó này độc ác vô cùng, tuyệt đối đừng đụng vào, đụng nhẹ một cái là đau thấu tim gan ngay." Rồi y quay sang bảo Hắc khất cái: "Cẩn thận cõng Ngai Cẩu lên lưng, mau tìm tiệm thuốc!"
Bạch khất cái dẫn đường, Hắc khất cái cõng tôi trên vai chạy nước rút, Yến Tử chạy bên cạnh đỡ lấy tôi. Dù vai đau như dao cắt nhưng thần trí tôi vẫn tỉnh táo. Tôi thấy ở đầu ngõ có lão già trọc lóc đang ngồi xổm, mặt đầy vẻ kinh hãi, da dẻ trắng trẻo, cánh tay co lại đặt bên hông, ngón tay nửa duỗi nửa co như đang cầm dao cạo. Tội nghiệp lão, ngồi xổm giữa đêm đen suốt nửa đêm mà không dám về tiệm.
Băng qua mấy con ngõ, chúng tôi dừng trước một tiệm thuốc. Bạch khất cái gõ cửa rầm rầm, bên trong vọng ra tiếng hỏi:
"Ai đấy?"
Bạch khất cái ghé sát khe cửa nói:
"Người trong kẹt, có anh em bằng hữu trúng đạn掛彩 (quái thái - bị thương) rồi!"
Cánh cửa "két" một tiếng mở ra, một vị lang trung trung niên bước ra, mặc chiếc quần đùi rộng thùng thình. Ý thức của tôi bắt đầu mông lung, chỉ loáng thoáng nghe ông ta thốt lên: "Sao lại bị thương nặng thế này, đứa nào ra tay độc ác vậy?"
Vị lang trung bảo Hắc Bạch khất cái đặt tôi nằm phẳng trên giường, rồi lấy một mảnh vải thấm nước đặt lên miệng tôi. Tôi nhấp nhấp môi, một dòng chất lỏng cay nồng chảy tuột xuống họng, là rượu. Vị rượu cay xè làm tôi phân tâm, cảm giác cơ thể nhẹ bẫng như đang bay lên. Lang trung cầm con dao sáng loáng hơ trên lửa đỏ, rồi rạch một đường nhỏ trên vai tôi, rút mũi tên ngạnh ra. Một cơn đau xé tâm can ập đến như đá tảng đè nặng, tôi lịm đi.
Khi tỉnh lại thì trời đã tối mịt. Trên tường có một hốc đèn cao quá đầu người, ngọn đèn dầu cải le lói như hạt đậu soi sáng căn phòng. Tôi chỉ thấy Bạch khất cái và Yến Tử ở đó. Bạch khất cái đang kể cho Yến Tử nghe về những chuyện họ đã trải qua mấy ngày qua.
Đêm đó, sau khi bị quân Nhật phát hiện, Hắc Bạch khất cái đã dụ bọn chúng vào rừng sâu. Vừa vào đến rừng, hai y đã nhanh chóng leo lên cây. Trên thảo nguyên dù có cây cối nhưng chủ yếu là bụi rậm. Cây cối thấp lùn, cành lá rậm rạp, nấp vào trong đó thì dù đứng cách vài mét cũng chẳng thấy gì.
Hắc Bạch khất cái biết rõ trong đám bụi rậm này đầy rẫy cơ quan cạm bẫy, nhưng quân Nhật thì không. Chúng hùng hổ đuổi theo vào bụi rậm, kết quả là lần lượt dính bẫy, kẻ chết người bị thương.
Quân Nhật đông đảo lại có súng ống đại bác, Hắc Bạch khất cái đoán định chúng sẽ không đời nào chịu bỏ qua dễ dàng. Bởi vậy trước khi pháo kích trút xuống, hai y đã nương theo bóng đêm mà nấp kỹ vào hầm hố bên rìa rừng. Đạn pháo bay vèo vèo trên đầu nhưng hai y vẫn bình an vô sự.
Nửa đêm hôm đó, sau khi trốn trong hầm qua cơn bão cát, họ dựa vào tinh tú để xác định phương hướng, tiến về phía Nam. Họ cũng giống chúng tôi, vốn muốn tìm đối phương nhưng bão cát đã làm đảo lộn mọi dấu vết, đành phải bỏ cuộc.
Yến Tử hỏi:
"Hai vị làm sao mà dựa vào sao để định hướng được?"
Bạch khất cái cười:
"Cái đó đơn giản lắm. Chị còn nhớ sau trận bão cát nửa đêm hôm ấy, bầu trời trông thế nào không?"
Yến Tử ngẫm nghĩ rồi đáp:
"Có rất nhiều sao ạ."
Bạch khất cái nói:
"Chị có biết sự sắp đặt của các vì sao ấy có quy luật gì không?"
Yến Tử kinh ngạc:
"Sao mọc đầy trời lấp lánh, chẳng lẽ cũng có quy luật sao?"
Bạch khất cái giảng giải:
"Tất nhiên là có chứ, nào là Thất Diệu, Tứ Tượng, Tam Viên, Thập Nhị Thứ, Nhị Thập Bát Tú... tất thảy đều có quy luật. Người thường như chúng ta ít nhất cũng phải hiểu về Nhị Thập Bát Tú. Đó là hai mươi tám ngôi sao, gồm Đông phương Thương Long thất tú, Bắc phương Huyền Vũ thất tú, Tây phương Bạch Hổ thất tú và Nam phương Chu Tước thất tú. Chúng ta sống ở phương Bắc, chỉ cần hiểu về Bắc Đẩu thất tinh là đủ."
Yến Tử lại hỏi:
"Bắc Đẩu thất tinh là gì ạ?"
Bạch khất cái đáp:
"Bắc Đẩu thất tinh nằm ở phương Bắc, nối bảy ngôi sao này lại sẽ ra hình cái gáo múc rượu, nên mới gọi là Bắc Đẩu. Ban đêm rất dễ nhận ra chúng, thấy được Bắc Đẩu thất tinh thì nhìn về phía đối diện không xa chính là sao Bắc Cực. Sao Bắc Cực nằm ngay chính hướng Bắc."
Bạch khất cái vừa dứt lời, hoa đèn bỗng nhảy lên một cái, phát ra tiếng nổ nhỏ, sau đó căn phòng bỗng sáng rực hơn hẳn.
Bạch khất cái tiếp tục:
"Tụi ta cứ thế đi về phía Nam, chẳng gặp mấy trắc trở. Chắc đường đi của hai đứa không được suôn sẻ cho lắm nhỉ?"
Yến Tử gật đầu.
Hoa đèn lại nổ thêm tiếng nữa, Bạch khất cái nhìn ngọn đèn dầu, nói:
"Tụi ta đến Đa Luân từ sớm, nhưng đợi mãi chẳng thấy hai đứa đâu, liền đoán chắc là dọc đường đã xảy ra chuyện chẳng lành."
Yến Tử bắt đầu kể về đám ác cái chuyên nghề "thải sinh chiết cát" đêm đó, chuyện tôi bị thương, chuyện dưỡng thương ở nhà bà nội nuôi, rồi cả chuyện sư tổ và Mạch bang chủ.
Bạch khất cái nói:
"Đường tụi ta đi dù không gặp trắc trở, nhưng lại thấy toàn những chuyện quái đản."
Yến Tử hỏi:
"Chuyện quái đản gì ạ?"
Bạch khất cái định nói thì Hắc khất cái đột ngột xông vào, thì thầm bảo có "dạ hành nhân" đến. Bạch khất cái "phù" một tiếng thổi tắt đèn, căn phòng chìm vào bóng tối.
Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy tiếng "sa sa" từ ngoài cửa vọng vào. Tiếng động cực nhỏ và nhẹ, hệt như tiếng tằm ăn lá dâu.
Chúng tôi nín thở trong căn phòng tối mịt, chỉ nghe thấy tiếng thở nhẹ của nhau. Tiếng bước chân "sa sa" dừng lại trước cửa phòng, dường như có đôi tai đang áp sát khe cửa nghe ngóng, một lúc sau mới rời đi.
Căn phòng không thắp đèn nữa, Yến Tử khẽ hỏi:
"Đó là ai vậy?"
Bạch khất cái đáp:
"Không biết."
Hắc khất cái tiếp lời:
"Tôi nấp trong bóng tối góc tường quan sát, thấy có bóng người đi trên nóc nhà, bộ pháp cực nhanh, nhắm thẳng tiệm thuốc mà tới. Tôi đoan chắc chúng tìm tụi mình."
Yến Tử bảo:
"Hai vị đợi em một lát."
Yến Tử dắt hai chiếc phi tiêu vào người, thoắt cái đã biến mất. Trên nóc nhà vang lên những tiếng "tạch tạch" cực khẽ, người không có nhĩ lực giang hồ thâm hậu khó mà nghe ra. Hắc khất cái trầm trồ:
"Con bé này đúng là thân thủ khá thật."
Cơ thể tôi còn yếu, nghe Hắc khất cái khen vợ mình, lòng thầm vui sướng, định lên tiếng nhưng lại thấy mệt rã rời, đành ngậm miệng lắng nghe.
Hắc khất cái nói trong bóng tối:
"Tôi cứ thấy cái đám Cái Bang này có gì đó mờ ám, hành sự tà môn lắm."
Bạch khất cái bảo:
"Còn không nhìn ra sao? Rõ mười mươi như chấy bò trên đầu trọc rồi còn gì."
Hắc khất cái thở dài:
"Tiếc cho lão bang chủ quá, nếu có lão ở đây, Cái Bang sao đến nông nỗi này."
Họ bảo lão bang chủ không còn nữa, vậy lão đã đi đâu, là rời đi hay bị hại? Tôi muốn hỏi lắm nhưng toàn thân nhũn ra, ngay cả sức để mở miệng cũng không có.
Hắc Bạch khất cái lại kể lể mấy chuyện ở quê nhà, nào là chú Ba, thím Tám, tôi chẳng hiểu lấy một câu. Rồi cơn buồn ngủ ập đến, tôi muốn thiếp đi nhưng lại lo cho Yến Tử. Chị đi một mình, chị chưa về tôi không sao ngủ yên được.
Có tiếng gõ cửa khẽ khàng, Yến Tử đã về. Cơn buồn ngủ của tôi tan biến sạch. Tôi nghe Bạch khất cái hỏi: "Dạ hành nhân kia là đường lối nào?". Yến Tử đáp: "Em cũng không rõ, chỉ thấy y đi khắp thành tìm các tiệm thuốc, cứ đứng nghe lén từng nhà một."
Bạch khất cái nói:
"Đúng rồi, đúng như tôi đoán, kẻ đó nhắm vào Ngai Cẩu."
Yến Tử bảo:
"Em hiểu rồi."
Tôi ngẫm nghĩ, dường như cũng đã hiểu ra. Dạ hành nhân chỉ tìm tiệm thuốc, chắc chắn là đang tìm tôi, vì tôi bị thương thì chỉ có thể ở tiệm thuốc. Kẻ này là ai? Tại sao lại nhắm vào tôi? Chúng tôi vừa mới đến Đa Luân, làm gì có kẻ thù, người muốn tìm tôi chỉ có thể là Cái Bang.
Bạch khất cái nói:
"Ngai Cẩu ở đây là an toàn nhất. Lang trung tiệm thuốc này cũng là người trong giới giang hồ, có thâm giao với tôi, rất đáng tin và trọng nghĩa khí."
Mọi người trò chuyện thêm lúc nữa, Yến Tử nương theo ánh trăng đi đến bên tôi, nắm lấy tay tôi. Chị mừng rỡ hỏi:
"Tỉnh rồi à, em có đói không, muốn ăn gì không?"
Tôi muốn bảo là cái gì tôi cũng muốn ăn, đói lả cả người rồi, nhưng không thốt nên lời. Bạch khất cái bảo: "Bao lâu nay Ngai Cẩu chưa ăn gì, chắc đói lắm rồi. Ngặt nỗi giờ tối om thế này, tìm đâu ra cái ăn bây giờ."
Yến Tử khẽ cười trong bóng tối:
"Chuyện đó có gì khó đâu? Trưa nay em ra ngoài thấy ở Tây Quan có nhà đang chuẩn bị tiệc cưới, chắc chắn là có nhiều đồ ngon lắm, em đi tí rồi về ngay."
Yến Tử lại đi mất, Hắc khất cái bước đến cạnh giường gọi tôi mấy tiếng, tôi không đáp, y tưởng tôi đã ngủ nên chẳng kiêng dè gì mà bảo:
"Con bé này cừ thật, lanh lợi hết phần người khác, vậy mà lại cứ một mực thương cái thằng nhãi khờ khạo này. Thằng nhãi này đúng là có phúc."
Bạch khất cái cười hì hì:
"Số mệnh do trời, mỗi người có cái phúc riêng. Thằng bé dù đầu óc hơi chậm chạp nhưng bản tính tốt."
Nghe họ trò chuyện, tôi thấy mình đúng là may mắn thật, gặp được Yến Tử, lại cưới được chị làm vợ. Vì Yến Tử, dù có bị bắn thêm trăm mũi tên tôi cũng cam lòng; vì Yến Tử, dù có chết trăm lần tôi cũng nguyện ý.
Chẳng bao lâu sau, Yến Tử đã quay lại với một bọc đồ trên lưng. Bạch khất cái thắp đèn, Yến Tử mở bọc ra, bên trong là những bát thịt kho vuông vức, bánh bao trắng ngần và hai vò rượu ngon. Hắc khất cái mở vò rượu, mùi hương thơm lừng tỏa khắp phòng. Y nhấp một ngụm, tấm tắc khen: "Rượu ngon, rượu ngon quá!".
Bạch khất cái cũng uống một hớp rồi nói:
"Suốt dọc đường này tụi ta thấy quái lắm, ăn mày ở đây chẳng giống ăn mày nơi khác tí nào. Nơi nào chẳng có kẻ ăn xin, chuyện đó xưa nay vốn thường, nhưng kẻ ăn xin ở đây cứ thấy tà khí thế nào ấy."
Yến Tử cũng đồng tình, rồi kể lại chuyện gặp đám ác cái chuyên nghề "thải sinh chiết cát".
Bạch khất cái tiếp lời:
"Tụi ta đường này không thấy 'thải sinh chiết cát', nhưng lại gặp mấy vụ 'niệm ương' (dụ dỗ, lừa lọc). Hôm trước, tụi ta thấy một lão già mù cầm gậy, bỗng túm chặt lấy một thiếu niên ăn mặc bảnh bao, khăng khăng bảo thằng bé quỵt tiền của lão. Lúc đó có hàng chục người vây quanh xem. Tụi ta bước tới nghe thì mới vỡ lẽ. Lão già mù đó cố tình đánh rơi túi tiền, thằng bé đi sau nhặt được đem trả, lão cầm túi tiền sờ soạn một hồi rồi lu loa là thằng bé đã lấy mất một nửa. Thằng bé thề thốt không lấy đồng nào, nhưng lão già cứ bám lấy không buông, mồm thì gào lên: 'Con nhà ai mà thất đức thế này, gọi cha nó ra đây cho lão, dám lấy tiền của một lão già mù hả trời!'. Đám người đứng xem thấy lão già tội nghiệp, còn thằng bé trông giàu có nên xúm vào chỉ trích, thằng bé có miệng mà không sao thanh minh nổi."
Yến Tử bảo:
"Cái lão già đó đúng là đồ vô liêm sỉ."
Bạch khất cái kể tiếp:
"Đang lúc đôi bên giằng co, từ xa có một toán người cưỡi ngựa đi tới, mặc đồ Trung Sơn, trông như người của quan phủ. Người cầm đầu mặt trắng trẻo, để râu ngắn, sau khi hỏi rõ sự tình thì bảo với lão già mù: 'Túi tiền ông đánh rơi có nhiều tiền, còn túi tiền thằng bé nhặt được này ít tiền hơn, rõ ràng túi này không phải của ông, ông đi mà tìm túi tiền của mình đi'. Thế là cái túi tiền lão già cố ý đánh rơi ấy bị đem cho thằng bé mang về luôn."
Yến Tử cười thích chí:
"Cách này hay thật, lão già kia đúng là 'trộm gà không được còn mất nắm gạo'."
Tôi nằm trên giường, thầm nghĩ, trò của lão già mù kia chẳng phải là kế "tráo túi" ở trong quan sao? Chỉ khác là trong quan thường có hai kẻ phối hợp, một đứa giả vờ rơi tiền, đứa kia xúm vào rủ người qua đường "chia chác". Thấy xấp tiền dày cộp, người ta nổi lòng tham nên mới bỏ tiền túi ra đưa cho đứa kia để tống khứ nó đi rồi ôm lấy xấp tiền. Đến khi về nhà mở ra mới biết cả xấp giấy lộn, chỉ có hai tờ thật ở trên và dưới.
Mánh khóe giang hồ cũng tùy nơi mà biến hóa, cùng là kế tráo túi, trong quan thì lừa, ngoài quan thì ăn vạ.
Bạch khất cái nói tiếp:
"Đến ngày thứ hai, tụi ta lại gặp chuyện lạ."
Yến Tử hỏi: "Chuyện gì ạ?".
Bạch khất cái đáp:
"Lại gặp bọn 'lai cổn' (ăn vạ). Đang đi trên đường, cứ thấy người giàu nào đi qua là tụi nó cố tình đâm sầm vào rồi ngã lăn ra đất, la làng là bị đâm trọng thương không cử động được, bắt người ta phải đưa vào tiệm thuốc."
Tôi nghĩ, đây lại là một trò tống tiền nữa.
Bạch khất cái tiếp tục:
"Kẻ ăn vạ nằm lăn lóc, gào thét thảm thiết, kéo theo bao nhiêu người hiếu kỳ. Thấy kẻ ăn vạ già nua yếu ớt, còn người kia thì to cao lực lưỡng, thiên hạ liền tin ngay, xúm vào chửi rủa người giàu kia. Người đó cuối cùng cũng tưởng là mình đâm trúng thật, sợ bị nhây nên đành bỏ tiền ra cho xong chuyện rồi lủi mất."
Yến Tử nói:
"Dọc đường chúng em cũng gặp mấy kẻ giả làm thầy đồ kể chuyện ở đám hiếu để vòi tiền thưởng."
Bạch khất cái bảo:
"Cái trò 'đánh thu phong' (lợi dụng kiếm chác) ở đám hiếu hỷ là bài của Cái Bang rồi, nhưng cái trò giả vờ bị đâm để tống tiền thì đúng là quá thất đức. Nếu Cái Bang ở một vùng mà toàn hạng người như vậy, chắc chắn là có liên quan mật thiết đến tên bang chủ."
Tôi thầm nghĩ Bạch khất cái nói chí lý. Đa Luân thay bang chủ mới, nếu là sư tổ thì người vốn chính trực, tuyệt đối không để xảy ra chuyện "thải sinh chiết cát" hay tống tiền vô lối như vậy. Nhưng tên bang chủ mới này là hạng người nào, sao y lại phải đóng giả làm sư tổ?
Bạch khất cái đang nói thì bên ngoài vang lên tiếng đánh canh, thanh âm của "Báo quân tri" khô khốc mà nhịp nhàng, vang vọng giữa đêm vắng: Bòng... bòng... bòng... bòng, đã đến canh tư rồi.
Tiếng mõ dứt, Bạch khất cái tiếp lời:
"Cách nhà bang chủ mấy chục mét có một ngôi miếu Tổ Sư, thờ ông tổ nghề mộc Lỗ Ban. Miếu tọa lạc trên một gò đất cao, đứng ở cổng miếu có thể nhìn bao quát khắp các ngõ ngách phố Nam."
Cái tên Lỗ Ban này tôi từng nghe qua, hồi nhỏ ở quê tôi trên núi cũng có một ngôi miếu Tổ Sư. Lỗ Ban là tổ nghề mộc, người đã làm ra con chim gỗ bay lượn trên trời ba ngày đêm không rớt, còn chế ra thang mây để quân lính leo thành cao mấy cũng chẳng sợ. Quê tôi có câu vè: "Mồng ba tháng ba, đi lên núi; đi lên núi, thăm Lỗ Ban; thăm Lỗ Ban, trút oan ức; đầu dân đen có trời xanh". Lỗ Ban vốn là tổ nghề mộc, nhưng ở quê tôi người lại trở thành vị thần của muôn dân. Ai có oan ức gì, cứ đến ngày mồng ba tháng ba kể với Lỗ Ban, người sẽ giáng báo ứng xuống đầu kẻ thủ ác. Chính vì tin vào truyền thuyết đó mà dân làng ít ai dám làm điều ác.
Bạch khất cái kể:
"Tụi ta tá túc trong miếu Tổ Sư để giám sát nhất cử nhất động nhà tên bang chủ. Có hôm, tụi ta thấy hai gã từ trong nhà hắn đi ra, một gã cứ đi vài bước lại đưa tay nắn nắn túi áo ngực. Từ phố Nam đến gò đất miếu Tổ Sư chỉ có hai trăm mét mà y nắn túi mấy lần liền. Ta đoán chắc chắn chúng đang giấu vật gì quan trọng. Gã giấu đồ rất dễ nhận diện, y mất một bên tai, dáng người cao lớn, mặt đầy thịt ngang. Thế nên không sợ bị mất dấu."
Yến Tử thốt lên kinh ngạc:
"A! Cái gã mất tai đó, giọng nói y thế nào ạ?"
Bạch khất cái đáp:
"Giọng khó nghe lắm, khàn đặc như gà trống thiến vậy."
Yến Tử reo lên:
"Đúng rồi, chính là y!"
Bạch khất cái hỏi: "Ai cơ?".
Yến Tử kể lại chuyện từng giao chiến với đám "thải sinh chiết cát" trong chuồng cừu giữa đồng hoang, chính tay chị đã xẻo mất một bên tai của gã đó.
Hắc khất cái chen ngang:
"Chị giao chiến với chúng rồi sao? Gã đó có võ công, không dễ xơi đâu. May mà chúng không xông vào chuồng cừu, nếu không cả chị và Ngai Cẩu đều khốn đốn rồi."
Bạch khất cái tiếp tục:
"Tụi ta lẳng lặng bám theo hai gã đó ra tận một con mương cạn ngoài thành, rồi tiến lên bắt chuyện để dò xét xem chúng là đường lối nào, đi đâu. Nhưng hai gã này tỏ vẻ lạnh lùng, chỉ muốn nhanh chóng rời đi. Tụi ta dùng hắc thoại giang hồ để tiếp cận, vốn dĩ trên đường hễ nói hắc thoại là coi như người mình, phải thân thiết lắm mới đúng. Nhưng hai gã này lại rất bất thường, chúng càng bất thường tụi ta càng phải làm cho ra lẽ, bởi chúng bước ra từ nhà tên bang chủ người Nhật kia mà."
Có tiếng bước chân từ xa vọng lại, nhịp chân rất đều, nghe chừng phải đến mười mấy người. Yến Tử bảo: "Tuần đêm đến đấy".
Bạch khất cái im bặt, đợi tiếng bước chân khuất hẳn mới nói tiếp:
"Nói qua nói lại vài câu là động thủ ngay. Chúng muốn đi, tụi ta nhất quyết giữ lại. Sau khi khống chế được chúng, tụi ta lục soát trên người gã mất tai, tìm thấy một bức thư, bên trên toàn là chữ loằng ngoằng như chân cua, chẳng đọc ra chữ gì."
Tôi nghĩ thầm, đó chắc chắn là chữ Nhật.
Bạch khất cái nói:
"Tụi ta không đọc được nên mới hỏi chúng viết gì, hai gã nhất quyết không khai. Tụi ta liền dùng một nhành cây châm vào huyệt đạo của chúng, khiến chúng lúc thì ngứa ngáy cười sằng sặc, lúc lại đau đớn khóc lóc thảm thiết, nước mắt nước mũi giàn dụa, trông kinh tởm vô cùng. Sau cùng, chúng không chịu nổi nhiệt nữa mới khai rằng đó là bản đồ bố phòng quân sự của quân đội Trung Quốc trấn giữ Đa Luân. Bức thư này do chính tên bang chủ viết và giao tận tay, bắt chúng mang tới Xích Phong."
Tên Mạch bang chủ này đúng là tàn nhẫn đến cực điểm, không chỉ cướp ngôi bang chủ Cái Bang mà còn làm tay sai đưa tin cho quân Nhật. Bức thư này mà lọt vào tay chúng thì hậu quả khôn lường, Đa Luân sẽ sớm bị quân Nhật san phẳng.
Bạch khất cái ngừng một nhịp rồi kể tiếp:
"Biết được nội dung bức thư, tụi ta liền ra tay kết liễu hai tên đưa tin, cắt cổ chúng rồi quăng xác giữa đồng hoang. Chỉ cần một canh giờ, lũ kền kền thảo nguyên sẽ rỉa sạch, chẳng ai còn nhận ra chúng là ai nữa. Giữ bức thư trong người, tụi ta lại bí quá, chẳng biết xử lý thế nào. Hủy đi luôn hay giao cho quân thủ thành? Tụi ta trước nay chưa từng làm việc với quân đội, giờ bảo là cướp được từ Cái Bang, liệu họ có tin không? Nghĩ mãi không ra cách, tụi ta đành giấu bức thư sau tượng Lỗ Ban, lấy mấy viên gạch đè lên. Sáng hôm sau tỉnh dậy, sờ vào chỗ giấu thì ôi thôi, trống không! Bức thư đã bị nặc danh lấy mất, chứng tỏ có cao thủ đang rình rập tụi ta. Tụi ta lạnh cả gáy, đêm qua ngủ say như chết, nếu kẻ đó muốn hại mạng thì đúng là dễ như trở bàn tay. Kỳ lạ nhất là miếu Tổ Sư cửa đóng then cài cẩn mật, cao thủ đó vào bằng đường nào được chứ?"
Ái chà, "bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sau", tôi không khỏi bàng hoàng. Cửa đóng then cài đâu có ngăn được hạng "toản thiên tặc" (trộm bay). Bọn trộm đạo có đường lối riêng, đời nào lại đi cửa chính. Hắc Bạch khất cái võ công cao cường nhưng lại chẳng rành mấy chiêu trò trộm cắp này.
Yến Tử phân tích:
"Bức thư đó liên quan đến bố phòng quân sự, quân trộm cắp thông thường chẳng thèm lấy làm gì. Kẻ lấy nó chắc chắn phải biết giá trị của nó. Nhưng ai lại rành nội dung bức thư đó đây? Chỉ có thể là người của Cái Bang. Nhưng nếu là Cái Bang thì tại sao chúng chỉ lấy thư mà không xuống tay với hai vị?"
Nghe Yến Tử phân tích, tôi thấy câu nào cũng chí lý. Kẻ trộm thư chắc chắn không phải Cái Bang, cũng chẳng phải hạng trộm vặt, bởi trộm vặt không có thân thủ ấy. Kẻ làm được việc này chỉ có thể là thần trộm. Nhưng làm sao thần trộm lại biết bức thư đó quan trọng? Chỉ có một khả năng: kẻ đó luôn âm thầm giám sát Hắc Bạch khất cái, hoặc giả là giám sát cả Cái Bang.
Bạch khất cái nói:
"Sáng hôm đó phát hiện mất thư, tụi ta kinh ngạc tột độ nhưng không đoán ra là ai. Lúc ấy cũng có nghi cho Cái Bang nên theo dõi nhất cử nhất động của chúng, nhưng tuyệt nhiên không thấy chúng phái người đi đưa tin nữa. Nếu Cái Bang lấy lại được thư quan trọng thế, chắc chắn phải cho người đưa đi ngay chứ. Cái Bang vẫn bình chân như vại chứng tỏ chúng chưa biết hai tên đưa tin đã chết, cũng không biết thư từng lọt vào tay tụi ta rồi lại bị mất."
Yến Tử gật đầu: "Đúng vậy, kẻ trộm thư không phải người của Cái Bang".
Bạch khất cái kể tiếp:
"Phía sau tụi ta luôn có kẻ bám đuôi, mà kẻ đó là địch hay bạn thì chịu chết không biết được. Nghĩ cũng hãi, tụi ta lăn lộn giang hồ hai mươi năm mà lần này lại dính bẫy. Thế là tụi ta quyết định rời miếu Tổ Sư, ra sống ở các hố đất dưới chân thành. Ở đó chỉ có một hạng người, là những kẻ hành khất lưu lạc. Một gã ăn mày đến nơi đất khách không dễ sống đâu, trước tiên phải chào hỏi Cái Bang vì đó là địa bàn của chúng. Được phép rồi mới được hành nghề. Chị đừng nhìn đám ăn mày trên phố đứa mù đứa què có vẻ không liên quan, thực chất sau lưng đều có Cái Bang chống lưng cả. Đụng vào một đứa là nhà chị không bị đốt cũng bị dỡ. Cái Bang là cái bang phái tà ác nhất thiên hạ, trò bẩn thỉu nào chúng cũng dám làm."
Yến Tử tặc lưỡi: "Cái Bang đúng là tà ác thật".
Bạch khất cái nói:
"Nhưng ở Đa Luân này lạ lắm, lúc tụi ta đi xin chẳng ai hỏi han hay xua đuổi. Đám ăn mày trên phố trông cứ tất bật, đi đứng rất nhanh, gặp nhau ít khi trò chuyện, cũng chẳng bao giờ lảng vảng quanh nhà dân. Chúng chủ yếu tập trung quanh các doanh trại quân đội và các tòa nhà lớn như ngân hàng, nhà hát, nha môn."
Tôi nằm trên giường nghĩ bụng, đám ăn mày ở Đa Luân này chắc chắn không phải ăn mày nữa rồi, mà là mật thám của quân Nhật. Có quân Nhật rót tiền sau lưng thì cần gì phải đi xin nữa.
Đột nhiên, trên mái nhà vang lên một tiếng động khẽ, tiếng ngói vỡ. Trên kia luôn có người nghe lén! Trong bóng tối, Yến Tử lao vút ra ngoài như một mũi tên, tay vung lên phóng ra một chiếc phi tiêu. Nhưng kỳ lạ thay, trên nóc nhà không còn phát ra thanh âm nào nữa, một bóng đen như làn khói loãng tan biến vào không trung.
Yến Tử quay vào, hơi thở dồn dập:
"Kẻ đó thân thủ nhanh quá, đuổi không kịp."
Trong phòng chẳng ai nói câu nào, không khí bao trùm một nỗi chán chường cực độ. Cứ tưởng nói chuyện giữa đêm hôm là kín kẽ, hóa ra nãy giờ đều bị người ta nghe sạch.
Quả thực có một vị cao thủ vẫn luôn âm thầm bám sát Hắc Bạch khất cái bấy lâu nay.

(Tổng: 7042 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0