Tổ Bịp

  • 5106 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 63: Đám bày cờ thế là tai mắt của Hưởng Mã.
Con chim kia lướt qua bầu trời huyện thành Định Biên, rồi bổ nhào xuống một khoảnh sân như một tảng đá khổng lồ. Nó cất lên một tiếng kêu kỳ lạ, âm thanh vang vọng, mạnh mẽ, đèn trong sân cũng sáng lên.
Tôi thấy lạ vô cùng, đây rốt cuộc là giống chim gì mà thể hình lại lớn đến như thế? Không lẽ gia đình này nuôi nó? Nhưng tại sao họ lại nuôi một con chim lớn đến vậy?
Khoảnh sân vừa bật đèn sáng thuộc căn thứ ba của dãy nhà phía trước. Tò mò, tôi tụt xuống dưới gốc cây hòe, tiến đến trước cửa nhà, định bụng nhìn trộm vào bên trong qua khe cửa. Nhưng cánh cửa đã đóng chặt, bên trong tối om. Tôi vòng ra phía sau sân, dùng tay khoét một hõm nhỏ làm chỗ đặt chân trên bức tường đất cao chừng một mét. Sau đó, tôi lùi lại mười mấy mét, dồn sức chạy đà, đạp mạnh chân lên chỗ vừa khoét ấy. Cả người tôi vọt lên cao, theo đà bám chặt vào đám dây leo và rễ cỏ trên đầu tường, rồi trèo lên hẳn trên đó.
Thời bấy giờ, tường nhà nông thôn ở Tây Bắc đa phần đều là tường đất. Loại tường đất này được đắp theo kiểu trên hẹp dưới rộng, hai bên bó bằng những thanh xà gỗ, bên trong lèn đầy đất sét ẩm rồi dùng chày đá đầm chặt từng lớp một. Đất sau khi nện kỹ sẽ kết thành khối, tháo xà ra là thành tường. Người ta gọi công việc ấy là “đánh tường”.
Tầng đất trên cùng của bức tường, do không phải chịu áp lực nên không cần nén chặt, chỉ dùng hai tay miết thành hình bán cầu. Đất trên đỉnh tường tơi xốp, chim chóc thường hay tới đậu, cũng rải cả hạt cỏ lên đó. Lâu dần, trên tường mọc đầy các loại dây leo cùng đủ thứ cỏ dại. Qua nhiều năm tháng, bộ rễ của đám cỏ dại và dây leo này phát triển và ăn sâu vào tường làm bức tường càng thêm vững chắc. Ở vùng Thiểm Bắc, đến nay vẫn còn có thể nhìn thấy những đoạn Trường Thành xưa do nước Ngụy và nước Tần đắp bằng đất sét, đứng sừng sững qua hàng nghìn năm mà chưa sụp đổ.
Tôi nằm rạp trên tường, ghé mắt nhìn vào trong sân. Trong sân vắng tanh chẳng thấy một bóng người. Tôi liền bóc một cục đất trên tường, định ném xuống để "dò đường" thì cửa phòng bỗng hé mở. Một bóng người gầy gò bước ra. Dưới ánh trăng mờ mờ, tôi thấy một bộ râu dài ba chòm phất phơ. Đó chính là lão già râu ba chòm mà ban ngày tôi thấy trong góc ngôi miếu đổ nát. Hóa ra, trong phòng vẫn còn mấy người khác nữa. Tôi không thể thấy rõ mặt bọn chúng, nhưng chắc chắn là đám chim mồi chuyên bày cờ thế để lừa người cùng lão.
Bọn chúng đích thị là những kẻ tôi đang tìm kiếm.
Lão già râu ba chòm đi nhà xí một lát. Khi lão ta trở về, cửa phòng không đóng lại nữa. Ánh đèn trong phòng hắt ra sân, hòa cùng ánh trăng, cả khoảng sân ngập trong một lớp sáng bạc dìu dịu. 
Tôi vẫn nằm yên trên tường, định chờ bọn chúng khép cửa lại rồi mới lén tụt xuống nghe trộm. Nhưng đợi mãi, cửa vẫn không đóng, tôi cũng chẳng dám động đậy.
Tình thế này thật không hay. Nếu bọn chúng để cửa mở suốt đêm, chẳng lẽ tôi cứ phải ngồi trên tường đợi cả đêm hay sao? Mà sáng mai, tôi còn phải đi vận tiêu, đâu thể chờ mãi được. Bỏ đi thì không cam lòng, bởi nếu đám lão Tra này đang tính chuyện hại người, tôi tuyệt đối không thể để âm mưu của bọn chúng thành công.
Nghĩ mãi, cuối cùng tôi cũng nảy ra một kế.
Tôi tụt xuống khỏi tường, đi dọc theo các con phố trong huyện thành Định Biên… Đi được một đoạn, tôi ngửi thấy mùi rượu nồng đậm bay ra. Nơi nào có mùi rượu như thế, nhất định là gần xưởng nấu rượu.
Tôi trèo qua tường vào trong xưởng rượu, thấy trong sân có vài cái chum to, bên trong chứa đầy hèm rượu. Hèm rượu là phần xác còn lại sau khi nấu rượu; rượu làm từ lương thực nên hèm rượu cũng là lương thực. Tôi nhón lấy hai nắm bỏ vào trong túi, rồi trèo qua tường ra ngoài.
Tôi đi về phía cái sân nơi lão già râu ba chòm đang ở. Sau vài bước chân, tôi thấy bên đường có một dãy nhà hầm, bên cạnh nhà hầm, cao hơn đầu người một chút, có một cái ổ gà. Ổ gà là cái hốc đất khoét trên tường, dùng ván gỗ chắn lại, mục đích là để ngăn chồn vàng chui vào. Chồn vàng rất khôn, xương cốt của nó mềm dẻo, chỉ cần một khe hở nhỏ cũng có thể chui vào được. Dân gian vẫn cho là chồn vàng biết thuật “rút xương”.
Tôi giơ tay lên, kéo tấm ván ra. Mấy con gà bên trong khẽ kêu “cục cục” đầy vẻ nghi hoặc. Tôi bỏ hèm rượu vào bên trong, rồi lại đóng tấm ván lại. Lát sau, tôi nghe trong ổ gà có những tiếng mổ lách chách như đang tranh nhau ăn.
Tôi đứng im bên dưới ổ gà một lúc, đợi đến khi bên trong không còn chút động tĩnh nào nữa, bấy giờ mới mở ván ra. Một tay tôi túm lấy con gà vẫn còn say sưa, bước về phía sân
Cánh cổng của ngôi nhà kia vẫn đóng chặt. Tôi nhìn qua khe hở của cánh cổng và thấy cửa nhà trong sân vẫn đang mở. Tôi dùng một mảnh đá cắt đứt cổ con gà, bẻ gãy chân mó, rồi lấy máu gà còn nóng hổi bôi lên cánh cổng sân, sau đó núp trên một cái cây gần đó.
Chẳng mấy chốc, những con dơi đã bay đến từ trên cao, thoạt đầu chỉ có một con, rồi đến cả chục con, và sau cùng là hàng trăm con. Đàn dơi đen kịt, che kín cả một khoảng trời, rồi đâm sầm vào cánh cổng, hút lấy hút để máu gà. Tiếng cổng bị va đập phát ra những "lạch cạch".
Trong sân vang lên tiếng bước chân, kế đó cánh cổng “kẽo kẹt” mở ra. Đàn dơi lập tức tản đi, lượn vòng rồi bay vút lên bầu trời tối đen. Người đó đứng ngay ngưỡng cửa, dường như đang lắng nghe điều gì, ngập ngừng một thoáng, rồi chậm rãi khép cánh cổng lại.
Chẳng bao lâu sau, đàn dơi lại kéo đến, lao vào cổng tạo nên những tiếng “lạch cạch” liên hồi. Cánh cổng lại được mở ra, bầy dơi bay vút lên trời đêm. Lần này, người mở cửa đứng nán lại lâu hơn, quan sát hồi lâu thấy xung quanh không có dấu hiệu gì khả nghi mới yên tâm đóng cổng lại.
Tôi khẽ trườn xuống từ thân cây, men ra phía sau căn nhà, rồi leo lên bức tường hậu. Từ chỗ nấp trên tường, tôi nhìn thấy trong sân có chừng năm sáu người, ai nấy đều căng thẳng như đang đối đầu với đại địch, tay lăm lăm nào đao, nào chĩa, nào gậy gộc, mắt dán chặt về phía cánh cổng. Đèn trong phòng đã tắt, cửa chính thì mở toang.
Ngoài cổng lại vang lên những tiếng lạch cạch. Đám người kia rón rén tiến lại gần, khom lưng mở cổng. Nhân lúc ấy, tôi tụt xuống tường, chui vào trong nhà phòng. Bước chân tôi nhẹ như mèo. Tôi trèo lên thành bệ giường, với tay là chạm đến xà nhà, hai tay bám chặt, nhướn người một cái đã bò được lên trên. Tôi nghĩ bọn chúng sẽ sớm quay lại, nào ngờ bọn chúng vẫn mải mê chơi trò “đuổi dơi”, vẻ mặt tên nào cũng căng thẳng nhưng lại có phần thích thú, quyết không chịu bỏ cuộc chừng nào chưa biết rõ nguyên nhân.
Mặt trăng lộ nửa khuôn mặt từ trong tầng mây, dáng vẻ như còn ngần ngại. Ánh trăng chiếu qua ô cửa mái, rải xuống gian phòng, khiến mọi vật trong đó trở nên mờ mịt, chập chờn. Tôi thấy trên chiếc bàn Bát Tiên đặt giữa nhà dường như có một tờ giấy, cạnh đó là một ống sậy, nhưng chữ viết trên giấy thì tôi không nhìn thấy rõ.
Ngoài sân, đám Lão Tra vẫn mải mê chơi trò đuổi bắt với bầy dơi, hoàn toàn không hay biết trong nhà đã có thêm một người nữa.
Tôi nhẹ nhàng tụt xuống khỏi xà nhà, bước tới cầm lấy tờ giấy, đưa ra dưới ánh trăng xem kỹ. Thấy trên đó viết:
“Trong tiêu cục có bao nhiêu người, bao nhiêu lạc đà, chở loại hàng gì, lập tức tra rõ rồi báo về.”
Tôi giật mình. Những kẻ này chẳng phải Lão Nguyệt, cũng không phải Lão Tra, e rằng chính là tai mắt của bọn Hưởng Mã, mà còn có thể đang mưu hại chúng tôi.
Tôi gấp tờ giấy lại, nhét vào túi áo, rồi cầm lấy ống sậy, lặng lẽ bước ra khỏi phòng. Lúc này tôi mới hiểu ra: bọn Hưởng Mã dùng cách “Phi Cáp truyền thư”, cuộn mật báo lại, nhét vào ống sậy, buộc vào chân con chim lớn ấy. Con chim bay đến chỗ lão già ba chòm râu ở huyện thành Định Biên, lão ta đọc xong thì viết hồi âm, nhét vào ống sậy, buộc vào chân chim, để nó bay về phía bọn Hưởng Mã. Chính nhờ cách này mà chúng có thể liên tiếp cướp được ba chuyến tiêu của Quang Đầu.
Trong sân, đám người kia vẫn không hiểu rốt cuộc bên ngoài có chuyện gì, chẳng biết thứ đập cửa nửa đêm là người hay quỷ. Cả bọn chụm đầu lại thì thầm bàn tán, không khí sợ hãi bao trùm khắp sân. Tôi men đến góc tường phía sau, nơi có một căn nhà chứa củi thấp tè, trèo lên mái nhà đó là có thể bám vào đầu tường.
Tôi vừa đặt chân lên mái nhà, trong viện bỗng vang lên một tiếng chim rít chói tai. Con chim khổng lồ ấy bất ngờ tung cánh lao thẳng về phía tôi. Trong tay không có thứ gì phòng thân, tôi vội ném cây ống sậy đang cầm về phía nó. Thế nhưng, khi bay lên giữa không trung, con chim lại bị sợi dây buộc ở chân kéo ngược về, rồi ngoạm lấy ống sậy, chẳng thèm để ý tới tôi nữa.
Tiếng kêu của nó lập tức kinh động đám người trong sân. Bọn chúng nghe thấy tiếng ồn ào liền chạy tới. Tôi vội trèo lên tường, trượt xuống bên ngoài rồi cắm đầu chạy.
Sau bức tường chỉ có một con đường nhỏ, con đường ấy dẫn vào một ngõ hẹp. Tôi chạy đến cuối ngõ mới phát hiện đó là ngõ cụt, trước mặt là một bức tường cao chắn ngang.
Phía sau, tiếng chân của bọn lão già râu ba chòm đã đuổi đến nơi, dồn dập như mưa rơi. Trong tay chúng toàn là đao, chĩa, gậy gộc; còn tôi thì tay không tất sắt. Bọn chúng đông người, tôi chỉ có một mình, giờ biết phải làm sao đây? Mồ hôi tôi vã ra như tắm.
Đột nhiên, từ trên tường đối diện thả xuống một sợi dây, rồi có tiếng người gọi:
“Ngai Cẩu, nắm lấy dây đi!”
Tôi chẳng biết người đó là ai, nhưng không kịp suy nghĩ, lập tức nắm dây trèo lên tường. Lúc này, bọn lão già râu ba chòm đã đuổi đến cách tôi chỉ chừng hai, ba chục bước, song chúng bỗng khựng lại, không dám tiến thêm.
Tôi nhìn sang, thấy trên mái ngói phía xa có một người đang đứng. Hắn giương ná, nhắm thẳng vào bọn đuổi theo mà bắn, mỗi phát trúng một tên. Bọn lão già râu ba chòm la hét thảm thiết, ôm lấy khuôn mặt đầy máu me, miệng không ngớt kêu cha gọi mẹ.”
Tôi nhảy xuống khỏi tường, lúc này mới nhìn rõ, người cứu tôi chính là Mắt Híp.
Tôi hỏi:
“Sao anh lại ở đây?”
Mắt Híp đáp:
“Còn chú em thì sao? Lén ra ngoài một mình làm gì, cũng chẳng nói với bọn anh lấy một tiếng. Chú xem đêm nay nguy hiểm thế nào rồi đấy.”
Tôi nói:
“Làm sao các anh biết em ở đó? Người bắn ná trên mái nhà là ai vậy?”
Mắt Híp đáp:
“Là chú Báo Tử chứ ai, đến cả chú Báo Tử của mình cũng không nhận ra à?”
Lúc đó tôi vừa thoát khỏi tay Bọn lão già râu ba chòm, tim vẫn còn đập thình thịch, lại cách xa đến thế, sao mà nhận ra chú Báo Tử?
Về sau tôi mới biết, sau khi tôi rời khỏi căn nhà nơi chúng tôi tá túc, gã thấp bé đã lập tức báo cho Quang Đầu biết. Dọc đường đi vận tiêu, mọi người trong tiêu cục đều gia tăng phòng bị, sợ nhất là gặp cướp giữa đường. Quang Đầu đang phân vân chưa rõ chuyện gì thì Báo Tử đi vào, nói rõ ý định của tôi. Quang Đầu sợ tôi gặp nguy hiểm, bèn sai Báo Tử dẫn Mắt Híp âm thầm bám theo, bảo vệ tôi từ xa.
Khi tôi quay về chỗ ở, gặp lại Quang Đầu cùng mọi người, tôi giao tờ giấy kia cho họ. Sắc mặt người nào cũng trầm xuống.
Tôi lại kể cho họ nghe chuyện con chim lạ kia. Quang Đầu nói:
“Loại chim đó gọi là Ưng Chuẩn, cực kỳ dữ tợn mà cũng rất có linh tính. Ở vùng Tây Bắc, người ta vẫn dùng nó để đưa tin.”
Tôi nói:
“Con chim ấy khôn thật đấy, thấy tôi trộm được tờ giấy trong phòng là xông tới tấn công ngay.”
Quang Đầu nói: “Không phải nó muốn tấn công cậu đâu, mà là muốn bay đến bên cậu để cậu buộc ống sậy vào chân nó. Ưng Chuẩn được huấn luyện rất kỹ, khi thấy cậu cầm ống sậy nó tưởng là được giao nhiệm vụ đưa thư.”
Chừng nửa canh giờ sau, Báo Tử mới quay lại. Trong túi nhét một chiếc ná, dây da bò còn nảy tưng tưng như con chim nhỏ. Báo Tử rút ná trả lại cho Quang Đầu. Quang Đầu nói: “Đừng tưởng đi vận tiêu phải dựa vào đao hay súng, thật ra thứ lợi hại nhất vẫn là cái ná này.”
Tôi thấy lạ: đi vận tiêu đường dài ẩn chứa biết bao rủi ro, không biết lúc nào bọn cướp sẽ xuất hiện. Muốn đẩy lui bọn cướp thì phải dùng đao súng thật, sao có thể nói đao súng không bằng ná được?
Quang Đầu đưa tờ giấy tôi trộm được cho Báo Tử xem, nói: “Lần này Ngai Cẩu lập được đại công rồi”
Báo Tử hơi cau mày, nét mặt vẫn điềm nhiên, nhưng tôi nhận ra ông đang giấu kín niềm vui trong lòng. Dù sao tôi cũng là người do Báo Tử dẫn đến đây, mà Quang Đầu lại khen tôi ngay trước mặt ông, hẳn trong lòng Báo Tử cũng mừng lắm.
Báo Tử nói: “Chúng ta cứ tưởng đám này là Lão Tra, ai ngờ lại là bọn hưởng mã.
Quang Đầu nói: “Không ngờ đám hưởng mã đã chú ý đến chúng ta sớm thế.”
Mắt híp nói: “Đám hưởng mã này thật khó đối phó, chắc chắn ba chuyến tiêu trước cũng là bọn chúng cướp.”
Quang Đầu hỏi Báo Tử: “Liệu đám hưởng mã này có biết tối nay chúng ta hành động không?”
Báo Tử đáp: “Chắc không biết đâu. Sau khi Ngai Cẩu chạy đi, tôi cố ý dẫn bọn chúng đi vòng rất xa ngoài thành, cắt đuôi bọn chúng xong rồi mới quay về.”
Quang Đầu bảo mọi người tranh thủ nghỉ ngơi, trời vừa sáng là phải lập tức lên đường, thoát khỏi tầm theo dõi của đám hưởng mã do Lão già râu ba chòm cầm đầu.
Tôi thấy bên mình có hơn mười người, ai cũng biết võ nghệ, còn bọn lão già râu ba chòm chỉ năm sáu người. Tôi đề nghị: “Hay là tối nay nhân cơ hội này, kết liễu luôn bọn hưởng mã đi.”
Quang Đầu im lặng cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ. Báo Tử là khách nên cũng không nói gì, ông hiếm khi đưa ra ý kiến vội vàng. 
Mắt Híp nghe tôi nói thì phụ họa: “Ngai Cẩu nói đúng đấy, cứ để tôi dẫn theo vài người, xử gọn bọn chúng rồi đào hố chôn luôn, bảo đảm không để lại dấu vết gì.”
Quang Đầu bỗng nổi giận, quay sang quát: “Toàn nói vớ vẩn, đi ngủ ngay!”
Mọi người lặng lẽ tản ra. Tôi và Mắt Híp đi sau cùng, tiện thể liếc nhìn dò hỏi, hắn chỉ khẽ lắc đầu, vẻ bất lực hiện rõ trên mặt.
Thật ra chúng tôi đông người, mà bọn cướp chỉ có năm sáu tên; lại có mấy đứa tối qua bị Báo Tử bắn ná trúng, chỉ cần dốc hết sức thì việc hạ sát bọn chúng dễ như trở bàn tay. Làm xong, cũng chẳng ai biết. Vậy mà Quang Đầu lại không đồng ý. Tôi nghĩ mãi vẫn chẳng hiểu là vì lý do gì.
Tôi về phòng, thấy Báo Tử vẫn đang nói chuyện cùng Quang Đầu. Không rõ chú trở lại từ khi nào, có lẽ cả đêm chưa chợp mắt. Đến khi tôi tỉnh dậy, trời đã hửng sáng, tiếng gà gáy vang vọng khắp nơi, mỗi tiếng như làm ánh bình minh rực rỡ thêm một tầng.
Chúng tôi buộc hành lý lên lưng lạc đà, đổ đầy nước vào hồ lô, nhét mấy chiếc bánh mì dẹt vào bao, chẳng kịp rửa mặt đã vội lên đường. Từ Định Biên đi về phía tây là đến Ninh Hạ, con đường chỉ có một lối đi. Trước mắt toàn sa mạc lởm chởm đá, đi mãi mới thấy một cái cây, mà cây cũng chỉ là bụi thấp, cành lá phủ đầy cát bụi. Nhiều lúc nhìn xa tưởng là một đống đá, đến gần mới nhận ra đó là con cừu, cặp sừng to uốn cong, trông còn lớn hơn cả thân mình nó.
Cả đoàn hối hả bước đi, người và lạc đà mồ hôi nhễ nhại. Khi quay đầu lại, thấy mặt trời đã nhô lên sau dãy núi phía đông, phía sau chẳng còn bóng người, tôi đoán lão già râu ba chòm chắc không kịp đuổi theo.
Trời mỗi lúc một nắng gắt, cát nóng hầm hập, người lẫn lạc đà đều thở dốc. Có người đề nghị dừng chân nghỉ ngơi, đun nước nấu cơm, nhưng Quang Đầu bắt mọi người đi nhanh hơn, ông đốc thúc: “Đói thì cắn miếng bánh mì, tuyệt đối không được dừng lại.”
*“Bánh mì dẹt” là món đặc sản của vùng Thiểm Bắc: trong chảo sắt cho những viên sỏi nhỏ, đun thật nóng, rồi vùi bánh bột mì vào giữa lớp sỏi ấy, đậy nắp lại một lúc, bánh sẽ chín vàng thơm phức. 
Sau khi vượt qua một ngọn đồi rồi lội qua một con sông, vẫn không thấy bóng người đuổi phía sau, đoán chừng đã thoát khỏi tầm mắt bọn cướp, Quang Đầu mới ra lệnh cho đoàn đi chậm lại, tiếp tục tiến về hướng tây.
Mắt Híp nói mình muốn đi nặng, Quang Đầu giục hắn đi thật nhanh. Tôi cũng thấy bụng tưng tức, bèn bảo sẽ cùng Mắt Híp đuổi theo sau đoàn. Chúng tôi tìm được một bờ đê cao hơn đầu người, ngồi xổm xuống giải quyết cho xong. Từ chỗ ấy có thể nhìn rõ con sông mà chúng tôi vừa mới lội qua ban nãy.
Tôi hỏi Mắt Híp: “Sao sáng ra chẳng thấy ai rửa mặt thế? Em thấy khó chịu chết đi được. Lúc nào cũng có cảm giác dính dấp, bẩn thỉu.”
Mắt Híp đáp: “Gió cát Tây Bắc mạnh lắm, nắng thì gắt. Nếu rửa mặt rồi đi tiếp, gió sẽ thổi rách da, còn nắng thì cháy bong từng mảng. Vì thế dân đi vận tiêu ai cũng biết là không được rửa mặt.”
Tôi gật đầu: “Thì ra là thế.”
Tôi lại hỏi: “Vậy chúng ta muốn trừ khử tai mắt của đám cướp, vì sao họ lại không đồng ý?”
Mắt Híp đáp: “Cái đó anh cũng chẳng rõ. Nếu đám ấy chết, ai mà biết được chứ. Giờ nghĩ lại, giá tối qua ra tay thì hôm nay đâu cần dậy sớm thế này. Cả đêm chẳng ngủ ngon, giờ buồn ngủ muốn chết.”
Tôi cười: “Em cũng vậy.”
Vừa kéo quần đứng dậy, vươn vai ngáp dài, tôi định quay lại đuổi theo đoàn vận tiêu thì bỗng thấy trên mặt sông xuất hiện vài bóng người.
Mắt Híp cũng trông thấy, hắn chỉ tay về phía mấy người kia rồi hỏi: “Đó là ai vậy?”
Tôi nói: “Em nhìn không rõ.”
Mắt Híp đáp: “Anh cũng không nhìn được rõ.”
Tôi cười: Đến mắt to như em còn chẳng nhìn ra, thì mắt bé như anh làm sao mà thấy được?”
Mắt Híp cãi: “Mắt anh tuy nhỏ nhưng biết thu tầm nhìn.”
Tôi nói: “Vậy chúng ta mau nấp đi, xem rốt cuộc là ai.”
Chúng tôi ẩn mình sau một đống đá vụn, căng mắt quan sát. Mấy người kia lội qua sông, nước ngập đến gối, bước chậm như cua bò. Nhìn về phía trước chẳng thấy đoàn vận tiêu đâu, chắc là họ đã đi xa. Mấy người kia tiến gần, gió thổi đến làm chòm râu trước ngực người dẫn đầu bay phất phơ, chính là lão già râu ba chòm cùng đám tai mắt của bọn hưởng mã.
Tôi nói với Mắt Híp: “Chính bọn này tối qua đã giở trò với em, không ngờ lại lén bám theo suốt dọc đường.”
Mắt Híp hỏi: “Giờ tính sao?”
Tôi đáp: “Giết chúng nó, anh có dám không?”
Mắt Híp nhổ một bãi nước bọt: Trên đời này không có chuyện gì anh mày không dám làm, thích thì chơi luôn!”
Tôi bảo: “Bọn chúng đông người hơn, tụi mình chỉ có hai người, muốn giết chúng nó thì hơi khó đấy.”
Mắt Híp nói: “Hay là tụi mình đuổi theo đoàn, tìm thêm vài người trợ giúp?”
Tôi đáp: “Bọn họ sẽ không đồng ý cho tụi mình ra tay đâu, có nói với họ cũng bằng thừa thôi.”
Mắt Híp hỏi: “Vậy phải làm thế nào?”
Tôi nói: “Bọn chúng ở chỗ sáng, tụi mình ở chỗ tối. Tụi mình cứ lén lút hạ thủ, không giết được chúng nó đi nữa, cũng khiến chúng nó phải chậm lại một chút. Sau đó, tụi mình sẽ đuổi theo đoàn vận tiêu để báo tin.”
Mắt Híp nói: “Vậy cứ làm như thế đi!”
Tôi và Mắt Híp chạy lên phía trước, mắt không ngừng đảo nhanh sang hai bên để tìm kiếm địa hình có thể lợi dụng. Trong đầu tôi, những ý nghĩ cũng liên tục xoay vần, cố nặn ra một kế sách khả thi để đối phó đám Hưởng Mã này. Hưởng Mã thường có võ công không phải hạng xoàng, nếu chỉ dựa vào hai đứa tôi mà muốn hạ được năm sáu tên tai mắt của chúng nó, thì phải dùng đến mưu kế nếu không chắc chắn sẽ thất bại.
Chúng tôi chạy được chừng ba bốn dặm, rồi vào một hẻm núi sâu hút. Hai bên hẻm núi là vách đá dựng đứng, chỉ có một lối mòn len lỏi qua khe nứt của hẻm. Ngẩng mặt lên, tôi chỉ thấy một vệt trời mỏng manh. Một con chim ưng già lướt qua trên đỉnh hẻm núi, bóng nó thoáng qua vách đá rồi vụt biến mất.
Tôi nói: “Chính là chỗ này.”
Mắt Híp nói: “Nơi này gọi là Nhất Tuyến Thiên. Mỗi lần vận tiêu qua đây phải hết sức đề phòng, chỉ sợ trên vách đá có mai phục. Nhưng để bố trí mai phục ở đó, thì chỉ có cách leo lên theo những vách núi dựng đứng này. Chú nhìn xem hai bên này, cứ như được đẽo từ rìu ấy, không thể leo lên được. Mà muốn đi vòng từ bên ngoài núi để lên tới đỉnh vách đá, thì cũng phải mất ít nhất ba bốn ngày đường. Bởi vậy, nơi này trông thì có vẻ đáng sợ nhưng lại không nguy hiểm.”
Tôi cười: “Người khác không leo lên được, chứ em đây thì leo tốt. Em xuất thân từ gánh xiếc chuyên biểu diễn trò đi dây mà. Những vách đá đến cả loài khỉ cũng chịu thua thì em vẫn leo được như thường.”
Mắt Híp ngước nhìn vách đá, nói: “Nếu mai phục bọn Hưởng Mã ở đây, thì còn gì tốt hơn nữa! Cơ mà, cao thế này, dốc thế này, làm sao anh có thể leo lên được?”
Tôi nói: “Anh cứ đi thẳng về phía trước, tìm chỗ mà nấp đi, xem em hạ mấy thằng Hưởng Mã quê mùa này thế nào.”

Mắt Híp đi thẳng về phía trước. Tôi bèn cúi thấp người, bám vào khe đá, bắt đầu leo lên vách núi. Nhìn từ dưới lên, ai cũng tưởng vách núi này vô cùng hiểm trở, không có chỗ nào để bám. Thực tế, vách đá không phải là một khối đá nguyên vẹn, mà do rất nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau. Giữa các tảng đá đều có những khe nứt. Chỉ cần các ngón tay cắm được vào khe nứt, là tôi có thể leo lên. Dĩ nhiên, trong lúc leo núi, không được phép nhìn xuống dưới, nếu không sẽ thấy hoa mắt chóng mặt, nguy hiểm khôn lường.
Khi đã trèo lên tới đỉnh vách núi, tôi thấy đám tai mắt của bọn Hưởng Mã cũng vừa bước vào khe “nhất tuyến thiên” còn Mắt Híp thì đã nấp sau một tảng đá lớn phía trước. Thân người sau tảng đá nhỏ bé chẳng khác gì một con chim sẻ, nhưng vẫn ngẩng đầu nhìn lên, ánh mắt lo lắng dõi theo tôi.
Trên vách đá là một khoảng đất bằng, chừng độ một mẫu, khắp mặt đất toàn là đá: Tảng to thì bằng cái sọt đựng phân, còn tảng nhỏ thì chỉ cỡ nắm tay. Tôi chọn lấy những tảng thật to, vần từng tảng ra sát mép vực.
Sau đó, tôi thấy bọn chúng đi đến dưới chân vách núi. Mắt bọn chúng nhìn thẳng về phía trước, không thèm ngước lên. Có lẽ bọn chúng chẳng ngờ tôi đang mai phục ở ngay trên đầu mình. Tôi đẩy từng tảng đá lớn xuống, hết tảng này đến tảng khác. Con đường Nhất Tuyến Thiên vốn đã hẹp như dải lưng quần, rất khó di chuyển nên những tảng đá này, dù không rơi trúng bọn chúng, cũng sẽ chắn ngang con đường tiến lên phía trước.
Từ trên cao, tôi nghe rõ tiếng đá nặng nề rơi xuống đất và tiếng la hét kinh hoàng của bọn chúng, xen lẫn tiếng chim vỗ cánh lao vụt lên trời cao. Tôi thấy Tiểu Nhãn Kính giơ tay ra hiệu, tôi cũng phấn khởi đáp lại, rồi men theo sống núi mà chạy về phía trước.
Chạy được một quãng xa, không còn thấy bóng dáng đám tai mắt Hưởng Mã đâu nữa, tôi trượt dọc theo vách đá xuống, gặp lại Mắt Híp ở chân núi.
Cả hai đều phấn khích vô cùng. Tôi hỏi: “Có rơi trúng mấy thằng đó không?”
Mắt híp đáp: “Xa quá, nhìn không rõ lắm, nhưng nghe tiếng la hét như heo bị chọc tiết, chắc là trúng rồi.”
Tôi cười nói: “Giờ mà muốn đuổi kịp bọn mình chắc là khó lắm. Chỗ đá ấy đủ cho chúng nó dọn mất cả buổi.”
Chúng tôi vừa chạy vừa nhảy, y như học trò tan học. Sau chừng một canh giờ, cuối cùng cũng bắt kịp đoàn vận tiêu. Quang Đầu cùng Báo Tử đang nghỉ trong một bụi cây thấp.
Quang Đầu hỏi: “Sao giờ mới đuổi tới? Chú còn định cho người quay lại tìm hai đứa đấy.”
Mắt Híp cười rạng rỡ, vừa khoa tay múa chân vừa kể lại cảnh tôi phục kích đám tai mắt Hưởng Mã trên vách đá.
Mọi người đều nghe say sưa, chỉ riêng Quang Đầu mặt mày nghiêm nghị. Tôi cứ tưởng ông ấy sẽ vui mừng như chúng tôi, nào ngờ không phải vậy. Ông ấy nhìn hai đứa tôi, giọng trầm xuống:
“Có ai chết không?”
Mắt Híp đáp: “Chắc là có, nghe tiếng kêu thảm thiết lắm.”
Quang Đầu thở dài đầy bực bội, nói: 
“Hai đứa gây họa lớn rồi.” 
Tôi nghe mà chẳng hiểu gì. Bọn hưởng mã kia chẳng phải kẻ thù sao? Giết được địch lẽ ra phải là chuyện đáng mừng, sao còn nói là gây họa?
Lòng đang sôi sục bỗng lạnh ngắt. Tôi nằm vật xuống đất, nhìn đám mây trắng trôi qua trên cao, càng nghĩ càng không hiểu nổi thái độ của Quang Đầu. Ông làm nghề bảo tiêu hơn chục năm, từng cứu tôi và Tam sư thúc thoát chết, chắc chắn không phải người xấu. Lần này đích thân ông đi vận tiêu, dọc đường lúc nào cũng cẩn trọng, đề phòng mọi thứ, không thể là kẻ nội gián thông đồng với bọn cướp.
Vậy rốt cuộc ông là người thế nào?
Trên cao, một con chim ưng bay vút qua. Nó dang rộng đôi cánh rồi lao thẳng về hướng tây.

 

 

 

(Tổng: 5106 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0