Tổ Bịp
- 4666 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 19. Sinh tồn nơi núi thẳm
Đêm ấy, tôi men theo con đường mòn ngoằn ngoèo sau miếu mà chạy thẳng xuống chân núi, rồi lại lầm lũi băng qua những sườn núi tối đen như mực ở phía đối diện. Tiếng sói hú vẳng lại từ nơi xa xăm, nhưng lạ thay, đêm đó tôi chẳng chút sợ hãi. So với con người, loài sói vẫn còn hiền chán. Nếu không đến mức đói khát cùng cực, chúng chẳng bao giờ chủ động tấn công người. Thế nhưng con người, vì đạt được mục đích tội ác, họ có thể chẳng từ bất kỳ thủ đoạn nào.
Con người mới là loài sinh vật đáng sợ nhất trên thế gian này.
Đêm đó, tôi ngồi thật lâu trên đỉnh núi, trân trân nhìn ngọn lửa vẫn đang ngùn ngụt cháy, nhìn đám người kia cưỡi ngựa rời đi. Nghĩ đến Sư phụ, Nhị sư thúc và gã lùn béo đã bị ngọn lửa thiêu thành tro bụi, nước mắt tôi bỗng tuôn rơi lã chã. Mới tối hôm qua thôi, chúng tôi còn ngồi quây quần trong trai phòng ăn cơm, trò chuyện, đùa giỡn, vậy mà từ nay về sau, tôi sẽ chẳng bao giờ được gặp lại họ nữa, vĩnh viễn không bao giờ. Mất đi họ rồi, tôi biết phải làm sao đây?
Nỗi kinh hoàng và sự cô độc bủa vây lấy tôi. Tôi nức nở nghẹn ngào.
Tận lúc bình minh, ngọn lửa nơi ngôi chùa mới dần tàn lụi. Thế nhưng, mọi dấu vết trên mặt đất đều đã biến tan, ngôi chùa giờ chỉ còn là một đống phế tích hoang tàn. Ngay cả cây quế cũng chẳng thấy đâu. Tôi biết dưới gốc cây ấy vẫn còn chôn tiền. Nếu đi tìm, có lẽ tôi sẽ thấy, nhưng tôi chẳng còn tâm trí nào nữa. Sư phụ và Nhị sư thúc đều đi cả rồi, tôi có nhiều tiền đến đâu cũng chẳng thể mua lại được mạng sống của họ.
Tôi lau khô nước mắt, hướng về phía lối ra khỏi núi trong tưởng tượng mà bước đi. Lúc đó, tôi lo sợ những kẻ phóng hỏa sẽ mai phục trên đường, nên chẳng dám đi đường lớn, chỉ dám lủi lủi giữa rừng sâu và đồng hoang.
Mặt trời ló rạng, tôi cứ hướng về phía vầng thái dương mà tiến bước. Tôi biết nơi mặt trời mọc là hướng Đông, và hướng đi Kinh Châu của tôi với Nhị sư thúc cũng là hướng Đông. Chỉ cần ra khỏi vùng Đại Biệt Sơn, tìm thấy những huyện lỵ, thành phố đông đúc, tôi sẽ sống sót được.
Tôi có ba ngón nghề: đi dây, xem tướng và khắc triện.
Thế nhưng, tôi không muốn đi dây nữa. Muốn đi dây thì phải gia nhập gánh xiếc, mà vào đó, tôi lại phải quay về những ngày tháng trộm gà bắt chó cùng Cao Thụ Lâm năm xưa; gánh xiếc thời đó hầu hết đều làm ăn kiểu như vậy. Tôi cũng không muốn đi xem bói. Thực tế thì một đứa trẻ ranh chưa mọc nổi sợi râu như tôi, có xem cho ai đi chăng nữa người ta cũng chẳng tin. Họ không những không tin mà còn cầm gậy đuổi đi, thế gian này làm gì có ông thầy bói nào mới mười mấy tuổi đầu.
Vậy nên, giờ chỉ còn mỗi nghề khắc triện. Điêu khắc là thiên bẩm của tôi.
Kẻ làm nghề điêu khắc dựa vào đôi bàn tay để kiếm cơm, chỉ có hai con đường: một là ngồi bệt bên lề đường khắc con dấu; hai là rong ruổi khắp xóm làng, khắc chữ "Phúc Lộc Thọ Hỷ" hay tranh "Cầm Kỳ Thi Họa" lên cánh cửa, hoặc khắc hoa sen và chữ "Tế" lên đầu quan tài. Loại trước gọi là thợ, loại sau gọi là thầy. Tôi chỉ có thể làm thợ, chứ chẳng làm thầy nổi. Với cái tuổi nhỏ nhoi này mà xưng thầy, thiên hạ chẳng ai tin cho được.
Muốn khắc dấu thì chỉ có nước vào huyện thành hoặc phố thị. Lão nông nơi thung lũng sâu thẳm, một chữ bẻ đôi không biết, ai lại cần đến ấn chương?
Tôi phải rời khỏi Đại Biệt Sơn mới có đường sống.
Đại Biệt Sơn mênh mông bát ngát, trùng trùng điệp điệp, tôi chẳng biết đâu là làng mạc, đâu là đường sá. Đường nối liền thôn xóm, thôn xóm làm con đường vươn dài thêm. Cũng chỉ nơi nào có đường mới có làng, nhưng vì sợ đám người kia tìm thấy, tôi cứ lầm lũi độc hành trong núi sâu. Đến giữa trưa, bụng đói cồn cào, tôi định tìm một ngôi làng để xin ăn thì mới hay mình đã lạc đường.
Chẳng rõ đây là chốn nào. Xung quanh chỉ có tiếng chim chóc tao tác, những bụi cây rậm rạp, những đỉnh núi dốc đứng và những dải mây trắng hững hờ trôi trên đỉnh ngàn. Tôi dáo dác nhìn quanh, mong tìm được chút gì đó lót dạ. Nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy gì.
Bấy giờ đang tiết hạ, ngoài cái đói còn thêm cái khát cháy lòng. Cơn đói đã khiến người ta khó lòng chịu đựng, còn cái khát lại làm tôi muốn ngất lịm. Sau cùng, khát quá không chịu nổi, tôi đành bóc vỏ cây, dùng lưỡi liếm lấy những dòng nhựa cây rỉ ra. Cứ thế, tôi cũng gắng gượng vượt qua được buổi trưa đầy đọa.
Cảm giác đói cồn cào nhất qua đi, dạ dày bắt đầu trở nên tê liệt, trái lại không còn thấy đói nữa. Mãi đến quá trưa, tôi mới nghĩ ra một cách hay để lấp đầy bụng, đó là ăn ve sầu, hay còn gọi là tri liễu.
Mùa hè, hễ nơi nào có cây là có ve sầu, bởi chúng cũng giống như tôi, nương vào nhựa cây mà sống.
Mắt ve sầu lồi về phía trước, nó có thể quan sát động tĩnh từ ba phía, duy chỉ có phía sau là không thấy gì. Hồi nhỏ ở quê, tôi thường trèo cây bắt ve. Hễ nghe tiếng ve kêu, tôi lại lẻn lên cây, rón rén bò ra phía sau nó, rồi một tay bám chặt cành, một tay thình lình vươn ra chụp gọn con ve vào lòng bàn tay. Trông con ve có vẻ hung tợn, nhưng thực chất nó chẳng cắn người.
Trưa hôm đó, sau khi bắt được ve, tôi vặt bỏ đôi cánh và mắt rồi nuốt chửng phần thân vào bụng. Thuở nhỏ ở quê, chúng tôi từng ăn ve nướng. Bỏ ve vào lò, lúc đầu nó còn bò lổm ngổm, nhưng dưới sức nóng hầm hập, nó nhanh chóng bất động, thân mình muốn cuộn tròn lại nhưng chẳng thể nào làm nổi. Ve nướng chín có mùi thơm lừng, nhưng tôi không có lửa, chẳng có lấy một thứ gì, ngoại trừ bộ quần áo trên người. Tôi chỉ có thể ăn sống.
Ngày hôm đó, tôi ăn sống mấy con ve liền mà chẳng hề thấy buồn nôn. Con người cũng chỉ là một loài động vật trong tự nhiên, chẳng khác gì hổ báo sói rừng. Muông thú chưa bao giờ cần nướng chín thức ăn, con người trong tình cảnh ngặt nghèo cũng có thể "nhu mao ẩm huyết", quay về lối sống của tổ tiên thuở hồng hoang.
Đến lúc hoàng hôn, chuỗi ngày "đủ đầy" của tôi mới thực sự bắt đầu.
Khi nắng quái chiều hôm buông xuống, từng con nhộng ve chậm chạp mà kiên cường chui lên từ những cái hang sâu hoắm dưới gốc cây. Chúng đã sống dưới lòng đất suốt bốn năm ròng, bốn năm chờ đợi chỉ để đổi lấy khoảnh khắc hóa nhộng thành ve này.
Nhộng ve bò đến gốc cây, rồi theo thân cây mà lết lên cao. Khi cách mặt đất chừng hai ba thước, nó dừng lại, trên lưng nứt ra một đường dọc để cái xác ve chui ra.
Con nhộng sau khi chui ra khỏi vỏ không còn gọi là nhộng nữa, mà gọi là ve sầu.
Hồi nhỏ ở dưới quê, chúng tôi quá rành đặc tính của loài ve này.
Chỉ cần thấy trên mặt đất có những cái hang to cỡ ngón tay, tôi lại lùng sục quanh gốc cây, thế nào cũng tìm thấy những con nhộng đang bò chậm chạp. Nhộng ve còn ngon hơn cả ve sầu trưởng thành. Giữa buổi hoàng hôn sương khói mờ ảo, nhộng ve đã trở thành bữa tối của tôi.
Tuy nhiên, màn đêm cũng mang đến nỗi khiếp đảm khôn cùng. Tôi nhìn thấy dải Ngân Hà vắt ngang trên đỉnh đầu, vô số vì sao lấp lánh như thể chỉ cần đưa tay ra là hái được một ngôi. Tiếng thú hoang gầm rít không tên vẳng lại từ xa khiến tim tôi thắt lại từng hồi.
Sau đó, tôi tìm thấy một hang núi nằm cách mặt đất chừng ba bốn mét rồi chui tọt vào trong.
Trong hang gió thổi hiu hiu. Kinh nghiệm sống nhiều năm ở nông thôn bảo tôi rằng, nếu hang núi nóng bức thì chỉ có một lối ra; còn nếu sâu trong hang có gió lùa vào thì ắt hẳn nó có hai lối thoát.
Phía này hang cách mặt đất vài mét, phỏng chừng lũ thú lớn không leo lên được, nhưng phía bên kia sẽ là gì đây? Liệu có phải là hang ổ của loài mãnh thú nào đó không? Nỗi sợ hãi đột ngột ập đến, tôi lại lủi ra khỏi đó.
Trời mỗi lúc một tối sầm, lòng tôi càng thêm bồn chồn lo lắng. Sau cùng, thấy một hốc đá trong vách núi, tôi chẳng buồn quan tâm xem nó có mấy lối ra nữa, cứ thế chui đại vào.
Vừa vào trong, bỗng nghe thấy tiếng chim kêu. Có tiếng chim, lòng tôi lại thấy nhẹ nhõm hẳn. Hang có tổ chim thì chắc chắn sẽ không có thú dữ.
tôi bê một đống đá, lấp lối vào hang thành một bức tường để ngăn thú dữ đột nhập.
Đến giữa đêm, quả nhiên có thú dữ tìm tới.
Đầu tiên, tôi ngửi thấy một mùi tanh nồng nặc, tiếp đó là một bóng đen khổng lồ chắn ngang cửa hang. Tôi chẳng rõ đó là loài vật gì, có lẽ là hổ, là gấu đen, hay là lợn rừng, vì đêm đó không có trăng.
Con thú nọ chắc cũng đánh hơi thấy mùi của tôi, nó cứ lảng vảng trước cửa hang rất lâu. Tiếng chim trong hang lúc đầu nhốn nháo xôn xao, sau đó im bặt, có lẽ chúng cũng đang khiếp sợ như tôi, chẳng dám phát ra tiếng động nào.
Con thú cứ chần chừ không đi, sau cùng thậm chí còn định dùng thân mình húc đổ đống đá chắn cửa. Tôi kinh hãi tột độ. Cái hang này không có lối thoát nào khác, nếu đống đá bị đổ, tôi cầm chắc cái chết.
Tôi vớ lấy hai hòn đá trong tay, ra sức đập vào nhau cho tóe lửa và phát ra những tiếng động chát chúa. Rồi từ trong cổ họng, tôi gầm gừ những tiếng trầm đục, vung vẩy cánh tay để khiến mình trông to lớn hơn.
Con thú nọ ngừng húc, nó không còn cố vào hang nữa. Có lẽ tiếng đá va nhau đã dọa sợ nó, hoặc cũng có thể là những tia lửa lóe lên đã khiến nó chùn bước. Một lát sau, nó chậm chạp quay người lại, chĩa mông về phía cửa hang phóng ra một cái rắm rồi bỏ đi. Cái rắm của nó cực kỳ thối, thối đến mức tôi suýt ngất xỉu.
Sau này nghĩ lại, tôi đoán đó có lẽ là một con đười ươi lớn.
Đêm ấy tôi chẳng dám chợp mắt, mãi đến lúc bình minh mới mơ màng thiếp đi.
Khi trời sáng rõ, tôi tỉnh dậy giữa tiếng chim kêu ríu rít, bấy giờ mới nhận ra lũ chim trong hang là chim bố cắt (chim tu hú). Hồi nhỏ ở quê, loại chim này rất phổ biến, tiếng kêu của chúng thay đổi theo thời gian. Khi lúa mạch chín, tiếng nó kêu là "toán hoàng toán cát, toán hoàng toán cát..." (tính chín tính gắt). Đám tá điền trong nhà bảo, nó đang thúc giục chúng tôi gặt lúa, chỗ nào chín là phải gặt ngay, kẻo một trận gió lớn sẽ thổi bay hết hạt chín xuống đất. Gặt xong lúa mạch là đến lúc gieo kê, khi đó tiếng kêu của nó lại đổi thành "bố cốc bố cốc, bố cốc bố cốc..." (gieo kê gieo kê). Mấy người làm bảo nó đang giục chúng tôi gieo hạt đấy.
Ở quê tôi, chim bố cắt chỉ xuất hiện vào mùa hè, đến mùa đông là biến mất. Đám tá điền bảo nó bay về phương Nam tránh rét rồi.
Họ còn nói, giống chim này là hạng gian manh, xảo quyệt, toàn đẻ trứng vào tổ loài khác để chúng ấp hộ, còn mình thì đứng ngoài đứng xem. Nó trơ mắt nhìn con khác ấp nở con mình, nhìn con khác mớm mồi nuôi nấng con mình khôn lớn. Thậm chí con bố cắt non càng lớn càng to, to hơn cả con chim nuôi nó, vậy mà lũ chim kia đầu óc u mê không nhận ra, cứ mải miết đi kiếm mồi, mải miết nuôi nấng để rồi con đẻ của chúng chết đói, còn bản thân chúng thì kiệt sức mà chết. Đến lúc ấy, con bố cắt vốn lấp liếm quan sát nãy giờ mới thò ra đón con mình về.
Ngày nhỏ nghe kể chuyện, tôi vừa yêu vừa ghét loài chim này; yêu vì nó nhắc nhở việc đồng áng, ghét vì nó gian trá, không làm mà đòi có ăn. Con chim bố cắt đứng trong tổ, nhìn tôi đầy cảnh giác, nó há to miệng phát ra những tiếng kêu dọa dẫm.
Tôi bước ra khỏi hang, chẳng thèm chấp nhặt với nhà ngươi. Trong mắt ngươi, cái tổ ấy là thiên đường, nhưng trong mắt lão nạp đây, nó chỉ là một đống rác rưởi mà thôi.
Mặt trời lên, tôi định vị phương hướng. Lẽ ra phải tiếp tục đi về hướng Đông, nhưng thế núi trắc trở khiến tôi không thể đi được, đành phải men theo thung lũng mà đi về hướng Bắc.
Đến giữa trưa, tôi lạc vào một vùng bụi rậm lúp xúp, bụng đói như cào mà quanh đây chẳng thấy bóng dáng con ve nào. Tôi thầm nghĩ, chắc lũ ve đã truyền tai nhau rằng tôi thích ăn thịt chúng, nên tất thảy đều trốn biệt lên những ngọn cây cao vút rồi. Giờ thì biết ăn cái gì đây?
Khi con người đói đến cùng cực, cái gì cũng có thể tống vào mồm, mọi loài chạy nhảy hay côn trùng đều có thể trở thành thức ăn. Và hôm nay, món tôi ăn là bọ cạp.
Bọ cạp chẳng dễ tìm, nhưng tôi hiểu rõ tập tính của chúng. Hồi nhỏ ở quê, dân mình có thói quen đi bắt bọ cạp và đào dược liệu; mùa hè bắt bọ cạp, mùa đông đào thuốc. Bọ cạp mùa hè hoạt động mạnh, còn rễ dược liệu mùa đông thì mập mạp. Cả hai thứ đều có thể đem bán cho tiệm thuốc để kiếm chút tiền lẻ.
Tôi từng đi bắt rất nhiều bọ cạp với con trai người tá điền. Cha đẻ tôi, lão Vương Tế Quỷ, keo kiệt đến tận xương tủy, mỗi đồng tiền đồng đều như dính chặt vào gân cốt lão, đòi lão một đồng chẳng khác nào rút gân lột da lão vậy. Thế nên tôi cũng như con trai gã tá điền, tiền tiêu vặt đều phải dựa vào việc bắt bọ cạp mà có.
Bọ cạp ưa nơi mát mẻ, thường ẩn mình trong các kẽ đất. Nghe nói bọ cạp ăn đất, nhưng tôi chưa bao giờ tin, đất thì ăn làm sao được? Khi bắt bọ cạp, chúng tôi chuyên tìm những chỗ đất nứt, hễ thấy kẽ đất là thường có bọ cạp. Lật một cục đất lên, bọ cạp đang cuộn mình ngủ tít ở dưới, chúng tôi dùng đôi đũa kẹp lấy nó, bỏ vào vò gốm, nó có muốn cũng chẳng bò ra nổi, rồi cứ thế đem bán cho tiệm thuốc.
Tiệm thuốc dùng bọ cạp làm thuốc dẫn. Đã làm thuốc được thì ắt là ăn được.
Tại một hốc núi nọ, tôi lật vài cục đất và thấy một ổ bọ cạp. Chúng chắc đang ngủ trưa, ánh nắng thình lình ập xuống cũng chẳng làm chúng bận tâm, cứ nằm bẹp trên mặt đất ẩm ướt, bất động.
Tôi tóm lấy con bọ cạp lớn nhất, có lẽ là bọ cạp mẹ.
Bắt bọ cạp để ăn thì không được tóm đầu hay tóm thân, mà phải chộp lấy cái đuôi. Ngòi độc nằm ở chót đuôi, chỉ cần giữ chặt chỗ đó, nó sẽ không đốt được bạn.
Miếng bọ cạp đầu tiên khiến tôi vô cùng khiếp hãi. Tôi kẹp chặt đuôi nó, trong khi đầu và chân nó cứ quờ quạng liên hồi. Đưa vào miệng, môi và răng chạm vào cái thân thể lạnh lẽo và sự vùng vẫy điên cuồng của nó. Tôi hét lên một tiếng dài, răng nghiến chặt cắt đứt thân mình nó, cắn đứt đầu rồi nhai ngấu nghiến và nuốt chửng.
Con bọ cạp chỉ còn lại nửa thân sau, chân nó vẫn còn giãy giụa trong kẽ tay tôi. Tôi ném nốt nửa phần còn lại vào miệng, bỗng thấy một cơn đau thấu xương xuyên thấu tâm can, cái đuôi nó vẫn còn ngoáy được và đốt mạnh vào môi tôi.
Cơn đau nhói trên môi thổi bùng lên sự căm hận. Tôi vớ lấy từng con bọ cạp con, dứt bỏ đuôi trước rồi mới tống vào miệng. Chúng giãy giụa, bò lổm ngổm trong miệng tôi, tôi có thể cảm nhận được những cái chân li ti bò qua vòm họng, cào vào hàm trên hàm dưới. Tôi há to miệng nhai sống, chúng kêu "rôm rốp" trong kẽ răng, biến thành món ăn của tôi.
Tuy nhiên, một ổ bọ cạp chẳng thấm tháp gì với cơn thèm khát của tôi. Tôi tiếp tục sục sạo trong bụi rậm nhưng chẳng tìm thêm được con nào nữa.
Vết bọ cạp đốt cũng không nghiêm trọng như tôi tưởng, nó chỉ kịp đốt một phát trước khi chết, may mà không sao.
Tôi tìm được một con thạch sùng và một con nhện.
Thạch sùng cũng nấp dưới cục đất, thấy tôi lật đất lên là nó vắt chân lên cổ mà chạy. Bốn cái chân ngắn tũn, mảnh khảnh của nó chạy nhanh thoăn thoắt trên cỏ, tôi lao tới, một chân giẫm bẹp dí.
Bọ cạp trông đã tởm, thạch sùng trông còn tởm hơn: đôi mắt lồi, lớp da thô ráp xấu xí, cái đuôi dài thườn thượt chẳng cân đối với thân mình, nhìn thôi đã thấy gai người. Thế nhưng, thứ tôi cần nhất lúc này là thức ăn, tôi chẳng màng đẹp xấu, miễn ăn được là được.
Con thạch sùng bị tôi giẫm bẹp, lục phủ ngũ tạng đen sì lòi cả ra ngoài. Tôi lấy một cành cây gạt sạch nội tạng, rồi tìm đến một mạch suối rửa sạch và ăn từng miếng một. Thịt thạch sùng rất dai, nhai sần sật chẳng khác gì gân bò.
Việc ăn nhện còn đòi hỏi một ý chí sắt đá hơn cả ăn thạch sùng.
Vốn dĩ tôi không muốn ăn nhện, hồi nhỏ tôi luôn sợ loài này: hình thù đen ngòm, lông lá xồm xoàm, chân cẳng quờ quạng, đôi mắt lồi ra trông thật đáng sợ, chỉ nhìn thôi đã thấy lạnh sống lưng. Thế nhưng, trong bụi rậm lúp xúp này không có ve sầu, bọ cạp chỉ có một ổ, ngay cả thạch sùng cũng chỉ tìm được một con, còn lại chỉ có con nhện to xác này thôi.
Con nhện chăng lưới ngay cửa hang, một cái lưới khổng lồ vô tiền khoáng hậu. Lúc đầu tôi không thấy nó, chỉ định vào hang nghỉ một lát, ai ngờ đâm sầm vào lưới. Nó cuống cuồng định chạy trốn, ngờ đâu lại trở thành bữa tối của tôi.
Con nhện này to hơn con bọ cạp mẹ kia nhiều, nó nhỏ hơn nắm tay tôi không bao nhiêu. Sợ lúc ăn bị nó cắn, tôi liền đập chết nó lên đá, rồi dùng mảnh gỗ rạch bụng, ép hết thứ nước đen sì trong người nó ra, chắc đó là nọc độc.
Tôi xách con nhện khổng lồ ra suối rửa sạch, rồi nhai nuốt từng miếng. Thịt nhện không giòn như bọ cạp, cũng chẳng dai như thạch sùng, cho vào miệng cứ có cảm giác như đang ăn bánh bao nướng cháy vậy.
Bụng đã không còn đói.
Đừng bảo cái gì không ăn được, khi bạn sắp chết đói, cái gì cũng vào mồm hết, mọi sinh vật trong mắt bạn đều chỉ là thức ăn.
Băng qua bụi rậm, tôi đến một cánh rừng nhỏ. Trong rừng thì đồ ăn thức uống phong phú hơn nhiều: chim bay trên trời, thú chạy dưới đất, chí ít cũng có thể trèo cây móc tổ chim; gan lớn thì ăn chim non, gan nhỏ thì ăn trứng chim.
Lại còn có cả quả rừng.
Rừng già cung cấp nơi trú ngụ và nguồn thức ăn cho muôn loài, bao gồm cả con người.
Tôi tiến về phía một lùm cỏ rậm rạp, bỗng một con chim lớn sặc sỡ bay vụt lên, tiếng kêu của nó chói tai như tiếng mảnh sứ rạch trên mặt sứ. Cứ ngỡ nó sẽ bay đi mất, ngờ đâu nó cứ lượn lờ không rời trên đỉnh đầu tôi. Thấy điệu bộ ấy, tôi bật cười thành tiếng.
Loài chim lớn này là chim Đại Bảo.
Tôi thừa hiểu vì sao nó không chịu đi, chắc chắn trong tổ có trứng hoặc chim non.
Hồi nhỏ ở quê, chuyện này tôi gặp suốt, điển hình nhất là gà rừng. Tổ gà rừng thường nằm ngay trên bãi cỏ, mùa đông, đám nhóc chúng tôi dàn thành hàng ngang đi sâu vào đồng cỏ, nếu gà rừng bị động mà bay lên nhưng không bay xa, chắc chắn trong tổ sẽ tìm được chim non hoặc trứng.
Vốn dĩ tôi chẳng định dẫm vào cỏ, nhưng giờ thì buộc phải vào thôi, vì con Đại Bảo kia đã mách lẻo với tôi rằng trong tổ nó có trứng.
Tôi bước tới, quả nhiên thấy hai quả trứng trong bụi cỏ. Trứng của nó to hơn trứng gà nhiều, trông cứ như quả bóng đá nhỏ vậy.
Lòng tôi mở hội.
Con Đại Bảo tức tối lao vào tấn công tôi, tôi thuận tay nhặt một hòn đá ném tới. Đá trúng cánh, nó tung mình lên cao, lưu luyến bay đi mất.
Tôi thầm nghĩ: "Trứng của nhà ngươi được nằm gọn trong bụng lão nạp đây, cũng là phúc phận tu hành từ kiếp trước rồi."
Hai quả trứng to quá, mang theo kiểu gì bây giờ? Tôi nghĩ ra một kế, cởi phăng cái quần ra, thắt nút ống quần lại, mỗi ống nhét một quả, rồi vắt quần lên vai, hăm hở bước tiếp. Giây phút ấy, tôi cảm thấy mình chẳng khác nào một vị tướng quân khải hoàn.
Hai quả trứng này đủ cho tôi ăn cả ngày mai, thậm chí là hai ngày. Chỉ cần hai ngày nữa thôi, chắc chắn tôi sẽ ra khỏi những dãy núi trùng điệp này, tìm được nơi có hơi người. Chỉ cần có người là tôi sống được.
Đang hăm hở bước đi, thình lình tôi thấy tình hình không ổn. Một con lợn rừng đen trùi trũi, khổng lồ, hai chiếc nanh dài ngoẵng chĩa ra khỏi mồm, đang dẫn theo hai con lợn con đi kiếm ăn. Tôi đứng trên sườn dốc, còn chúng ở phía dưới, cách nhau chừng mười trượng.
Tôi hy vọng con lợn rừng không phát hiện ra mình, liền ngồi thụp xuống để lẩn trốn, nhưng đã muộn. Con lợn rừng khổng lồ dựng đứng lông gáy, kêu "éc éc" rồi lao thẳng về phía tôi. Cái mồm dài của nó húc vào một cái cây to bằng miệng bát, cây gãy răng rắc. Hai con lợn con chạy theo sau, kêu thét lên như để trợ oai cho mẹ.
Tôi hồn xiêu phách lạc, tóc gáy dựng đứng cả lên. Tôi quay đầu chạy trối chết, hai quả trứng trong ống quần rơi xuống đất cũng chẳng buồn nhặt, cứ thế cắm đầu chạy vào rừng sâu. Những hàng cây to cứ lùi dần ra sau, gió rít bên tai vù vù, tôi cứ ngỡ mình chạy nhanh thế này chắc chắn đã cắt đuôi được nó, ai ngờ vừa ngoái lại, con lợn rừng đã áp sát chỉ còn cách vài trượng. Nó điên cuồng lao tới như một cỗ xe ngựa mất lái.
Tôi gào lên thảm thiết, thấy phía trước có một thân cây đổ, tôi đạp lên thân cây mà chạy. Lợn rừng không leo được thân cây, nó phải giảm tốc độ. Tôi chạy dọc theo thân cây một đoạn rồi trèo tót lên một cây đại thụ gần đó, ngồi vắt vẻo trên cành cao, bấy giờ mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Con lợn rừng không cam tâm, nó dùng cái thân hình đồ sộ húc vào gốc cây rầm rầm. Sau đó, nó lại dùng nanh mà gặm rễ cây. Tôi kinh hãi vô cùng, nếu cái cây này bị nó gặm đứt, tôi rơi xuống thì chắc chắn chết không toàn thây, không ngã chết thì cũng bị nó xé xác.
Đang gặm dở, con lợn rừng bỗng dừng lại. Nó ngẩng đầu lên, đôi tai to như cái quạt xoay chuyển nghe ngóng, rồi đột ngột quay đầu chạy ngược lại lối cũ. Ngồi trên cành cây, tôi thấy một bóng thú gì đó đang tha một con lợn con biến nhanh vào bụi rậm, con lợn con kêu thét lên xé lòng.
Tôi mừng húm, đúng là thoát được một kiếp nạn. Con vật cứu mạng tôi là gì nhỉ? Có lẽ là linh cẩu, hoặc là mèo rừng.
Thực ra tôi phải cảm ơn con lợn rừng kia, nếu không có nó, chẳng biết tôi còn phải luẩn quẩn trong vùng Đại Biệt Sơn này đến bao giờ, có khi lại biến thành người rừng cũng nên.
Phía trước có lợn rừng, tôi chẳng dám đi tiếp hướng đó nữa, liền đổi hướng, men theo sườn dốc leo lên đỉnh núi. Tôi biết mỗi loài mãnh thú đều có lãnh địa riêng, xâm phạm vào đó là sẽ bị tấn công. Đổi đường, tránh xa nó ra thì sẽ yên ổn.
Vào buổi hoàng hôn hôm ấy, tôi – trong tình trạng tồng ngồng không một mảnh vải che thân – đã leo lên được đỉnh núi đó. Đứng trên đỉnh cao, tôi nhìn xuống phía dưới, nước mắt bỗng trào ra.
Dưới chân núi là một thị trấn, đèn lửa sáng trưng, lấp lánh như ngàn sao trên bầu trời.
Cuối cùng, tôi cũng đã vô tình mà thoát khỏi Đại Biệt Sơn.