Tổ Bịp
- 4579 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 60. Trừng trị đám bại hoại giang hồ
Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ chân trong một quán trọ ở ngoại ô Trương Gia Khẩu, còn đám ăn mày thì ở trong một ngôi chùa cách đó vài trăm mét. Bị chúng nó quấy rối suốt mấy ngày liên tiếp, mọi người đều ăn không ngon ngủ không yên, nên quyết định sẽ nghỉ ngơi dưỡng sức hai ngày ở đây trước, sau đó sẽ tìm cách cắt đuôi được chúng nó rồi mới vào thành gặp Lạc Đà Khách trong Tiêu Cục.
Bạch khất cái và Báo Tử ở chung một phòng, còn tôi thì ở cùng Hắc khất cái. Ban đầu, tôi vẫn đinh ninh rằng, cũng như mấy ngày trước, bọn rác rưởi này sẽ quấy rối chúng tôi vào lúc nửa đêm về sáng. Vậy nên, chúng tôi định tranh thủ nghỉ ngơi sớm trong nửa đêm đầu. Nào ngờ, đám ăn mày cũng đổi sang giờ đó. Bọn chúng đốt vàng mã, nhảy múa, khóc lóc, ca hát om sòm ngay trước cổng quán trọ, làm chúng tôi chẳng thể chợp mắt.
Hắc khất cái xé toạc chiếc chăn, moi ra một nhúm bông, vo tròn lại rồi nhét vào tai để ngủ. Nhưng cứ trở mình, cục bông lại rơi ra ngoài. Hết cách, ông đành kéo chăn trùm kín đầu, vùi mình vào giấc ngủ nặng nề.
Tôi lay lay người Hắc khất cái, ông kéo cái chăn ra khỏi đầu, hỏi: “Làm gì thế?”
Tôi bảo: “Ra ngoài với tôi một chuyến.”
Hắc khất cái nói: “Tôi không đi, đang buồn ngủ muốn chết.”
Tôi đáp: “Chúng ta đi trả thù, xử lý mấy tên lưu manh của Cái Bang”
Hắc khất cái bật dậy khỏi giường, háo hức hỏi: “Xử lý thế nào?”
Tôi nói: “Ông cứ đi theo tôi là được rồi.”
Hắc khất cái chỉ tay sang phòng bên cạnh hỏi: “Có cần nói với bọn họ không?”
Tôi lắc đầu: “Hai người đó rất chính trực. Nếu mà nói với họ, chắc chắn họ sẽ không cho chúng ta đi. Cái Bang giở trò lưu manh với chúng ta, nhưng chúng ta chẳng làm gì được bọn chúng. Ông có biết là vì sao không?”
Hắc khất cái thắc mắc: “Vì sao thế?”
Tôi nói: "Cái Bang không nói lý lẽ, còn chúng ta thì cứ muốn giảng đạo lý với chúng nó, nên là, chúng ta chẳng bao giờ đấu lại chúng nó đâu. Nhưng nếu chúng nó đã lưu manh, mà chúng ta còn lưu manh hơn, thì người phải xin tha chính là chúng nó đấy."
Hắc khất cái lắc đầu, đáp: "Tôi chẳng hiểu gì hết."
Tôi mới bảo: "Đối đãi với người quân tử, thì phải dùng cách của quân tử để khiến họ tâm phục khẩu phục; còn riêng đám tiểu nhân, thì phải dùng thủ đoạn của tiểu nhân thì chúng nó mới chịu khuất phục. Cái này gọi là “Bốc đúng thuốc"
Hắc khất cái cười hì hì: "Đúng thế, đúng thế."
Tôi nói: "Vậy thì, chúng ta mau ra ngoài ngay bây giờ thôi."
Rời khỏi khách sạn, đi về phía Tây khoảng ba bốn dặm là tới một ngôi làng lớn. Ở giữa làng có một nhà cộng đồng, nơi cất giữ tài sản chung của cả làng, bao gồm cả chiêng trống, nhạc cụ. Người vùng Ký Bắc này có tục lệ diễn trò hội làng (xã hỏa) vào dịp lễ Tết, mà đã là diễn xã hỏa thì không thể thiếu chiêng trống được.
Cửa nhà này được khóa bằng một ổ khóa sắt. Thứ này cũng chẳng làm khó được tôi. Tôi chỉ xoay xoay vặn vặn tí chút là mở được khóa cửa, rồi vào trong lấy một cặp chũm chọe, một cái chiêng, sau đó khóa cửa phòng lại như cũ.
Ở đầu làng có một quán ăn, lá tửu kỳ phấp phới trước cửa. Tôi bước ngang qua, ngửi thấy mùi rượu thơm nồng thì dừng lại. Tôi trèo lên cửa sổ, nghe ngóng thấy bên trong không có tiếng người, liền nhảy vào trộm lấy một vò rượu, còn may mắn thó được cả một con gà quay nguyên con nữa.
Giờ thì đã có đồ để chơi, có đồ để ăn, có cả đồ để uống, chúng tôi hớn hở vô cùng, quyết định sẽ tận hưởng một đêm thật ý nghĩa, đầy đủ và thống khoái.
Chúng tôi đi đến trước cổng ngôi miếu bọn ăn mày đang trú ngụ. Nhìn thấy cánh cửa miếu đóng kín, bên trong vọng ra tiếng ngáy to nhỏ không đều. Đám ăn mày đã gào khóc rất nhiệt tình nửa đêm trước, giờ đây đang chìm trong giấc nồng.
Chúng tôi ngồi trên hai chiếc trống đá đặt cạnh cửa miếu, mỗi người một bên. Tôi gõ chiếc chiêng rách kêu beng beng beng, rồi cất giọng hát: "Đồ rách rưới ở bên trong kia đừng ngủ nữa! Bố mang rượu thịt đến cho các con này. Mau mau mở cửa các con trai yêu quý của bố ơi."
Hắc khất cái bật cười. Nghe tôi hát xong, ông cũng khua chiếc chũm chọe loảng xoảng, rồi hát theo: "Chúng ta đi đến Trương Gia Khẩu, con trai ta lẽo đẽo theo sau. Hỏi xem ta là ai đây? Ta chính là lão tổ tông nhà chúng mày."
Hắc khất cái hát xong, đắc ý hỏi: "Anh hát có hay không?"
Tôi lớn tiếng hét lại: "Anh chơi trên đầu em đấy à! Em là bố của chúng nó, sao anh có thể nói là tổ tông của chúng nó được?"
Hắc khất cái cười bảo: "Anh lỡ miệng, được được được, tự phạt ba chén." Nói rồi, Hắc khất cái nhấc vò rượu lên uống liền ba ngụm lớn.
Tôi áp tai nghe ngóng, chợt nghe thấy tiếng sột soạt rất khẽ truyền đến từ phía bên trong. Thì ra mấy tên khất cái kia đã dậy, chúng đang rón rén bò ra cửa sổ để nhìn trộm chúng tôi. Tôi và Hắc khất cái đã biết rõ Cái Bang đang theo dõi mình, nên cả hai cố ý làm ra vẻ khiêu khích bọn chúng. Chúng tôi cụng chén rượu rồi uống cạn, sau đó thay phiên nhau đối đáp bằng những lời ca tiếng hát. Mỗi lần hát xong một câu, chúng tôi lại gõ chiêng kêu beng beng, hoặc đập chũm chọe kêu loảng xoảng. Giọng hát thì thê lương đến xé gan xé ruột, còn tiếng gõ lại chói tai nhức óc vô cùng.
Tôi cất giọng hát: "Có một loại người mang danh đồ rách rưới, mẹ kiếp đó đúng là loại cao dán chó. Thấy ai cũng dính lấy người ta, càng bóc thì càng dính chặt. Hai hôm nay lại bám riết lấy bố hắn, khiến bố hắn phiền muộn vô cùng."
Sau đó tôi lại gõ chiêng một cái.
Hắc khất cái cố tình hỏi lại: "Thật ư, trên đời lại có loại rách rưới đó sao? Loại rách rưới ấy rốt cuộc ở nơi nào?" Rồi ông đập chũm chọe.
Tôi lại cất tiếng hát: "Xa tận chân trời mà lại ngay trước mắt, đồ chó má đó đang trốn trong miếu đấy kìa. Bố chúng mày đã đến trước cổng miếu rồi, thế mà lũ rùa chẳng dám thò mặt ra."
Hắc khất cái cố tình hỏi: "Nếu chúng nó không chịu ra, thì có cách nào để lôi đầu ra không?"
Tôi vẫn giữ giọng thật lớn, hát vang: "Cha ơi! Con đây có một khẩu súng, bên thắt lưng còn dắt thêm một thanh đao. Chốc nữa đợi con uống cho thật say, sẽ đạp tung cửa phòng xông thẳng vào. Vớ được thằng nào thì con sẽ bắn vỡ đầu thằng đó, tóm được đứa nào sẽ chặt đứt chân đứa đó. Mấy đứa bên trái thì con móc hết cả đôi mắt, còn lũ bên phải thì cho chúng mãi mãi biến mất."
Hắc khất cái lắc đầu nói: "Cách của em không ổn lắm. Lằng nhằng phiền phức quá, sao không làm cho gọn vào? Anh vừa thấy nhà kia có một thùng dầu ăn, chi bằng châm luôn một mồi lửa, đốt trụi ngôi miếu này, thiêu tất cả cái lũ chó kia thành tro. Này hiền đệ thấy ý của anh thế nào?"
Tôi liền gõ một tiếng chiêng, cất giọng hô to: "Ôi chao, nhân huynh quả là cao kiến, đi thôi, chúng ta đi lấy dầu ăn thôi!"
Chúng tôi bước đi chừng vài chục mét thì ẩn mình sau một góc tường đổ nát, lặng lẽ chú ý quan sát động tĩnh phía ngôi miếu. Cánh cổng miếu ngập ngừng mở ra, hai cái đầu thò ra ngó nghiêng. Thấy bên ngoài không có động tĩnh gì, chúng mới lén lút đi ra. Vừa bước được vài bước, chúng quay đầu ra hiệu cho đám phía trong miếu. Lũ ăn mày trong ấy liền túa ra như một đàn chuột, chuẩn bị tẩu thoát. Tôi bất ngờ lao ra từ sau bức tường đổ, cất giọng hét lớn: "Ông có súng đây. Thằng nào chạy, ông bắn gãy chân thằng đó!"
Lũ ăn mày sợ tái mặt, tranh nhau chạy ngược vào trong miếu, đóng sập cửa lại. Tôi và Hắc khất cái nhìn nhau cười khoái trá. Chúng tôi là mèo, còn cái lũ ăn mày là một bầy chuột nhắt.
Chúng tôi lại ngồi xuống ngay trước cổng miếu, vừa ăn vừa uống, cố tình để miệng phát ra những tiếng chóp chép thật to. Trong miếu liên tục truyền ra những tiếng sột soạt, cái lũ rác rưởi kia vừa sợ hãi vừa hoảng loạn, chẳng còn thấy buồn ngủ nữa. Chúng tôi quậy phá ngoài cổng miếu suốt đêm, mãi đến khi trời hửng sáng mới chịu dừng.
Sau khi trời sáng, trên đường đã bắt đầu có người đi lại, thậm chí còn có cả mấy bà nông dân dậy sớm đi làm đồng. Thấy vậy, chúng tôi không tiện dây dưa thêm nữa nên tạm thời rút lui. Chúng tôi nấp mình sau một bức tường đổ nát, quyết định bám theo bọn chúng, tìm cách lùa đám ăn mày đi về phía Bắc cho thật xa. Mấy tên ăn mày kia đã thức trắng cả đêm, lại còn nhịn đói từ tối, thành ra khi chúng bước ra ngoài thì đã đi đứng lảo đảo, xiêu vẹo cả rồi. Chúng dìu nhau đi vào một thôn trang gần đấy. Dân làng, toàn những gã đàn ông khờ khạo với mấy mụ đàn bà ngốc nghếch, thấy bọn ăn mày đến liền vội vàng mang cơm nước ra cho. Tôi và Bạch khất cái vội chạy tới, lớn tiếng ngăn cản: “Này mọi người, đừng cho chúng nó thứ gì cả! Lũ ăn mày này xấu xa lắm!”
Bọn dân quê ngu ngốc kia nghe vậy liền nổi giận, mắng lại:
“Hai người các anh sao lại ác thế hả? Không thấy người ta khổ sở đáng thương à? Cho họ miếng ăn thì có làm sao? Chúng tôi tự nguyện cho, mắc mớ gì đến anh?”
Chúng tôi buồn bã bỏ đi, ngoảnh đầu nhìn lại thì thấy lũ ăn mày đang đắc ý cười trộm sau lưng. Chúng tôi đứng ở phía Nam, còn lũ ăn mày ở phía Bắc, cứ thế từng bước lùa chúng đi dần về phương Bắc, tuyệt đối không để chúng bén mảng đến Trương Gia Khẩu. Cái Bang vừa đi vừa giả vờ khất thực, nhưng thực ra chẳng cần mở miệng xin gì hết. Người qua đường nhìn thấy chúng áo quần rách rưới, mặt mũi lấm lem, liền cho là hạng người khốn khổ đáng thương, ai nấy đều động lòng trắc ẩn: có cơm thì cho cơm, không có cơm thì cho tiền, thậm chí có người còn mang cả quần áo cũ ra tặng. Thế là, suốt dọc đường, Cái Bang chẳng phải động một ngón tay, vậy mà vẫn ăn no mặc đủ, sống ung dung phè phỡn.
Sau khi lùa được chúng đi hơn mười dặm, chúng tôi quay đầu hướng về phía Nam, nào ngờ lũ ăn mày vẫn bám riết sau lưng. Cái Bang đúng là thứ cao dán da chó, đã dính vào thì chẳng tài nào gỡ ra được. Hắc khất cái cau có, mặt mày ủ rũ than: “Cứ thế này e không xong, phải nghĩ ra một kế gì đó mới được.”
Tôi nhăn trán đáp: “Hầy, tôi thì còn nghĩ được cách gì chứ? Đám ăn mày ấy chẳng khác nào cục đá trong hố xí, vừa hôi hám, vừa cứng đầu, chẳng dễ đối phó.”
Chúng tôi đi ngang qua một ngôi Miếu Quan Đế. Trong điện thờ Quan Lão Gia, hai bên có hai người đứng hầu. Một là Chu Thương, tay nắm thanh đại đao thay ngài giữ uy phong, còn người kia là một vị quan văn ôm đống sổ sách nhưng tôi chẳng biết ông ta tên gì. Miền Bắc có rất nhiều đền miếu, phổ biến nhất là Miếu Quan Đế và Miếu Thổ Địa. Những ngôi miếu ấy thường chẳng có ai trông coi, bên trong thờ Quan Lão Gia cùng Thổ Địa, quanh năm hương khói không dứt. Ai ghé vào, thấy hương gần tàn thì cứ tiện tay lấy một nén bên cạnh châm lên. Những ngôi miếu như thế chẳng bán vé hay đòi hỏi khách thập phương quyên góp tiền bạc gì cả.
Vừa nhìn thấy Chu Thương, tôi chợt nảy ra một ý. Tôi nói với Bạch khất cái: "Ông vào lấy cây đại đao của Quan Lão Gia ra đây."
Bạch khất cái bước vào Miếu Quan Đế cầm cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao cao hơn thân người, trông uy phong lẫm liệt, hùng dũng vô cùng. Bạch khất cái vốn thân hình cao lớn, vạm vỡ, nay ông ta lại đứng thủ thế với cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao thì chẳng khác nào thiên thần giáng thế.
Tôi cầm súng, Bạch khất cái cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao, chúng tôi cứ thế đi sát theo sau đám ăn mày. Cứ hễ thấy có người đến cho tiền hay cho đồ ăn, chúng tôi liền sải bước xông tới. Bạch khất cái giơ Thanh Long Yển Nguyệt Đao lên, còn tôi thì chĩa súng ra, khiến những người đang bố thí sợ hãi bỏ chạy tán loạn. Khi đã chạy khá xa, họ quay lại chửi chúng tôi là lũ điên. Chúng tôi nghe vậy, trong lòng lại vô cùng khoái chí.
Từ đó về sau, lũ ăn mày không còn gì để ăn, đói đến nỗi chân đi không vững, thân hình lảo đảo, nghiêng nghiêng ngả ngả. Chúng tôi đi theo phía sau, cố ý nói thật to chuyện ăn uống. Tôi bảo: “Cả đời tôi mê nhất là món mì thắt lưng chan dầu ớt. Trộn bột mì với nước, thêm ít muối, chút dầu, nhào kỹ rồi dùng khăn ướt phủ lên chừng một canh giờ. Sau đó lấy cán bột ra, cán thành từng dải rộng chừng hai ngón tay. Hai tay nắm hai đầu, kéo một cái, giật một cái, vung lên một cái, thế là dải bột biến thành sợi mì dài và to hơn cả dây lưng. Đem thả vào nồi nước sôi luộc chín, vớt ra bát, rắc lên chút gừng băm, tỏi băm, bột ớt, rồi chan một vá dầu sôi vào. Chỉ nghe “xèo” một tiếng, mùi thơm tỏa ra khắp nơi, làm người ta chảy cả nước miếng.”
Tôi liếc mắt nhìn, thấy mấy tên ăn mày nghiêng đầu lắng nghe, cổ họng trồi lên thụt xuống, rõ ràng là đang nuốt nước bọt.
Hắc khất cái bĩu môi: "Người vùng cậu chỉ biết ăn mì thôi, đi đâu cũng là mì, ăn mãi thì chẳng phải chỉ một vị cả sao?"
Tôi cười đáp: “Anh không hiểu rồi. Người quê em nghiên cứu mì đến nơi đến chốn lắm. Cùng một thứ bột mì thôi mà có thể làm ra cả trăm kiểu khác nhau, vị nào cũng riêng, mà kiểu nào cũng ngon hết. Anh nghe em kể đây: mì chan dầu ớt thơm đến run người, mì rau chân vịt bổ dưỡng khỏi chê, mì thắt lưng to nuốt đã cổ họng, mì nước chua vừa ăn vừa phải lau miệng, mì Kỳ Sơn nổi tiếng với lớp nhân đậm đà, mì chấm tỏi cay xè phải cẩn thận cái lưỡi, mì tương đen thì nồng hăng một chút, ăn không hết lại gói mang về…”
Tôi liếc nhìn, thấy nước dãi của đám ăn mày đều chảy ròng ròng, bọn chúng trông chẳng khác gì mấy con trâu già kéo xe lên dốc, nước dãi kéo thành sợi dài, nhỏ xuống tận mặt đất.
Chúng tôi cứ thế xua đuổi lũ Cái Bang suốt dọc đường, mãi cho đến khi ép được bọn chúng chạy thẳng lên huyện Sùng Lễ.
Vào lúc hoàng hôn, đám ăn mày dừng chân trong một quán trọ xe ngựa lớn. Quán trọ này dùng toàn giường phản, mỗi phòng có thể ngủ hai ba chục người. Thế là, cả lũ chui hết vào một căn phòng. Chúng tôi đứng canh ở cửa, không cho chúng nó bước ra ngoài. Đám ăn mày đã đói rộc cả người, rên rỉ trong một góc, định mon men ra ngoài xin ăn, nhưng hễ vừa trông thấy vẻ mặt hằm hằm của bọn tôi thì lập tức co rúm, vội thụt trở vào. Đối phó với lũ lưu manh thì phải dùng cách của lưu manh; còn gặp bọn vô lại, cũng chỉ có thể trị bằng cách của vô lại. Lưu manh thì sợ những kẻ lưu manh hơn; vô lại thì sợ những kẻ vô lại hơn. Lưu manh và vô lại đều không chịu nghe theo lẽ phải, còn những người quân tử biết điều như Báo Tử và Bạch khất cái, thì vĩnh viễn không thể đấu lại được bọn chúng.
Ông chủ và đám hỏa kế của quán trọ cho thuê xe ngựa thấy chúng tôi một người cầm súng, một người cầm đao đứng gác trước cửa phòng thì rón rén bước tới dò hỏi: "Hai vị khách quan, có chuyện gì vậy?"
Tôi cố tình tỏ ra bực bội, gắt lên: "Không phải việc của ông, lo thân mình đi, tránh xa ra một chút."
Hắc khất cái cũng cố ý gầm lên thật lớn: "Mày còn lắm chuyện, tao đập nát cái quán trọ của mày đấy!"
Ông chủ và đám hỏa kế hoảng hốt, miệng liên tục vâng dạ rồi vội vã rút lui.
Chúng tôi ngồi ngay trước cửa phòng, còn đám ăn mày thì chẳng dám ló đầu ra. Chúng nó bụng đói cồn cào, cứ kêu la oai oái, trở mình mãi mà không sao chợp mắt được. Một lát sau, giọng khàn đục của lão già râu bạc vang lên từ trong bóng tối: “Thôi, chúng bay đừng kêu nữa, cố mà ngủ đi, ngủ rồi sẽ chẳng thấy đói nữa đâu.” Nghe chúng nó đói đến mức ấy, tôi với Bạch khất cái đưa mắt nhìn nhau, nhịn cười không nổi, phải lấy tay che miệng.
Tôi ghé tai nói nhỏ với Hắc khất cái: "Ông cứ trông chừng ở đây, tôi đi kiếm món gì ngon ngon, rồi quay lại ngay."
Hắc khất cái nói: "Tốt nhất là kiếm ít thịt, uống thêm chút rượu nữa. Chúng ta có cái ăn uống, cho cái đám này tức chết luôn."
Tôi chạy ra khỏi quán trọ, lang thang trên những dãy phố lớn trong huyện thành. Đêm đã khuya lắm rồi, trên đường chỉ còn lác đác ánh đèn. Cứ thấy chỗ nào có đèn thì tôi lại chạy tới, xem xét tình hình. Đi đến chân thành thì tôi thấy một nhà cổng sân đã đóng kín, nhưng mùi thức ăn và ánh đèn lại lọt ra từ khe cửa. Tôi áp tai lắng nghe, thấy hai người đang nói chuyện, một người nói: "Thịt chó càng ninh càng nhừ, càng nhừ càng thơm. Chúng ta cứ đi ngủ trước, sáng mai dậy ăn sau."
Người kia nói: "Vậy phải che lửa cho kỹ, sáng ra than cháy hết, thịt cũng vừa chín nhừ."
Tôi vừa nghe thấy có thịt chó là nước dãi lập tức ứa ra. Thịt chó đúng là món ngon nhất trần đời. Heo ăn cám, dê ăn cỏ, còn chó thì ăn thịt. Thịt heo, thịt dê đã thơm lắm rồi, thịt chó thì còn thơm hơn gấp mấy lần. Ăn thịt chó uống rượu, thật đúng là cuộc sống của bậc thần tiên. Hơn nữa, bọn ăn mày đều biết thịt chó ngon, và cũng thích ăn thịt chó nhất. Chúng nó đi lang thang nơi, hễ thấy con chó nào vô chủ là đánh chết rồi ăn thịt.
Hai người đó đã đi ngủ, tôi nhẹ nhàng trèo lên tường rào, lẻn vào bếp. Vừa mở vung nồi ra, mùi thơm nồng nàn của thịt chó đã xộc thẳng vào mũi, làm tôi nuốt nước miếng ừng ực. Tôi dùng móc câu móc ra một miếng thịt chó và nếm thử, thấy thịt đã chín kỹ rồi, cảm giác thật sảng khoái, nước bọt trào ra đầy miệng. Tôi liền giật luôn hai cái đùi chó. Quay lại nhìn thấy trên thớt còn có một vò rượu, tôi chẳng suy nghĩ nhiều mà vơ ngay vào lòng. Xem ra, chủ nhà cũng là một thực khách sành sỏi, biết rõ ăn thịt chó thì nhất định phải có rượu mới ngon.
Tay ôm hai cái đùi chó cùng bầu rượu đế, tôi phấn khởi vô cùng, bước thẳng vào quán trọ. Hắc khất cái đang thèm nhỏ dãi, vừa thấy tôi là xông ra đón, miệng cười hề hề: “Từ xa đã ngửi thấy cái mùi thơm phức rồi, đồ ngon tới nơi đây chứ đâu nữa!”
Chúng tôi ngồi ngay trước cửa phòng, mỗi người cầm một cái đùi chó, cắn một miếng ngập răng, nhấp một ngụm rượu. Con chó này chắc là một con chó to nặng tầm hai ba chục cân, chỉ một cái đùi sau thôi mà đã nặng đến hai ba cân rồi.
Chúng tôi vừa ăn vừa uống, đắc ý vô cùng, trong phòng bỗng lại có tiếng sột soạt. Lúc này, lũ ăn mày đang chịu đựng nỗi đau hành hạ, quả thực là sống không bằng chết. Tôi cất giọng hát vang: “Đời người như giấc mộng xuân.”
Hắc khất cái hát theo: “Cứ mở lòng mà uống vài chung.”
Tôi nối tiếp: “Trong chén rượu thấy đất trời rộng mở.”
Hắc khất cái đáp: “Trong vò rượu, nhật nguyệt cũng khác thường.”
Tôi lại hát: “Chẳng lo phiền muộn, chẳng vướng sầu vương.”
Hắc khất cái cười ha hả, hát theo: “Có rượu có thịt, ấy mới là cảnh đẹp trên đời.”
Từ xa vẳng lại tiếng báo canh, tiếng gõ khô khan liên tục bốn hồi, đã là canh tư rồi. Trong phòng vang lên tiếng ngáp ngắn ngáp dài, đám rác rưởi kia sắp đi ngủ rồi. Tôi chợt nảy ra một ý: phải trộm hết quần áo của chúng, như thế chúng sẽ không còn quấy rầy chúng tôi nữa.
Tôi và Hắc khất cái bước đi thật mạnh, cố ý gây tiếng động lớn khi rời khỏi đó. Dưới ánh trăng vằng vặc, chúng tôi thong thả rời đi, để cho đám người trong quán trọ nhìn thấy hai cái bóng đang khuất dần. Khi đã đi được chừng hai, ba dặm, cả hai lại lặng lẽ quay về. Bạch khất cái nấp ở góc tường, canh chừng cho tôi. Tôi lẻn vào gian bếp quán trọ, trộm lấy một hộp diêm. Thời ấy, người miền Bắc gọi diêm là “dương hỏa (lửa Tây)”, chỉ cần quẹt nhẹ là bén lửa; còn ở những nơi chưa có “dương hỏa”, người ta vẫn dùng “bùi nhùi”. Tôi đã nói qua về thứ này: đó là cây ngải cứu phơi khô, bện thành sợi dây nhỏ, đầu lửa âm ỉ cháy suốt như hương đuổi muỗi sau này. Khi cần nấu nướng, chỉ việc hà hơi vào đầu bùi nhùi, ngọn lửa sẽ dần bốc lên. Tính ra, “dương hỏa” còn tiện lợi hơn “bùi nhùi” nhiều.
Trộm được hộp diêm trong bếp, tôi lại nhẹ nhàng mở cửa sổ căn phòng của Cái Bang đang ngủ, rồi trèo vào. Vừa nhảy xuống bệ cửa sổ, tôi lập tức ngửi thấy một mùi nồng nặc, cực kỳ khủng khiếp. Đó là mùi mồ hôi, mùi chân thối và mùi rắm rít hòa quyện với nhau. Đám ăn mày đã cởi quần áo, chất đống bên chân, rồi cứ thế trần truồng chui vào chăn. Hai ngày liên tiếp chúng nó bị chúng tôi chọc phá đến mức đầu óc quay cuồng, chúng cũng muốn được ngủ một giấc thật ngon. Hơn nữa, bọn chúng thường xuyên không tắm giặt, không thay quần áo, nên trong nếp vải đã sinh đầy chấy rận. Để ngủ được thoải mái, chúng buộc phải cởi hết quần áo ra.
Tôi ném hết quần áo của bọn ăn mày ra ngoài cửa sổ, Hắc khất cái ở ngoài tiếp ứng. Sau đó, tôi nhảy ra khỏi cửa sổ, gom đống quần áo rách rưới, bẩn thỉu này lại, rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa đỏ liếm vào những bộ quần áo cũ nát, từng đàn chấy rận to bằng hạt đậu xanh hốt hoảng bò tán loạn trong ngọn lửa. Những tiếng lốp bốp phát ra liên tục, đó là tiếng những con rận căng tròn bị nổ tung. Bọn ăn mày ngủ say như chết, ngay cả tiếng rận nổ cùng ngọn lửa rực sáng cũng chẳng đánh thức nổi chúng nó.
Cuối cùng, quần áo của bọn ăn mày cũng biến thành tro. Chúng tôi giận dữ đứng trước đống tro vẫn còn ánh lửa màu vàng, trút một bãi nước tiểu lên đó, rồi mới giẫm chân lên ánh trăng vụn vỡ dưới đất mà đắc thắng trở về. Chúng tôi quay về quán trọ ngoại ô Trương Gia Khẩu, ngủ một mạch đến tận giữa trưa hôm sau. Sau khi tỉnh giấc, chúng tôi gặp lại Báo Tử và Bạch khất cái. Hai người họ hỏi chúng tôi đã đi đâu suốt hai ngày qua. Thế là chúng tôi kể lại tường tận chuyện đã hành hạ bọn ăn mày ra sao, nghe xong cả hai ôm bụng cười ngặt nghẽo, cười đến chảy cả nước mắt nước mũi.
Bạch khất cái nói: "Thế này thì Cái Bang sẽ không còn quấy rầy chúng ta nữa rồi."
Báo Tử nói: "Cứ tưởng Ngai Cẩu là người thật thà lắm, ai dè cũng tinh ranh, quỷ quái ra phết."
Chúng tôi rời khỏi quán trọ, tiến về Trương Gia Khẩu. Quả nhiên, phía sau chẳng còn tên ăn mày nào bám theo nữa. Bọn chúng không thể đuổi kịp, bởi ngay đến cửa quán trọ cho thuê xe ngựa, chúng cũng chẳng bước ra nổi.