Tổ Bịp
- 7334 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 43. Cạm bẫy trùng trùng
Chúng tôi tiếp tục tiến về phía trước, vừa leo lên một con dốc thoai thoải, bỗng nghe thấy tiếng Yến Tử thốt lên kinh ngạc ở phía trước. Chẳng biết đã xảy ra chuyện gì, tôi vội vã chạy lên xem sao.
Vừa lên tới đỉnh dốc, chính tôi cũng không nén nổi tiếng kêu kinh ngạc. Trước mắt là một cánh đồng cỏ mênh mông bát ngát, rập rờn theo gió như sóng lúa chín, lại tựa như những đợt sóng biển cuồn cuộn không đầu không cuối. Cả cánh đồng mang một sắc vàng kim, phủ kín một loài cỏ duy nhất. Loài cỏ này rất giống cỏ đuôi chó ở trong quan nội, nhưng cao hơn; lại cũng có nét giống cỏ lau, nhưng thấp hơn một bậc. Trên cánh đồng cỏ nhìn không thấy điểm dừng ấy điểm xuyết những bông hoa li ti như tinh tú. Những đóa hoa xanh thẫm nở rộ dưới ánh mặt trời, lấp lánh như vô số viên ngọc bích.
Suốt dọc đường đi, tôi chưa từng thấy Yến Tử vui vẻ như vậy. Giờ đây, gương mặt trắng ngần của nàng ửng hồng vì xúc động. Nàng phấn khích như con trẻ, chạy ùa vào giữa đồng cỏ, xoay tròn và cất tiếng hát vang.
Lão khất cái trắng bảo, loài cỏ này tên là châm mao, chỉ vùng Tái Bắc mới có. Châm mao chia làm hai loại: châm mao thảo nguyên và châm mao sa mạc. Nếu là châm mao thảo nguyên thì chứng tỏ khí hậu vùng này rất tốt; còn nếu là châm mao sa mạc thì có nghĩa là sắp tới vùng hoang mạc rồi.
Lão lại bảo, loài hoa xanh kia gọi là thúy tước, cũng là sản vật của Tái Bắc. Cái tên nghe như tên chim, nhưng thực chất lại là hoa. Thúy tước còn có tên là hoa nàng dâu. Nếu cô gái nào đem lòng yêu một chàng trai, nàng sẽ hái một đóa thúy tước dắt vào bên cạnh yên ngựa của người đó. Nếu chàng trai đương diện thu lấy đóa hoa, nghĩa là phải cưới cô gái ấy làm vợ, tuyệt không được hối hận. Nếu chàng trai không thu lấy ngay mà vẫn để hoa trên yên ngựa, điều đó cho thấy hai người sẽ còn tiến triển thêm. Còn nếu gã thuận tay vứt xuống đất, tức là không nhìn trúng cô gái kia.
Tôi lấy làm lạ, không hiểu sao người thảo nguyên ngoài quan ngoại lại để nữ tử chủ động theo đuổi nam tử, hoàn toàn khác biệt với người trong quan nội chúng tôi. Ở trong quan, nếu nữ tử chủ động bày tỏ tình cảm sẽ bị coi là lẳng lơ, sau này rất khó lấy chồng.
Tôi chợt nhớ lại cảnh tượng lúc còn đi học ở tư thục, khi tiên sinh giảng về Kinh Thi có nói thời ấy nữ tử cũng theo đuổi nam tử. Giờ đây trên thảo nguyên cũng vậy. Có lẽ cái việc người trong quan nội coi nữ tử theo đuổi nam tử là lẳng lơ bắt đầu từ thời Khổng Tử. Lão Khổng kia thực chẳng ra gì, những lời lão nói đã đầu độc người trong quan bao nhiêu năm trời, đến tận bây giờ vẫn còn di hại. Lão không cho người ta làm cái này, chẳng cho làm cái kia, bắt người ta phải phục tùng nghe lời, biến tất thảy thành nô lệ.
Giữa cảnh sơn hà loạn lạc, chỉ có vẻ đẹp của đại tự nhiên mới khiến lòng người xao động. Tôi đứng giữa cánh đồng cỏ, nhìn từng đàn hồng nhạn bay qua bầu trời xanh biếc như gột rửa, cảm giác như chính mình cũng đang sải cánh bay cùng chúng, nhẹ nhõm và tự tại vô ngần.
Bên lề đường mọc lên vài khóm cây cao quá đầu người, trổ những bông hoa tím tuyệt đẹp. Tôi vô thức bước tới định hái, đột nhiên lão khất cái đen hét lớn: "Đừng động vào, đừng động vào!"
Tôi quay đầu hỏi: "Có chuyện gì thế?"
Lão đáp: "Đây là lê lư, có kịch độc, là loài độc vật đặc trưng trên thảo nguyên. Ngay cả trâu bò chỉ cần ăn một miếng cũng sẽ sùi bọt mép mà lăn ra chết."
Nghe vậy, tôi vội vã lùi lại mấy bước, giấu hai tay ra sau lưng.
Lão khất cái đen nói tiếp: "Đã là người lăn lộn giang hồ thì phải am tường mọi quy tắc, kiến thức các phương diện đều phải phong phú. Cậu phải biết nhìn mây mà đoán thời tiết, biết phân biệt thực phẩm nào ăn được, phải nhạy bén nhận ra nguy hiểm đang cận kề, lại còn cần một thân thể tráng kiện và võ nghệ tinh thông."
Nhớ lại những lời đồn đại trên giang hồ trước đây, tôi hỏi lão: "Cái Bang thực sự cũng luyện võ công sao?"
Lão khất cái đen cười bảo: "Tất nhiên rồi, cậu đừng thấy người của Cái Bang nhếch nhác, yếu ớt mà lầm. Một khi đã ra tay, cậu chưa chắc đã là đối thủ của họ đâu."
Tôi thấy vô cùng tò mò: "Cái Bang luyện quyền thuật gì vậy?"
Lão lắc đầu: "Hôm nay tôi nói thế là quá nhiều rồi, không thể nói thêm nữa."
Tôi nài nỉ: "Sư tổ của tôi là Lam can tử, tôi cũng là người của Cái Bang nhà mình rồi còn gì. Ông cứ bảo cho tôi biết mấy cái quy tắc này đi, để sau này tôi đỡ đi đường vòng."
Lão khất cái đen cười hì hì: "Cũng bởi thấy thằng nhãi cậu là đứa có lương tâm, ở Phổ Gia Bảo đã cho chúng tôi ngồi cùng mâm ăn cơm nên tôi mới bằng lòng nói cho cậu biết. Cái Bang quả thực có luyện quyền thuật, vốn thoát thai từ Thiếu Lâm quyền."
Càng nghe tôi càng thấy thần kỳ, quyền thuật Cái Bang lại có cùng nguồn gốc với Thiếu Lâm, thật khiến người ta kinh ngạc.
Lão khất cái đen nói: "Người của Cái Bang đặc biệt coi trọng võ đức. Muốn luyện quyền thuật trong bang, trước tiên phải đi hành khất ba năm, không làm việc ác mới có tư cách luyện tập. Cái Bang quyền thuật có quy tắc 'Tám không đánh'."
Tôi hỏi: "Tám không đánh là gì?"
Lão giải thích: "Hễ đã luyện quyền pháp Cái Bang thì có tám loại người tuyệt đối không được đánh: già, yếu, phụ nữ, trẻ con, nhà sư, đạo sĩ, người cùng nghề và người quen."
Thật không ngờ Cái Bang lại có nhiều quy tắc giang hồ đến thế.
Lão tiếp tục: "Mới vào bang phải đi xin ăn ba năm, không có vết nhơ mới được dạy quyền. Ban đầu luyện Đại Tiểu Hồng quyền của Thiếu Lâm, khi đã có nền tảng nhất định mới luyện đến Hầu quyền và A Ma Đường Tường quyền."
Đại Tiểu Hồng quyền và Hầu quyền thì tôi đã nghe danh, cũng từng thấy người ta luyện, duy chỉ có A Ma Đường Tường quyền là chưa nghe bao giờ. Đó là loại quyền pháp gì mà tên gọi lại kỳ quái đến vậy?
Lão khất cái đen giảng giải: " 'A ma đường tường' là một câu hắc thoại giang hồ, nghĩa là 'người mù xây tường'. Cậu thử nghĩ xem, người mù xây tường sẽ là cảnh tượng thế nào? Nhất định phải vững, chuẩn và hiểm. Thế nên A Ma Đường Tường quyền không có bài bản bộ lộ, chỉ có tám mươi tám động tác, nhưng chiêu nào chiêu nấy đều đoạt mạng, một đòn hạ gục kẻ thù."
Tôi lại hỏi: "Giang hồ đồn đại Cái Bang có Đả Cẩu Bổng pháp, có thật không ông?"
Lão khất cái đen gật đầu: "Thật chứ sao không. Đả Cẩu Bổng pháp thực chất là một môn côn pháp tinh diệu, chỉ bậc tiền bối cỡ sư tổ cậu mới được truyền dạy. Hạng hành khất tầm thường làm sao có phúc phận được chiêm ngưỡng bổng pháp ấy?"
Nghe lão nói vậy, trong lòng tôi trào dâng niềm kính trọng đối với Cái Bang. Trước đây tôi vốn coi khinh họ, cho rằng họ vừa nghèo vừa bẩn, chẳng ngờ bên trong lại ẩn chứa nhiều bí mật đến thế.
Lão vừa dứt lời thì nghe tiếng lão khất cái trắng gọi ở phía trước: "Đi nhanh lên, phía trước có cây du già, đến dưới gốc cây đó là nghỉ ngơi được rồi."
Chúng tôi rảo bước, quả nhiên thấy một cây du già cổ thụ. Dưới gốc cây có mấy gã đàn ông đang ngồi. Thấy chúng tôi tiến lại, bọn chúng lộ vẻ vui mừng. Còn tôi vừa nhìn thấy họ đã biến sắc sợ hãi, bởi trong tay bọn chúng đều lăm lăm những con dao sáng loáng.
Giữa thảo nguyên mênh mông này, chỉ có mã phỉ mới cầm dao trong tay.
Lá cây du nhỏ xíu, có vị đắng nhẹ, có thể ăn được. Vỏ cây du thô ráp, nghiền thành bột cũng ăn được. Trong những năm tháng đói khổ trước đây, không ít người đã giữ được mạng nhờ lá và vỏ cây này. Lá du đặt trong miệng có thể thổi ra âm thanh lanh lảnh. Người trên thảo nguyên thường dùng âm thanh này để truyền tin, mỗi nhịp điệu lại mang một ý nghĩa khác nhau.
Một gã đàn ông vừa thổi lá du vừa tiến về phía chúng tôi, mấy gã còn lại lững thững theo sau. Bọn chúng đi đứng rất tản mạn, dáng vẻ lỏng lẻo, rõ ràng chẳng coi chúng tôi ra gì.
Đến khi cách chừng bốn năm trượng, chúng dừng bước. Gã thổi lá du nhổ miếng lá xuống đất, khạc một bãi đờm rồi chửi đổng: "Mẹ kiếp, xúi quẩy thật, lại đụng phải mấy thằng ăn mày."
Đoạn, hắn xua tay đuổi khéo: "Đi đi đi, cút mau cho khuất mắt."
Chúng tôi cúi đầu, vội vã đi lướt qua họ. Vừa qua khỏi cây du chừng mười mét, phía sau đột nhiên vang lên tiếng quát: "Đứng lại! Đứng lại mau! Bọn mày là hạng người nào?"
Bọn chúng xách dao đuổi theo. Tôi khựng lại, chắn Yến Tử ra sau lưng, dùng hắc thoại giang hồ đáp trả: "Đều là anh em chung chậu cơm, có gì từ từ nói."
Bọn chúng ngơ ngác nhìn tôi, không hiểu tôi đang nói cái quái gì. Tôi đoán bọn này hoặc là lính mới mới vào nghề chưa thạo tiếng lóng, hoặc là đám ô hợp tụ tập lại đi cướp bóc nhất thời.
Lão khất cái trắng tiến lên nói: "Chúng tôi chỉ là kẻ đi xin ăn thôi."
Gã thổi lá du cười gằn: "Mày định lừa đôi mắt này của ông chắc? Quân ăn mày hôi hám mà lại dắt theo được con đàn bà xinh xẻo thế kia à?"
Hắn dùng mũi dao chỉ thẳng vào Yến Tử. Tay Yến Tử đã thọc sâu vào túi áo, mắt vờ nhìn đi chỗ khác nhưng dư quang vẫn khóa chặt gã kia. Tôi biết trong túi nàng có phi tiêu, chỉ cần vung tay là có thể đẩy lui đối thủ.
Thấy vậy tôi cũng vững tâm, cố ý dùng hắc thoại mắng gã: "Mở to mắt chó ra mà nhìn, đậu hoa tử này là mẹ mày, còn ông đây là bố mày đấy!"
Đám người kia nghe không hiểu, lại còn trách tôi lảm nhảm, ra vẻ ta đây. Chúng chỉ vào tôi bảo: "Cái thằng mặt đần này lắm mồm quá, còn giả vờ như mình có súng, chém chết mẹ nó trước đi."
Mấy đứa nhao nhao định xông lên, lão khất cái đen vội can: "Đây là con trai và con dâu lão, chúng tôi đi thăm thân về, xin các vị hảo hán cao xanh đức dày, giơ cao đánh khẽ."
Một gã quát: "Ba thằng tụi mày đi đi, để con mụ này lại đây cho bọn tao."
Đám còn lại hăm hở tiến tới định bắt lấy Yến Tử. Khuỷu tay Yến Tử đã nâng cao, tôi biết nàng sắp ra thủ đoạn. Chỉ cần nàng ra tay, chắc chắn sẽ có kẻ ngã xuống.
Lão khất cái đen lại nói: "Các vị thấy thế này được không? Các vị lăn lộn giang hồ chắc hẳn đều có võ nghệ. Lão già này cũng học lỏm được vài chiêu mèo cào, hay là chúng ta đấu đơn, không dùng đao súng. Trong các vị ai đánh bại được lão, cứ việc dắt con dâu lão đi."
Đám cướp nghe vậy thì khoái chí, chúng liếc nhìn lão khất cái đen gầy gò, đứa nào cũng tranh nhau ra tay trước. Cuối cùng, một gã lực lưỡng bước ra, bày ra tư thế vật lộn, khom lưng uốn gối, người lắc lư qua lại, chân dậm đất thình thịch.
Lão khất cái đen đứng đó hết sức tùy ý, trông chẳng giống người biết võ công chút nào. Gã lực lưỡng lồng lên định chộp lấy cánh tay lão, lão chỉ nghiêng mình xoay eo một cái, gã kia đã bay xa tới ba bốn trượng.
Tôi kinh ngạc há hốc mồm. Lão khất cái đen nháy mắt với tôi, dõng dạc nói: "Đây là chiêu thứ nhất của A Ma Đường Tường quyền: Bạt thảo tầm xà."
Tôi hiểu ý lão, lão đang muốn chứng minh cho tôi thấy trên đời thực sự có môn quyền pháp này, và quả thực nó có thể một đòn chế địch.
Đám người kia kinh hãi nhìn nhau, không ngờ lão già đen nhẻm này vừa giao thủ đã quăng gã to béo kia đi xa đến thế. Chúng xầm xì bàn tán, không ai dám bước lên nữa.
Gã lực lưỡng lồm cồm bò dậy, mặt đỏ tía tai vì không phục: "Vừa rồi không tính! Tao chưa chuẩn bị kỹ, làm lại, làm lại ngay!"
Lão khất cái đen vẫn đứng đó với vẻ uể oải như chưa tỉnh ngủ. Lần này gã kia không nhảy nhót nữa mà lao thẳng tới định ôm ngang hông lão. Lão xoay người nhanh như chớp, bồi thêm một chưởng vào mông gã. Gã lực lưỡng lại bay vèo ra chỗ cũ. Lão nhìn tôi bảo: "Đây là thức thứ hai: Thôi ba trợ lạn."
Lần này gã kia ngã đau hơn, bò dậy mà nộ khí xung thiên. Hắn vớ lấy thanh đao, vung tròn như chong chóng chém về phía lão. Lão đột ngột hạ thấp trọng tâm, tung một cú tảo đường cước làm gã ngã sấp mặt. Lần này lão không giảng giải nữa, một chân dẫm lên cổ gã, quát: "Thật là chán sống, không biết điều. Muốn chết thì lão tử thành toàn cho!"
Mấy gã đứng xem thấy lão chỉ dùng đúng một chiêu đã hạ gục đồng bọn, giờ đây tính mạng gã kia nằm gọn dưới bàn chân lão, chỉ cần lão vận lực là gã về chầu ông vải. Chúng lăm lăm dao định lên cứu nhưng lòng đầy sợ hãi.
Đột nhiên, một gã tóc mai lốm đốm bạc vứt dao, quỳ sụp xuống: "Hảo hán gia, xin tha cho thằng nhỏ một mạng. Nó nhất thời ngu muội, mạo phạm hổ uy của ngài."
Mấy đứa còn lại cũng lục tục quỳ theo. Lão khất cái đen nhấc chân khỏi cổ gã lực lưỡng, mắng: "Xem ra bọn mày cũng không phải phường thảo khấu chuyên nghiệp, đang yên đang lành không lo làm ăn, sao lại đi làm trò cướp giật này?"
Gã tóc mai bạc thưa: "Chúng tôi là thương nhân buôn ngựa ở Bảo Định, trên đường về bị quân Nhật cướp sạch cả ngựa lẫn tiền, không còn đường về nên mới nảy ra ý định làm càn."
Lão khất cái trắng giáo huấn: "Oan có đầu, nợ có chủ. Người Nhật cướp ngựa của chúng bay sao không đi tìm chúng mà tính sổ, lại ở đây chặn đường cướp của người mình? Thế mà cũng đòi làm đàn ông à?"
Bọn chúng rối rít gật đầu lia lịa: "Gia dạy phải, gia dạy phải ạ!"
Đoạn, cả bọn xách dao ôm đầu chạy mất dạng.
Nhìn chúng chạy xa, tôi hỏi lão khất cái đen: "A Ma Đường Tường quyền lợi hại đến thế sao? Ông học của ai vậy?"
Lão chưa kịp đáp thì lão trắng đã chen vào: "Học của tôi đấy."
Tôi ngơ ngác nhìn lão trắng. Lão kể: "Hai chúng tôi trước sau đều đi làm ăn mày. Năm nhà Thanh sụp đổ là tôi đã ra ngoài bôn ba, nhập Cái Bang học quyền pháp. Sau này về nhà kể cho lão nghe, lão mê quá nên cũng đi theo. Lão vào bang là do tôi giới thiệu, quyền pháp cũng là tôi dạy cho."
Tôi nhìn lão đen bằng ánh mắt dò hỏi, lão chỉ cười hì hì.
Lão trắng quay sang bảo lão đen: "Mấy chiêu vừa rồi của ông vẫn chưa đạt đâu."
Lão đen gật gù: "Phải, phải, vẫn còn kém lắm."
Tôi thốt lên: "Thế mà còn bảo chưa đạt? Một chiêu đoạt mạng, thiên hạ đào đâu ra môn võ nào tốt hơn thế nữa?"
Lão trắng ôn tồn: "Người Cái Bang chúng tôi ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, bữa đói bữa tạt, sức vóc sao bì được với người ta? Thế nên khi động thủ không được dùng sức mạnh cơ bắp mà phải dùng mưu mẹo, dùng kình lực khéo léo. Tám mươi tám chiêu A Ma Đường Tường quyền cốt ở chỗ mượn lực đánh lực, đối phương dùng lực càng mạnh thì ngã càng đau."
Lão đen gật đầu: "Tôi hiểu rồi."
Hai lão khất cái đen trắng tuy là anh em song sinh nhưng tính tình khác hẳn nhau. Lão trắng trông nho nhã như thầy đồ, lão đen lại đậm chất lãng tử giang hồ. Lão trắng đi đứng khí thế hiên ngang, lão đen đi đứng lại vội vàng hối hả. Người xưa bảo: Long sinh cửu tử, cửu tử bất đồng, quả thực không sai.
Suốt chặng đường, tôi mải miết thỉnh giáo hai lão về các quy tắc giang hồ của Cái Bang, chuyện trò rôm rả không dứt. Đột nhiên, Yến Tử như lẩm bẩm một mình: "Quân Nhật tới rồi, không biết sư tổ giờ ra sao?"
Lòng tôi chợt dâng lên nỗi xấu hổ tột cùng. Viên kim cương lớn là do tôi làm mất, sư tổ bặt vô âm tín, Tấn Bắc bang tan tác như mây khói, vậy mà nãy giờ tôi lại cười nói hân hoan, quên khuất mất mục đích đến Tái Bắc, quên đi sứ mệnh nặng nề trên vai.
Tôi bước tới nắm lấy tay nàng: "Em yên tâm, chúng ta nhất định sẽ tìm được sư tổ."
Nhìn đôi mắt nàng đong đầy sầu muộn, tôi thấy tự trách vô cùng. Hổ Trảo đã giao phó nàng cho tôi, vậy mà tôi lại chẳng thể mang đến cho nàng niềm vui.
Chúng tôi đi ròng rã nhiều ngày trên thảo nguyên Tái Bắc. Cỏ thưa dần, cây cối thấp lùn đi, cuối cùng mặt đất chỉ còn trơ lại cát mịn và những hòn đá to bằng nắm tay. Tuy nhiên, đi thêm một đoạn lại thấy hồ nước trong vắt và những bụi cây thấp. Lão trắng bảo: "Sắp đến Đa Luân rồi."
Tôi hỏi: "Đa Luân nằm trên sa mạc sao?"
Lão đáp: "Đa Luân nằm ven rìa bãi cát. Vùng cát này gọi là Hồn Thiện Đạt Khắc, theo tiếng Mông Cổ nghĩa là Cô Câu."
Tôi hỏi: "Cô câu là gì?"
Lão giải thích: "Là một con ngựa cô độc."
Tôi thầm nhủ: "Biết đâu sư tổ đang ở trong thành Đa Luân."
Đi giữa vùng cát nửa ngày trời, thời tiết bắt đầu oi bức, nắng soi xuống cát khiến người ta nhức mắt. Phía xa dường như xuất hiện một đoàn người cưỡi ngựa, bóng dáng chập chờn thực hư, tôi cứ ngỡ mình bị ảo giác. Lão trắng đột nhiên quát: "Nấp mau!"
Hai lão chạy biến sang một gò cát gần đó, tôi dắt tay Yến Tử chạy theo.
Nấp sau gò cát nhìn ra, tôi bàng hoàng nhận ra đó là lính Nhật. Chúng cưỡi ngựa, phía sau kéo theo những cỗ xe lớn chở đầy thương binh. Tiếng rên rỉ của chúng lúc bổng lúc trầm, vang xa cả dặm cũng nghe thấy.
Lão trắng thì thầm: "Phía trước chắc chắn đang đánh nhau to."
Quả thực là có chiến sự, vì số binh lính bị thương không phải một hai tên mà chất đầy mười mấy xe lớn. Đám lính Nhật khóc cha gọi mẹ, nằm vật ra xe như lợn bị chọc tiết, phát ra những tiếng hú hét ghê người. Hồi nhỏ ở quê tôi, người ta mang lợn ra chợ bán thường trói chúng lên xe kéo, dọc đường chúng cứ gào rú y hệt như vậy.
Đợi quân Nhật đi khuất, chúng tôi mới tiếp tục lên đường. Vùng cát này thật lạ kỳ, bảo nó là sa mạc thì đi một đoạn lại thấy hồ nước; bảo là thảo nguyên thì lại đầy những bãi cát vàng.
Lão trắng bảo xuyên qua vùng cát này, đi về phía nam là tới Đa Luân. Năm nào hai lão cũng đến đó nên có nhiều người quen, tới nơi sẽ nhờ họ dò la tin tức sư tổ.
Phía trước xuất hiện một vạt rừng sa liễu đặc trưng của thảo nguyên. Sa liễu không cao, thường chỉ tầm ba bốn mét, nhưng rễ của nó dài tới cả trăm mét, cắm sâu vào lòng đất ẩm ướt. Người thảo nguyên đều biết sa liễu có "ba không chết": hạn hán không chết, gió cát không chết, trâu bò gặm không chết. Dù có bị lột sạch vỏ, nó vẫn kiên cường sinh trưởng. Sức sống của loài cây này thật đáng nể.
Hai lão khất cái đề nghị nghỉ chân trong rừng liễu, tôi bảo Yến Tử nghỉ ngơi còn mình đi thám thính phía trước. Cuộc chạm trán quân Nhật vừa rồi khiến tôi vẫn còn kinh hãi, lo rằng phía trước sẽ lại có biến.
Xuyên qua rừng sa liễu, thấy một cây du cao vút, tôi bèn leo lên. Ở vùng thảo nguyên và sa mạc này, cây du và sa liễu là phổ biến nhất. Cây du cũng là loài chịu hạn cực tốt.
Ngồi trên chạc cây nhìn xa, không thấy dấu hiệu gì khả nghi, chỉ thấy một con cáo với đôi tai to dài trông rất nổi bật trên nền cát, phía sau kéo theo cái đuôi dài thượt. Nó vừa đi vừa dừng, dáo dác tìm thức ăn. Cáo vốn là loài ăn thịt, nhưng lúc đói quá thì kiến hay côn trùng cũng chẳng tha.
Sinh vật sống ở nơi sa mạc này chẳng có loài nào là dễ dàng cả.
Con cáo vừa đi vừa ngửi, rồi chậm rãi tiến đến dưới gốc cây du. Nó quay mông về phía thân cây định cọ ngứa. Thấy nó, tính ham chơi thuở nhỏ trong tôi bỗng trỗi dậy. Tôi từ trên cây tung người nhảy xuống, định dẫm lên nó.
Thế nhưng thính giác của nó quá nhạy bén. Tôi vừa rời cành cây, thân thể va chạm nhẹ với vỏ cây xù xì phát ra tiếng động khẽ là nó đã bắt được sóng. Chẳng thèm ngoảnh đầu lại, nó lao đi như một mũi tên.
Đáp xuống đất, tôi nhặt một hòn đá ném theo. Hòn đá xé gió bay trúng đuôi nó. Nó quay đầu lại nhìn tôi, nhăn mũi, tặng cho tôi một cái nhìn đầy khinh bỉ. Cảm thấy bị sỉ nhục, tôi điên tiết đuổi theo.
Cáo chạy nhanh như một làn khói, tôi cũng đuổi theo như một cơn gió. Được vài chục mét, con cáo bỗng nhiên mất hút.
Thấy kỳ lạ, tôi chạy tới thì thấy trước mặt là một hố sập sâu mấy mét. Dưới hố cắm đầy chông gỗ nhọn hoắt, con cáo rơi xuống đã bị đâm xuyên bụng chết tươi. Miệng hố vốn phủ một lớp cỏ khô giờ đã sụp xuống.
Quái lạ, ai lại đặt hố sập ở đây? Vùng cát này thú rừng hiếm hoi, cả buổi chẳng thấy một bóng, đào hố ở đây chẳng phải là "thắp đèn cho người mù" sao?
Tìm kiếm xung quanh, tôi lại phát hiện ra điều bất thường khác: quanh hố sập rải đầy thiết tật lê. Tật lê là loài cây ở nông thôn phương Bắc, bốn mặt đầy gai, loài vật nào cũng sợ, ngay cả hổ báo đạp trúng cũng phải chảy máu bị thương. Thiết tật lê là thứ do thợ rèn đúc ra giống hệt quả tật lê, thường dùng rải dưới chân tường vào ban đêm để phòng trộm. Ở một vài nơi phía Bắc, nó còn gọi là trạc mã đinh (đinh đâm chân ngựa). Ngựa chiến đạp vào chắc chắn sẽ lật nhào.
Ở đây vừa có hố bẫy ngựa, vừa có trạc mã đinh, rõ ràng là chuyên dùng để đối phó với kỵ binh. Vậy ai là người đã bày ra những thứ này?
Đoàn lính Nhật bị thương lúc nãy, phải chăng là đã dính bẫy ở vùng này?
Tôi quay lại rừng sa liễu kể lại mọi chuyện cho mọi người. Cả ba đi theo tôi đến bên hố sập.
Lão trắng cúi xuống quan sát kỹ rồi bảo: "Những hố này đều mới đào gần đây, nhìn xem, lớp đất dưới cùng vẫn còn ẩm."
Tôi hỏi: "Ai lại đào hố ở đây nhỉ?"
Lão lắc đầu: "Chịu."
Yến Tử bỗng lên tiếng: "Cái này là để đối phó với lính Nhật. Đa Luân chắc đang có chiến tranh."
Lão trắng hỏi: "Sao em biết?"
Yến Tử giải thích: "Ông bảo qua vùng cát này là tới Đa Luân. Người chăn dê chỉ chọn nơi cỏ tươi tốt chứ chẳng ai dại gì vào vùng cát này chăn thả, nên hố này chắc chắn không phải dành cho dân du mục. Muốn từ Xích Phong đến Đa Luân, vùng cát này là con đường tất yếu. Quân Nhật đã chiếm Xích Phong, mục tiêu tiếp theo chắc chắn là Đa Luân, vậy nên hố này là để chặn đường bọn chúng."
Lão trắng lại hỏi: "Thế còn chuyện Đa Luân đang đánh nhau?"
Yến Tử tiếp lời: "Lúc nãy chúng ta thấy lính Nhật tháp tùng thương binh. Đa Luân là thành phố lớn, quân Nhật tấn công sẽ không chỉ có bấy nhiêu người. Chúng chở thương binh về Xích Phong ở xa thay vì vào Đa Luân ở gần, chứng tỏ Đa Luân vẫn chưa bị chiếm. Thương binh trên chiến trường chỉ có thể chuyển về hậu phương, mà hậu phương chính là Xích Phong."
Nghe nàng phân tích, lão đen gật đầu tán thưởng: "Con bé này thông minh thật, hơn hẳn cái thằng chồng đần của cháu."
Nói xong lão chợt nhận ra mình lỡ lời, vội quay đi chỗ khác.
Tôi chẳng thấy tự ái, trái lại còn mừng thầm. Yến Tử vốn dĩ lúc nào cũng thông minh hơn tôi, cưới được nàng là phúc phận của đời tôi.
Phía trước đầy hố sập và trạc mã đinh nên không thể đi tiếp. Hố được phủ cát và cỏ khô, đạp trúng là tan xác; trạc mã đinh giấu trong cỏ, giẫm vào không chết vì mất máu thì cũng chết vì phong đòn gánh. Muốn phá giải hố sập chỉ có cách dùng ván gỗ dày bắc qua; còn muốn tránh trạc mã đinh thì chỉ có nước lết chân sát mặt đất mà đi.
Chúng tôi quay lại rừng sa liễu, chọn hướng khác để đi vòng qua vùng cạm bẫy.
Hết rừng sa liễu là tới một cánh rừng du. Cây du cao lớn hơn sa liễu, dưới gốc cỏ mọc cao đến đầu gối. Vùng Hồn Thiện Đạt Khắc này kỳ lạ ở chỗ đó: đi vài dặm là sa mạc, vài dặm lại là thảo nguyên, thêm vài dặm nữa lại thấy hồ nước.
Đi trong rừng du, bốn bề tĩnh lặng như tờ. Nắng chiều xiên khoai đổ bóng những thân cây xuống mặt đất, chúng tôi đi giữa những vệt bóng ấy, cảm thấy một sự rợn ngợp và quái dị khó tả.
Lão trắng đi đầu bỗng giơ tay ra hiệu dừng lại. Tôi rón rén bước tới. Lão thì thầm: "Có cơ quan."
Lão ngồi xuống, tôi cũng ngồi theo. Cách chân lão chừng nửa mét có một sợi dây mảnh căng ngang giữa hai gốc cây, màu dây y hệt màu cỏ khô, không nhìn kỹ tuyệt không thấy được. Lão đứng dậy chỉ tay lên trên, tôi nhìn theo, qua lớp lá dày thấy trên chạc cây du bên cạnh đặt một chiếc sọt tre.
Tôi hỏi: "Cơ quan gì vậy?"
Lão giải thích: "Sợi dây dưới chân nối với sọt tre trên kia. Người không biết đi qua sẽ làm đứt dây, sọt tre trên đầu sẽ úp xuống ngay lập tức."
"Trong sọt có gì?"
"Có kẻ để đá tảng, có kẻ lại để độc sa."
Độc sa? Lần đầu tôi nghe thấy cái tên này.
Lão nói tiếp: "Đem ngũ độc gồm bọ cạp, rết, cóc, rắn độc, nhện bỏ vào nồi gang giã nát, trộn với cát mịn, đảo đều trên lửa suốt một canh giờ. Cát ấy sẽ thành độc sa, chỉ cần một hạt dính vào da là sẽ lở loét, vô phương cứu chữa."
Tôi nghe mà rùng mình, không ngờ trên đời lại có thứ tàn độc đến thế.
Rừng du xanh rì bạt ngàn, người đặt cơ quan chắc chắn không chỉ đặt một chỗ. Nơi này trùng trùng cạm bẫy, tốt nhất là nên lui ra.
Chúng tôi men theo bìa rừng du mà đi tiếp. Phía trước là một con mương sâu, chúng tôi đi dọc theo mương, đến lúc hoàng hôn thì đột nhiên chạm trán một nhóm lính Nhật ở ngã ba đường.
Ngay khi chúng tôi phát hiện quân Nhật thì lính gác của chúng cũng đã thấy chúng tôi. Chúng xách súng lao tới, mồm mép xì xồ kêu la. Lão trắng bảo tôi và Yến Tử: "Chạy sang trái, nhảy xuống mương mau!"
Tôi lo lắng: "Thế còn hai ông?"
Lão trắng đá vào mông tôi một cái, quát: "Chạy đi, còn đợi cái gì!"
Theo bản năng, tôi nắm tay Yến Tử nhảy xuống mương sâu. Chạy được một đoạn, tôi thấy hai lão đen trắng đứng trên mương hét lớn nhử địch: "Lão tử ở đây này, lại đây, mẹ kiếp quân chúng mày lại đây!"
Tiếng súng nổ chát chúa, đạn bay vèo vèo trên đầu mương, tiếng vang vọng mãi không dứt. Hai lão chạy dọc theo mép mương, phía sau là mấy tên lính Nhật lăm lăm súng dài đuổi theo.
Bọn chúng bị dẫn dụ vào sâu trong rừng du.
Rừng du tối mịt, bước bước là cạm bẫy, nguy hiểm trùng trùng.
Chúng tôi nấp dưới mương, nghe tiếng gió rít qua mép mương như tiếng dây thép, nghe bên rừng du vọng lại những âm thanh rùng rợn: tiếng súng nổ như rang lạc, tiếng kêu la thảm thiết xé lòng. Trong cánh rừng ấy chắc chắn đang diễn ra những chuyện kinh khủng lắm.
Trên mương, tiếng chân chạy rầm rập. Có toán lính Nhật cầm đuốc chạy qua, ánh lửa soi rõ những chiếc mũ vải và giày da của chúng, chắc là quân chi viện. Tôi chẳng biết chuyện gì đang xảy ra, cũng chẳng biết hai lão khất cái ra sao. Lính Nhật trang bị đầy mình, dù hai lão có bản lĩnh đến đâu cũng lành ít dữ nhiều.
Khi đám lính chi viện lao vào rừng, lại có tiếng gào rú xé quai hàm vọng ra. Những tên lính còn sống sót hốt hoảng chạy trối chết, mồm mép xì xồ không hiểu nói gì.
Tiếp đó, pháo nổ vang trời. Tiếng nổ lấp đầy con mương, kèm theo đó là hỏa quang ngút trời. Khói đặc tỏa ra, cỏ khô bùng cháy dữ dội.
Sau khi pháo ngưng nổ một hồi lâu, lửa mới dần tắt. Phía trên mương vang lên tiếng lính Nhật hò dô, một toán quân lại tiến vào rừng du.
Lần này rừng du lặng ngắt, không còn một tiếng kêu nào nữa.
Tôi nghĩ chắc hai lão chết rồi, nước mắt cứ thế trào ra.
Quá nửa đêm, vùng Hồn Thiện Đạt Khắc chìm vào giấc ngủ sâu. Trên mương không còn tiếng lính Nhật, cũng chẳng có lấy một ánh đèn. Trên cao, ánh trăng mờ nhạt bị mây dày che lấp, trông như chiếc đèn lồng giấy nhợt nhạt, tưởng như gió thổi là bay mất.
Sau đó trăng mất hút, từ xa vọng lại những âm thanh trầm đục như tiếng bánh xe khổng lồ lăn qua lòng đất, lại như tiếng sấm trước cơn mưa bóng mây. Âm thanh ấy áp sát trong bóng tối như thiên binh vạn mã, như sóng biển cuộn trào, như vạn cánh chim bồ câu vỗ cánh. Tôi vừa định hỏi Yến Tử đó là tiếng gì thì một luồng gió cát cực mạnh tràn thẳng vào miệng, người tôi như chiếc lá sắp bị thổi bay. Yến Tử đứng không vững, tôi vội đẩy nàng xuống rồi nằm đè lên bảo vệ.
Nằm dưới hố sâu, tôi cảm giác như có hàng vạn bước chân đang chạy loạn trong bóng tối, giẫm qua lưng, qua cổ, qua chân tôi. Tôi muốn vùng vẫy nhưng lực bất tòng tâm.
Cả trời đất chỉ toàn tiếng gió hú, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng gào thét căm hờn. Tai tôi ban đầu còn nghe thấy tiếng cát sột soạt, sau thì hoàn toàn tê liệt.
Chẳng biết bao lâu sau, có lẽ chỉ một lát, cũng có lẽ cả canh giờ, cơn cuồng phong biến mất trong màn đêm như một con rắn lẩn khuất. Vầng trăng rụt rè lộ ra nửa khuôn mặt sau đám mây.
Chúng tôi lồm cồm bò dậy, rũ sạch cát trên người, trên tóc, nhổ cát trong mồm ra phì phì. Tôi khẽ hỏi: "Vừa rồi là cái gì thế?"
Yến Tử đáp: "Bão cát."
Tôi ngạc nhiên: "Bão cát? Lần đầu anh thấy đấy, sao mà lợi hại thế?"
Nàng bảo: "Chỉ sa mạc mới có thứ này. Lúc mạnh nhất, nó thổi bay cả người lẫn xe lên không trung đấy."
Tôi mừng thầm, chẳng biết đám lính Nhật kia có bị thổi bay đi không.
Chúng tôi bấu vào cỏ khô trên vách mương để leo lên. Lá và cọng cỏ đầy cát, chạm vào là cát rơi rào rào. Nhờ được huấn luyện lâu ngày nên chúng tôi mới leo lên được, chứ người thường chắc chịu chết.
Lên tới nơi, chúng tôi nấp sau đồi cát nhìn sang. Phía kia hỗn loạn cực kỳ, đứa bò dậy từ đất, đứa kéo lều, đứa chạy đôn chạy đáo. Thấy quân Nhật vẫn còn đó, tôi thấy thất vọng quá đỗi.
Nhân lúc chúng đang hỗn loạn, chúng tôi lặng lẽ rời đi thật xa.
Cứ thế mà đi, chẳng biết bao xa nữa mới tới Đa Luân, chẳng biết hai lão khất cái ở phương nào, và cũng chẳng biết ai là người đã bày ra những cơ quan kia.
Trời sáng, chúng tôi đến một ngôi làng tên là Lạc Cốc Cáp Đạt. Kiến trúc nhà cửa ở đây bằng đất đá, quanh làng trồng nhiều cây cối, đoán chừng là làng của người Hán. Người Mông Cổ thường không xây nhà mà ở trong bao (lều). Khi chuyển trại, họ chỉ cần tháo lều xếp lên xe lặc lặc là đi, còn người Hán ở nhà tổ truyền, chẳng mấy khi dời đổi. Người Mông Cổ là dân tộc di cư, người Hán là dân tộc định cư. Tục ngữ Mông Cổ có câu: "Trên đường di cư có vàng." Người Hán lại bảo: "Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy, một động không bằng một tĩnh."
Quân Nhật đã đến thảo nguyên nhưng vì quân số có hạn nên chúng chỉ chiếm đóng các thị trấn lớn, những làng nhỏ như Lạc Cốc Cáp Đạt tạm thời chưa bị sờ tới. Cuộc sống của dân làng vẫn diễn ra bình thường.
Tại đây, chúng tôi gặp hai người hành khất đi cùng nhau. Qua vài câu trò chuyện, chúng tôi nhanh chóng bắt quen. Tôi hỏi: "Các ông có nghe danh lão khất cái nào tên Thư Bằng Phi không?" Đó chính là tên thật của sư tổ.
Họ nhìn nhau rồi lắc đầu.
Tôi lại hỏi: "Ông ấy từ Đại Đồng tới, chân hơi thọt."
Họ trố mắt nhìn nhau, vẫn lắc đầu.
Tôi chưa bỏ cuộc: "Bang chủ các ông là Lam can tử hay Hoàng can tử?"
"Là Lam can tử."
"Thế Lam can tử của các ông tên gì?"
Họ đáp: "Mọi người đều gọi là Mạch bang chủ, không rõ tên thật."
Tôi và Yến Tử đều thất vọng não nề. Ở thảo nguyên này, một bang chủ Cái Bang quản lý ít nhất cũng vài trăm dặm. Vị bang chủ này họ Mạch thì chắc chắn không phải sư tổ rồi. Muốn tìm người chắc phải đi thêm mấy trăm dặm nữa.
Chúng tôi tiếp tục lên đường. Thời tiết càng lúc càng oi nồng, lá cây xanh hơn, cỏ mọc cao hơn, bầu trời quang đãng. Ban ngày, cào cào châu chấu nhảy nhót khắp nơi, chim chóc líu lo; đêm về, tiếng côn trùng kêu râm ran, lúc dồn dập lúc khoan thai, có lúc hỗn loạn, lúc lại nhịp nhàng như tấu nhạc.
Dọc đường chúng tôi đi qua hàng chục ngôi làng và hàng chục trại lều Mông Cổ. Đi đến đâu chúng tôi cũng hỏi thăm Thư Bằng Phi, từ người xin ăn đến dân du mục, nhưng chẳng ai biết cái tên đó cả.
Lương khô đã cạn sạch, nhưng người thảo nguyên hào sảng lắm. Dù là người Mông hay người Hán, hễ bước chân vào nhà là họ đem những gì tốt nhất ra đãi như khách quý.
Sư tổ ở đâu? Chúng tôi đã lặn lội hàng nghìn dặm, tìm kiếm ròng rã nửa năm trời mà vẫn bặt vô âm tín.
Một đêm nọ, chúng tôi dừng chân ở ngôi làng tên Phác Ân Tế Hà. Tên làng có chữ "Hà" (sông) nhưng quanh đấy chẳng thấy bóng dáng con sông nào.
Đầu làng có một gò Áo Bao. Theo tiếng Mông Cổ, Áo Bao nghĩa là "đống". Nó được đắp bằng gỗ, đá hoặc đất, dùng để tế lễ sơn thần và lộ thần. Trong lòng người thảo nguyên, đây là nơi vô cùng linh thiêng, người phàm không được tự ý vào, nếu không sẽ là báng bổ thần linh.
Trời đã muộn, không tìm được chỗ nghỉ, chúng tôi đành nép bên gò Áo Bao. Thảo nguyên đêm về nhiều sói lắm, lo có biến, tôi tìm một khúc gậy chắc chắn để cạnh người. Tôi bảo Yến Tử ngủ trên gò, còn mình gối đầu lên chân nàng. Đi bộ cả ngày mệt lử nên chúng tôi thiếp đi rất nhanh.
Đang mơ màng, tôi chợt nghe tiếng vó ngựa từ xa vọng lại. Tiếng vó ngựa dậm vào màng nhĩ khiến tôi tỉnh hẳn. Nhìn ra xa thấy năm con ngựa đang phi tới, trên lưng là năm gã đàn ông. Trong ánh sáng lờ mờ, bóng dáng chúng hiện lên cao lớn dị thường.
Tôi định gọi Yến Tử thì thấy nàng đã mở to mắt nhìn tự bao giờ. Nàng lặng lẽ trườn xuống khỏi gò.
Năm gã xuống ngựa, ngồi ngay cạnh gò Áo Bao ăn uống. Chúng tôi ở phía bên kia gò nên chúng không hề hay biết.
Bọn chúng ăn thịt bò, uống sữa chua – loại đồ uống lên men từ sữa tươi của người thảo nguyên. Tiếng chúng húp sữa sột soạt, kêu to như tiếng trung tiện, nghe thật khó chịu.
Ăn uống no nê, bọn chúng bắt đầu tán dóc về chuyện bắt trộm trẻ em mấy ngày nay. Một giọng nói vang lên: "Chuyện này tuyệt đối đừng để Mạch bang chủ biết."
Gã kia hừ giọng: "Lão biết thì đã sao? Tao chẳng sợ lão." Giọng gã này có âm hưởng kim khí ù ù, nghe rất gai người.
Tên lúc nãy lại bảo: "Mạch bang chủ ghét nhất bọn trong bang làm trò này. Lão mà dùng bang quy trị mày thì cái tay mày coi như bỏ."
Gã giọng kim khí đáp: "Tao chẳng bao giờ sợ lão. Tụi mày không biết lai lịch của lão chứ tao thì biết tỏng."
Nghe đến đây, tôi bỗng nảy sinh lòng kính trọng với vị Mạch bang chủ này. Hẳn là vị mà chúng tôi đã nghe danh ở Lạc Cốc Cáp Đạt. Tôi thầm nghĩ nếu có dịp phải đi bái phỏng lão một chuyến, sẵn tiện hỏi thăm tin tức sư tổ.
Bên kia lại xôn xao, một giọng eo éo hỏi: "Mạch bang chủ có lai lịch gì thế?"
Gã giọng kim khí tiết lộ: "Tụi mày chưa biết à, cái chân của lão, cái chân của lão..."
"Chân lão làm sao?"
"Chân lão là bị người ta cắt đứt gân nên mới thành thọt đấy. Ở địa bàn cũ không trụ nổi nữa nên mới dạt sang chỗ mình. Một thằng khách lạ phương xa có gì mà phải sợ?"
Nghe câu này, tôi siết chặt tay Yến Tử, nàng cũng nắm chặt tay tôi. Tim tôi đập loạn nhịp, răng nghiến chặt để không thốt ra tiếng kêu kinh ngạc.
Tên kia lại hỏi: "Thế đứa bé hôm qua sao rồi?"
Gã giọng kim khí đắc ý: "Tao bẻ gãy tay chân nó rồi, đang gửi ở nhà Vương Lão Ngũ. Nuôi thêm năm rưỡi nữa, xương cốt cứng lại là mang đi hành khất được rồi. Thằng nhãi này trắng trẻo mập mạp, nhìn là biết con nhà giàu, lại còn khôn lỏi nữa chứ, nó bảo nếu thả nó về bố nó sẽ trả nhiều tiền lắm."
Một giọng khác nãy giờ im lặng bỗng hỏi: "Thế sao mày còn bẻ tay chân nó?"
Gã giọng kim khí đáp: "Nó nhìn thấy mặt tao rồi, thả nó về là để họa lại cho mình à?"
Tôi nghe mà tóc gáy dựng ngược. Đứa bé này còn thê thảm hơn tôi hồi nhỏ. Đám này đích thị là lũ ác khất chuyên nghề "thải sinh chiết cát". Loại người này tàn ác vô đạo, không việc ác nào không làm.
Trăng đã xế bóng, lọt ra khỏi đám mây soi nghiêng xuống gò Áo Bao. Tiếng nói bên kia chợt tắt ngấm. Chúng tôi đã bị lộ. Tôi thấy bóng của chúng in trên đất đang dịch chuyển, mà bóng chúng tôi cũng đang kéo dài ra ngay trước mắt chúng.
Bóng người bên kia đang từ từ tiến lại, tôi vội vớ lấy khúc gỗ cạnh người, đẩy mạnh Yến Tử một cái, hét lớn: "Chạy mau!"