Tổ Bịp

  • 3982 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 99. Vừa ăn cướp vừa la làng
Quãng thời gian Tam sư thúc ngồi ghế huyện trưởng Kỳ Sơn, dân trong huyện sống cảnh sung túc, an cư lạc nghiệp, đâu đâu cũng vang tiếng hát ca, lúc nào cũng rộn rã tiếng cười. Ngặt nỗi, những tay nhà giàu trong huyện cứ dăm bữa nửa tháng lại kêu trời vì mất trộm. Chúng kéo nhau lên công đường than khóc, Tam sư thúc ngồi trên cao, mặt mày nghiêm nghị, đập bàn quát tháo, hứa chắc như đinh đóng cột rằng sẽ tóm bằng được lũ đạo tặc để trị tội nghiêm minh.
Thế nhưng, điều kỳ quái là một người vốn nổi danh xử án như thần trong mắt dân chúng như Tam sư thúc, lại chẳng bao giờ tóm được kẻ trộm trong nhà đám phú hào. Lão hết lần này đến lần khác tổ chức đại hội thề quân, hạ quyết tâm chiến đấu với bọn trộm đến cùng, nhưng trống dong cờ mở xong đâu đấy thì mọi chuyện lại rơi vào im lặng.
Thực tế, kẻ lẻn vào dinh cơ bọn nhà giàu chỉ có hai người: tôi và Hùng ca. Đêm xuống, chúng tôi tựa đôi chim đêm, thoắt ẩn thoắt hiện trên những mái ngói âm dương, lắng nghe đủ thứ chuyện riêng tư hay tiếng rên rỉ trên giường chiếu, soi mói những bí mật không mong muốn để ai biết của bọn chúng. Rồi khi tất thảy đã chìm vào giấc nồng, chúng tôi lẳng lặng thu gom vàng bạc châu báu vào túi. Dưới ánh trăng khuya lạnh lẽo, giữa hơi thở của đêm trường, hai bóng người cứ thế xa dần, lặn ngụp vào vùng xám xịt mênh mang phía cuối chân trời. Chúng tôi là hai cỗ máy gặt, chỉ có điều, thứ chúng tôi gặt là dục vọng và lòng tham của đám trùm sỏ.
Một ngày nọ, Tam sư thúc bước xuống căn hầm cất giấu chiến lợi phẩm. Nhìn đống vàng bạc đá quý lóa mắt, lão gật gù:
"Số của cải này cũng đáng giá ba mươi vạn đấy. Mấy ngày tới chuẩn bị xe cộ, chúng ta sẽ nhân đêm tối mà rút êm."
Tôi hỏi:
"Thế còn cái ghế huyện trưởng này thì tính sao?"
Tam sư thúc phẩy tay:
"Ai ham thì cứ nhảy vào mà ngồi."
Hùng ca tiếc rẻ:
"Bỏ chức huyện trưởng, chẳng phải uổng lắm sao?"
Tam sư thúc vuốt râu, ngâm nga:
"Đời người đắc ý hãy vui say, chớ để chén vàng cạn dưới trăng. Trời sinh thân ta hẳn có dụng, nghìn vàng tiêu hết lại về thôi. Có số tiền này trong tay, lão tử phải làm một phen nghiệp lớn lừng lẫy."
Hùng ca tò mò:
"Nghiệp lớn gì cơ?"
Tam sư thúc mắt sáng rực:
"Lão tử sẽ mở một kỹ viện lớn nhất, sang trọng nhất thiên hạ, thu hết mỹ nữ trong cõi này về dưới trướng. Liễu Chương Đài, liễu Chương Đài, xưa xanh mướt nay còn đó chăng? Dẫu cành dài vẫn rủ như cũ, cũng đã vào tay kẻ khác mất rồi. Thanh xuân chóng vánh, xuân sắc chẳng đợi ai, hoa nở thơm ngát hãy mau hái, đừng đợi không hoa mới bẻ cành."
Hùng ca cũng hào hứng tiếp lời:
"Tôi đây chơi trăng vườn Lương, uống rượu Đông Kinh, thưởng hoa Lạc Dương, hái liễu Chương Đài. Nào cờ vây, đá cầu, đi săn, tấu hài, múa hát, đàn sáo, thơ phú, song lục... tôi đây chẳng thiếu ngón nào. Lão có đánh gãy răng tôi, méo miệng tôi, què chân tôi, gãy tay tôi, thì cái nết phong lưu trời ban này cũng chẳng chịu bỏ đâu. Trừ phi Diêm Vương đích thân gọi, quỷ thần tự đến mời, ba hồn về địa phủ, bảy vía lạc minh u. Trời hỡi, đến lúc ấy tôi mới thôi dẫm chân lên con đường hoa nguyệt. Tài tử phong lưu thật chẳng kém gì thánh nhân Quan Hán Khanh."
Tôi biết "thánh nhân" mà Hùng ca nhắc tới là Quan Hán Khanh. Vị tài tử này tài hoa cái thế nhưng sinh không gặp thời, sống dưới ách thống trị của nhà Nguyên, khi văn nhân người Hán bị vùi dập. Quan Hán Khanh cũng như bao tài tử thuở ấy, chỉ biết bám víu vào việc viết ca từ cho kỹ nữ để kiếm miếng ăn qua ngày. Lối sống ấy bị tầng lớp thượng lưu coi khinh là hạng hạ cửu lưu, không có địa vị. Nhưng Quan Hán Khanh lại tuyên bố lão chỉ thích sống thế, thích đắm mình trong phấn son, sống đến già, chơi đến già, hơi thở còn thì cuộc vui chưa dứt.
Ba chúng tôi cùng hẹn ước, sẽ vì cái kỹ viện hoành tráng trong tương lai kia mà nỗ lực phấn đấu.
Ngoại ô thành Kỳ Sơn có một ngôi làng lớn tên là Vệ Cốc Dục. Trong làng có một đại gia tộc giàu nứt đố đổ vách, tôi từng ghé thăm hai lần, căn phòng nào của họ cũng giấu đầy châu báu.
Môi trường sống ở bình nguyên Quan Trung vốn khác hẳn những nơi khác. Từ thời Thương Ưởng biến pháp, nhà nào có hai con trai thì một người phải ra ở riêng; có ba con thì hai người phải dọn đi... cứ thế mà tính. Chính sách này giúp nước Tần phát triển thần tốc, dân giàu nước mạnh. Việc chia nhỏ gia đình giúp giảm bớt mâu thuẫn, dồn toàn lực vào canh tác nông nghiệp, tập tục ấy vẫn lưu truyền đến tận ngày nay.
Gia đình giàu có ở Vệ Cốc Dục kia có bốn người con trai, mỗi người một khoảng sân, một gian bếp, một phòng ngủ riêng biệt. Ba gian nhà liền kề nhau, ngăn cách bằng những bức tường thấp. Tôi đã "viếng thăm" hai sân, đêm nay định bụng sẽ dọn nốt sân thứ ba.
Đêm ấy, tôi vận bộ đồ dạ hành, bên ngoài khoác thêm chiếc áo bông lớn. Lúc này vụ mùa thu đã thu hoạch xong xuôi, những cơn gió lạnh buốt từ phương Bắc lồng lộng thổi về, cái rét cứ thế cứa vào da thịt từng hồi. Đêm đó tôi đóng giả phu đánh keng, tay xách theo một chiếc đèn lồng.
Nửa đêm, tôi mò đến làng Vệ Cốc Dục. Thấy xung quanh vắng ngắt, tôi đặt đèn lồng xuống dưới miệng giếng, dùng gạch chèn chặt cán đèn, rồi cởi chiếc áo bông phủ lên trên. Như vậy, dù có ai đi ngang cũng chẳng thể ngờ dưới miệng giếng lại giấu một ngọn đèn sáng choang.
Thân hình nhỏ thọt trong bộ đồ đen, tôi ẩn mình vào bóng cây. Khi chắc chắn không có động tĩnh gì, tôi thoắt cái đã vượt tường vào nhà. Đường đi lối lại ở đây tôi thuộc như lòng bàn tay, chẳng khác gì đi trong nhà mình. Tôi nhẹ nhàng nhấc cánh cửa, lục tìm trong góc tủ quần áo và lôi ra một chiếc tráp nhỏ.
Ánh trăng len qua khe cửa sổ, tôi đặt chiếc tráp chạm trổ tinh xảo dưới ánh sáng mờ ảo, mở ra thấy toàn vàng ròng lấp lánh. Lòng mừng như mở hội, tôi gói ghém cẩn thận rồi leo tường ra ngoài.
Tôi tiến về phía giếng, định bụng lật áo bông lên để giấu chiếc tráp vào trong, sau đó xách đèn lồng ung dung đi về huyện đường. Chẳng ai ngờ nổi giữa đêm khuya tĩnh mịch, một gã phu canh có thể tự do đi lại khắp nơi thực chất lại là một lão Vinh chuyên nghiệp.
Nhưng ngay khi tay tôi vừa chạm vào phiến đá lạnh ngắt trên miệng giếng, trong bóng tối mờ mịt, tôi chợt thấy mấy bóng đen lù lù áp sát.
Thấy điềm chẳng lành, tôi vớ lấy chiếc áo bông, chiếc đèn lồng rơi tõm xuống giếng sâu. Một kẻ từ phía bên trái lao tới, tôi vung mạnh chiếc áo bông trùm kín đầu hắn. Nhân lúc hắn còn đang luống cuống gỡ áo, tôi nhanh như cắt lách người thoát thân.
Tôi nhắm hướng huyện thành mà chạy. Bình nguyên Quan Trung đất đai màu mỡ, bao năm không có binh đao nên nhiều huyện lỵ chẳng có tường thành ngăn cách.
Tôi dồn sức vào đôi chân, gió rít bên tai vù vù, cây cối hai bên đường lùi lại phía sau như bị đốn hạ. Tôi rẽ ngang rẽ dọc vào một con hẻm nhỏ, cứ ngỡ tốc độ của mình đã đủ để cắt đuôi bọn chúng, nhưng vừa ngoảnh lại, mấy bóng đen vẫn bám sát nút, chỉ cách chừng vài trượng.
Đám này rõ ràng là hạng có nghề, chỉ có lão Vinh hoặc đám sai nha mới có tốc độ kinh hồn đến thế. Đầu óc tôi xoay chuyển liên hồi: Bọn chúng là ai? Sao lại biết đêm nay tôi hành sự ở đây? Tại sao lại bám riết không buông? Rõ ràng bọn chúng đã có sự chuẩn bị từ trước, nhưng rốt cuộc là kẻ nào?
Phía trước, một bức tường chặn đứng lối đi. May thay tường không cao lắm, chỉ cần nhún người là vọt qua được. Đây là lối thoát tôi đã thăm dò kỹ từ trước. Sát đến chân tường, tôi ngoái đầu lại thấy một kẻ chỉ còn cách vài sải tay. Lúc này chẳng còn tâm trí đâu mà giữ của, tôi vung tay ném mạnh chiếc tráp vào mặt hắn. Kẻ đó rú lên một tiếng rồi ôm mặt ngã quỵ, nhưng những tên còn lại vẫn lầm lì đuổi theo. Tôi đạp tường, lộn người một vòng định leo lên, bỗng một viên gạch từ phía sau bay tới, đập trúng đầu tôi, hất văng tôi xuống đất.
Tôi lồm cồm bò dậy, đưa tay sờ lên đầu thấy một vũng máu tươi đặc quánh. Trong bộ đồ dạ hành bó sát, tôi chẳng có gì để băng bó, chỉ biết cắm đầu chạy thục mạng về hướng huyện đường.
Cạnh cửa sau huyện đường có một lối nhỏ, vốn là nơi để vận chuyển chất thải ra ngoài. Người xưa kiêng kị, cho rằng những thứ ô uế không được đi cửa chính, lối đi của rác rưởi phải tách biệt với lối đi của người.
Vừa lao vào trong cánh cửa nhỏ, người tôi bủn rủn, đổ ập xuống vì kiệt sức. Cánh cửa không khóa, đó là lối thoát chúng tôi vẫn tự để lại cho mình. Mỗi đêm tôi và Hùng ca ra ngoài, cánh cửa này luôn được khép hờ.
Đám người kia thấy tôi chạy vào huyện đường thì không dám xông vào bừa bãi. Công đường là nơi tôn nghiêm, dân chúng muốn vào phải đánh trống kêu oan ở cửa chính, được phép mới được bước chân qua ngưỡng cửa.
Bên trong, Tam sư thúc và Hùng ca vội vàng đỡ tôi dậy, dìu vào phòng. Nghe tôi kể về đám người truy đuổi, cả hai đều thoáng ngỡ ngàng, không rõ lai lịch bọn chúng. Hùng ca áp sát cửa sau nhìn ra, thấy bên ngoài vẫn có bóng người rình rập.
Mờ sáng hôm sau, tiếng trống trước huyện đường bỗng vang lên dồn dập như mưa rào. Huyện trưởng Tam sư thúc buộc phải ra mặt. Đứng ngoài cửa là mấy người, kẻ cầm đầu là một gã trung niên, tự xưng là người quản lý lao tù ở tỉnh phủ. Gã đưa ra một tấm danh thiếp đỏ chót ghi rõ họ tên chức vụ, Tam sư thúc liếc qua, thấy gã là một Khoa trưởng.
Tam sư thúc hỏi:
"Ngài hạ cố đến đây là để kiểm tra việc cai trị lao tù sao?"
Gã trung niên lắc đầu:
"Không phải. Đêm qua tôi cùng thuộc hạ truy đuổi một tên trộm, thấy hắn chui tọt vào huyện phủ. Vì không tiện quấy rầy nên tôi chỉ sai người canh giữ. Nay trời đã sáng mới dám làm phiền phụ mẫu chi dân, xin hãy để chúng tôi vào bắt người."
Tam sư thúc hừ lạnh:
"Huyện phủ là nơi nào mà lại có trộm ẩn náu?"
Gã trung niên quả quyết:
"Bần chức đêm qua bám sát gót, tận mắt thấy hắn lẻn vào đây. Hơn nữa, tên này bị trúng một gạch vào đầu, chắc chắn đã bị thương. Chỉ cần tìm kẻ nào đầu có vết thương là ra ngay."
Tam sư thúc nghe vậy, trong lòng không khỏi kinh hãi nhưng mặt vẫn tỉnh bơ, lão thong thả hỏi:
"Lại có chuyện đó sao? Ngài làm thế nào mà phát hiện ra tên trộm này?"
Gã trung niên đáp:
"Gia phụ sống ở Vệ Cốc Dục, nhà đã bị mất trộm hai lần trong thời gian ngắn. Sau khi nghe tin, tôi đưa vài thủ hạ về nhà, quyết bắt bằng được tên này để trừ hại cho dân. Quả nhiên, phục kích đến ngày thứ ba thì hắn xuất hiện, giả làm phu canh, giấu đèn xuống giếng rồi leo tường vào nhà tôi."
Tam sư thúc vẻ mặt ngạc nhiên:
"Hắn làm thế để làm gì?"
Gã kia giải thích:
"Tôi đoán hắn phủ áo lên miệng giếng để che ánh đèn. Sau khi lấy được đồ, hắn sẽ khoác áo vào, giấu tang vật bên trong rồi lại cầm đèn đi tuần như không có chuyện gì. Nhưng đêm qua chúng tôi truy sát quá gắt, hắn không kịp lấy áo, đành bỏ chạy thoát thân đến tận đây."
Tam sư thúc lộ vẻ phẫn nộ:
"Lại có kẻ gan to tày đình đến thế sao? Thiên đường có lối không đi, địa ngục không cửa lại đâm đầu vào. Trốn vào huyện đường chẳng khác nào tự chui đầu vào lưới. Sư gia đâu, mau gọi tất thảy người trong phủ ra đây, từ đầu bếp đến phu canh, không được thiếu một ai cho Khoa trưởng kiểm tra."
Sư gia chính là Hùng ca. Y dẫn người ra hậu viện, cố ý quát lớn:
"Tất cả mọi người tập trung ra sân trước!"
Tiếng quát ấy cốt để đám người ngoài kia nghe thấy. Sau đó, Hùng ca lẻn vào phòng tôi, thì thầm:
"Lát nữa hậu viện vắng người, em hãy trốn theo lối thư phòng của Tam sư thúc. Đằng sau giá sách có một mật đạo dẫn thẳng ra ngoài thành. Đi trốn vài ngày, chờ vết thương lành hẳn hãy về."
Khi Hùng ca và mọi người đã ra sân trước, tôi gượng dậy mò sang thư phòng của Tam sư thúc. Trong phòng có một dãy giá sách gỗ kê sát tường, xếp đầy những bộ sách đóng chỉ. Sách xưa không xếp đứng như bây giờ mà xếp nằm chồng lên nhau, nên giá dù lớn nhưng chẳng đựng được bao nhiêu. Tôi gồng sức đẩy giá sách sang một bên, quả nhiên lộ ra một cửa hầm. Chui vào trong, tôi thấy có hai cái tay nắm phía sau giá sách, chỉ cần kéo mạnh là giá sách lại trở về vị trí cũ.
Tôi lần mò theo lối hầm tối thui, đi mãi rồi cũng thoát được ra ngoài thành. Để lánh nạn vài ngày, tôi sực nhớ đến nhà lão tú tài Lô Tam Oa – người từng mất lợn được Tam sư thúc "tìm" giúp. Lão Lô là hạng hủ nho, tai chẳng màng chuyện thế sự, lòng chỉ hướng về thánh hiền, chẳng giao du với ai trong làng. Lão lại cực kỳ sùng bái Tam sư thúc, coi lão là vị quan hiền minh nhất từ trước tới nay. Trốn ở đó là chắc ăn nhất.
Thấy tôi đến, Lô Tam Oa mừng ra mặt. Tôi nói dối là cha ép gả cưới, tôi không chịu nên bị ông cụ cầm then cửa phang trúng đầu. Lão tú tài chép miệng:
"Xưa nay cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, nhưng hổ dữ không ăn thịt con, cha anh đánh anh đến nông nỗi này, chẳng còn chút tình nghĩa cha con gì cả. Thôi, cứ ở lại đây, ông cụ nhà anh chẳng tìm được đâu."
Ở nhà lão Lô, tôi được hưởng những ngày yên bình.
Nhưng nơi huyện đường thì sóng gió bắt đầu nổi lên.
Tam sư thúc đưa toàn bộ người ra sân trước cho gã Khoa trưởng nhận mặt. Xem xét một hồi chẳng thấy ai có vết thương trên đầu, gã nghi hoặc hỏi:
"Có đúng là tất cả mọi người đều ở đây không?"
Tam sư thúc gật đầu:
"Chẳng thiếu một mống."
Gã Khoa trưởng bạo gan đề nghị:
"Bần chức mạn phép xin phụ mẫu đại nhân cho người vào hậu viện tìm kiếm. Tôi nghi ngờ tên trộm vẫn đang lẩn trốn bên trong, định bụng giở trò bất chính với huyện phủ."
Tam sư thúc né sang một bên:
"Cứ tự nhiên."
Đám người kia lùng sục khắp hậu viện, lật tung mọi xó xỉnh nhưng chẳng thấy bóng dáng tên trộm đâu, vẻ mặt gã Khoa trưởng thất vọng tràn trề. Gã rõ ràng thấy tên trộm chạy vào đây, sao lại biến mất tăm được? Không tìm thấy người, gã đành phải cáo từ:
"Bần chức xin cáo lui, làm phiền đại nhân rồi."
Tam sư thúc đột ngột biến sắc, đập bàn quát lớn:
"Huyện đường đường đường là nơi làm việc của Chính phủ Quốc dân, đâu phải nơi muốn đến thì đến, muốn đi thì đi? Ngài dám ngậm máu phun người, vu khống huyện phủ chứa chấp gian phi. Người đâu! Trói ngay lũ cuồng đồ này lại cho ta!"
Gã Khoa trưởng thoáng hoảng hốt nhưng vẫn cố lên giọng:
"Tôi là người của tỉnh phủ, ông dám bắt sao?"
Tam sư thúc cười gằn:
"Người của tỉnh phủ thì đã sao? Bất kể là ai, đã bước chân vào mảnh đất của lão tử thì phải nghe lão tử. Đừng nói hạng té tép như mày, chỉ là kẻ sai vặt ở tỉnh phủ, dẫu là Thiệu Lực Tử có đến đây mà dám quấy rối công đường, vu khống bừa bãi, lão tử cũng xích tất!"
Gã Khoa trưởng tái mặt:
"Ông... ông ăn gan hùm hay sao mà dám nhắc tên Chủ tịch tỉnh như vậy?"
Tam sư thúc cao giọng:
"Đừng nói Thiệu Lực Tử, ngay cả Dương Hổ Thành cũng phải nể lão tử ba phần. Lão tử chỉ cần gửi một bản tấu lên Nam Kinh, bọn họ coi như xong đời hết!"
Thiệu Lực Tử lúc ấy là Chủ tịch tỉnh Thiểm Tây, còn Dương Hổ Thành là thủ lĩnh Tây Bắc quân với mười vạn tinh binh. Tam sư thúc đang bốc phét, nhưng thói đời, phét càng to người ta lại càng dễ tin. Bao năm qua, hạng người mượn danh quan quyền đi lừa bịp thiên hạ, ăn sung mặc sướng như cá gặp nước đâu có thiếu.
Nghe thấy quan hệ của Tam sư thúc vươn tận đến Nam Kinh, gã Khoa trưởng nhũn cả chân. Gã tin chắc mình vừa đụng phải một nhân vật "thông thiên", loại người này gã sao gánh nổi.
Tin gã Khoa trưởng bị tống giam bay về làng Vệ Cốc Dục, lão địa chủ cha gã sợ đến thót tim. Lão không chỉ sợ con bị giam, mà sợ nhất là con mình bị huyện trưởng sát hại. Con lão ở tỉnh thuộc quyền Thiệu Lực Tử, mà Thiệu Lực Tử lại thuộc quyền cái người mà Tam sư thúc quen biết ở Nam Kinh. Dân làng đi chợ huyện về kháo nhau rằng huyện trưởng lần này lai lịch khủng khiếp lắm, chỉ cần một cái gật đầu là cách chức được cả Tỉnh trưởng. Cách chức Tỉnh trưởng còn dễ như trở bàn tay, thì việc dẫm chết con lão chẳng khác gì dẫm chết một con kiến hay sao?
Thế là, lão hương thân vội vàng nhờ người cầu xin Tam sư thúc.
Đi xin xỏ thì chẳng thể đi tay không. Kẻ môi giới mang theo vàng bạc đến huyện đường xin thả người. Tam sư thúc vẫn giữ vẻ lạnh lùng:
"Từ xưa đến nay, huyện lệnh là mệnh quan triều đình, huyện đường là nền móng quốc gia. Kẻ này xông vào huyện đường chẳng khác nào chống lại triều đình; vu khống huyện đường có trộm chẳng khác nào bôi nhọ quốc thể. Nay là thời Quốc dân Chính phủ, hành động ấy chẳng khác gì mưu phản. Việc này hệ trọng, ta phải bẩm báo lên Nam Kinh rồi mới định tội được."
Từ Kỳ Sơn hẻo lánh đến Nam Kinh phồn hoa cách xa nghìn dặm, đi về mất vài tháng là ít. Khoa trưởng mà bị giam vài tháng thì chức tước mất sạch, mạng cũng khó bảo toàn bởi đám đại ca trong ngục toàn hạng liều mạng. Lão địa chủ nuôi con lớn ngần ấy, để leo lên được cái ghế Khoa trưởng tỉnh phủ đâu có dễ dàng gì?
Lão quyết định không tiếc bất cứ giá nào để cứu con ra.
Lão hương thân vốn tin sùng đạo lý "đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn". Quan không thả người là vì tiền chưa đủ, Bồ Tát không mở miệng là vì hương hỏa chưa dày. Lão đánh hẳn một cỗ xe ngựa chở đầy vàng bạc đến huyện đường. Tam sư thúc nhìn mà sướng rơn trong lòng, nhưng ngoài mặt vẫn đóng vai thanh liêm, nói phải làm theo phép công. Vàng bạc đã chở đến huyện đường thì làm sao chở về được? Lão địa chủ đành hạ lệnh dỡ đồ xuống, rồi hẹn sẽ chở thêm một xe nữa đến tạ tội.
Cho đến khi Tam sư thúc cảm thấy đã hốt sạch được vốn liếng của lão, lúc ấy lão mới đồng ý thả người.
Gã Khoa trưởng bước ra khỏi ngục, mặt mũi hốc hác nhưng đôi mắt rực lửa căm hờn. Gã bị giam cầm vô cớ, của nả trong nhà chui tọt vào túi Tam sư thúc, gã thề sẽ có ngày báo thù.
Lúc ấy, tôi vẫn đang ẩn náu ở nhà lão tú tài họ Lô.
Lão không vợ không con, cả đời chỉ tôn thờ Tứ thư Ngũ kinh. Với lão, sách thánh hiền chính là sinh mạng, là cơm ăn áo mặc hàng ngày. Dẫu khoa cử đã bị xóa bỏ từ lâu nhưng lão vẫn mê muội thánh hiền đến mức quên ăn quên ngủ.
Lão Lô tính tình gàn dở và hay chấp vặt, chuyện bé xé ra to nên chẳng ai trong làng muốn dây vào. Lão sống thui thủi một mình, hiểu rõ Khổng Tử, Mạnh Tử hơn cả hàng xóm láng giềng. Lão là kẻ sống trong đống giấy cũ, hít thở khí trời thời Dân quốc nhưng hồn phách lại lạc tận thời cổ đại xa xăm.
Đêm dài dằng dặc, hai chúng tôi đều không ngủ được. Lão tú tài bắt đầu giảng cho tôi nghe những lời thánh hiền xa vời. Đôi khi chỉ vì đính chính một chữ, lão sẵn sàng khoác áo ngồi dậy, lật giở những cuốn sách chỉ mỏng tựa cánh ve, rồi ghé sát mũi vào trang giấy dưới ánh đèn dầu leo lét mà soi cho kỹ. Nhìn dáng vẻ chấp nhất ấy của lão, tôi cuối cùng cũng hiểu vì sao ngày trước, chỉ vì mất một con lợn con mà lão dám đứng giữa làng chửi huyện trưởng là đồ con lợn.

(Tổng: 3982 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0