Tổ Bịp
- 3033 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 30. Khảo thí nhập môn
Ngủ một giấc đẫy tới tận trưa hôm sau chúng tôi mới tỉnh. Băng Lưu Tử vừa bò dậy, câu đầu tiên đã hỏi tôi:
• Đêm qua tao nói gì với mày rồi?
Tôi nảy ra ý đề phòng, bèn đáp:
• Anh kể về mấy chuyện hồi nhỏ của anh thôi.
Băng Lưu Tử bảo:
• Ờ, tao mà say vào là hay nói nhảm lắm, mày đừng có tin.
Thế nhưng, tôi không thể không tin. Những chuyện gã kể đêm qua không cách nào thêu dệt được. Nếu là bịa đặt, hẳn sẽ có nhiều manh mối đứt đoạn, dễ dàng bị lật tẩy ngay. Người đời thường bảo đừng nói dối, vì nói một lời dối trá phải dùng mười lời khác để lấp liếm, cuối cùng càng lấp càng hở. Còn nếu là sự thật, dù có che đậy thế nào, những chi tiết và manh mối vẫn luôn có tính liên kết, bởi lẽ sự việc có thật luôn sở hữu một chuỗi logic vẹn toàn.
Tôi tin chắc gã chính là kẻ phản đồ của Lương Sơn Bang. Sau này khi làm ám tử cho tiệm quan tài ở huyện Bảo Hưng, gã cũng sẽ quen tay hay việc như thế.
Đã phản bội một lần, ắt có lần thứ hai; phản bội đến lần thứ hai sẽ thành nghiện, rồi cứ thế lún sâu trên con đường phản phúc.
Sau này, nhất định phải dè chừng gã này.
Băng Lưu Tử đề nghị hai đứa cùng bái Hổ Trảo làm sư phụ. Có một người thầy như Hổ Trảo, sau này ra giang hồ có thể hô mưa gọi gió, chẳng phải kiêng nể ai. Lão chính là viên gạch gõ cửa để chúng tôi bước tới vinh hoa phú quý.
Tôi hỏi:
• Hổ Trảo danh tiếng lẫy lừng như thế, liệu lão có chịu thu nhận chúng ta không?
Băng Lưu Tử nói:
• Giang hồ đồn rằng Hổ Trảo thu đồ đệ cực kỳ khắt khe, phải qua thi cử. Chỉ cần vượt qua khảo hạch là có thể đường đường chính chính nhập môn. Vả lại, Yến Tử - cháu gái lão - xinh đẹp như thế, tao muốn lấy cô ta làm vợ. Mà muốn cưới được nàng, bước đầu tiên phải làm đồ đệ của Hổ Trảo đã.
Băng Lưu Tử quả là kẻ tâm cơ thâm trầm. Gã không chỉ muốn bái sư mà còn mưu tính cưới cả Yến Tử. Cưới được nàng rồi, gã sẽ thừa kế gia sản của Hổ Trảo, trở thành thủ lĩnh vùng Tấn Bắc này.
Sao tôi lại chẳng nghĩ ra được những chuyện đó nhỉ? So với Băng Lưu Tử, tôi đúng là kẻ ngu muội không ai bằng.
Cuộc thi thu đồ của Hổ Trảo quả nhiên đúng như lời đồn đại: Trong vòng ba ngày, chỉ cần trộm được bất kỳ thứ gì từ nhà lão mang ra là có thể bái sư học nghệ.
Nhà Hổ Trảo vào thì tự do, nhưng khi ra phải chịu kiểm tra. Muốn trộm được một món đồ mang ra ngoài thực sự chẳng dễ dàng gì.
Đêm đầu tiên, chúng tôi vác theo một cây sào tre, bắc vào tường bao nhà Hổ Trảo, men theo sào leo lên mái nhà, chờ thời cơ lẻn vào trong viện hành sự.
Cũng cần phải nói thêm, nghề trộm cắp có rất nhiều công cụ mà người ngoài chưa từng thấy, cũng không biết công dụng của chúng. Ví như muốn vượt tường, có ba loại công cụ, tiếng lóng trong nghề gọi là "Ngạnh can", "Nhuyễn can" và "Súc can". Ngạnh can chính là sào tre, bắc sào bên ngoài tường để leo lên, sau đó kéo sào đặt vào bên trong để trượt xuống là vào được sân. Nhuyễn can là dây móc, tung móc bám vào cành cây hoặc mái hiên trong viện để leo tường vào. Súc can là một loại công cụ chế tác đặc biệt, trông như chiếc gậy chống nhưng bên trong có thể rút ra từng đoạn, dài tới cả trượng, tựa như ăng-ten ti vi sau này; khi vượt tường chỉ cần móc đầu cong của gậy lên bờ tường là leo lên được, rồi cứ thế mà vào bên trong.
Chúng tôi đợi trên mái nhà đến nửa đêm, bỗng thấy phía bên kia nóc nhà có bóng người tiến lại. Người nọ mặc đồ bó sát, dáng dấp yểu điệu, dưới ánh trăng, tôi nhận ra đó là Yến Tử.
Yến Tử cất lời:
• Hai người xuống đi, còn trốn ở đây làm gì nữa? Từ lúc các người bắc sào leo tường đã bị người ta nhìn thấy rồi.
Chúng tôi xám mặt, lủi thủi tụt xuống sào tre chuồn ra ngoài, lòng tràn ngập cảm giác thất vọng khó tả.
Đêm thứ hai, chúng tôi lại lẻn vào bếp nhà Hổ Trảo. Sợ bị tóm gọn cả mẻ, tôi nấp trong đống than dưới gầm bàn bếp, còn Băng Lưu Tử trốn vào trong vại nước. Hồi đó, nhà giàu ở phương Bắc thường đốt than, nhà nghèo mới đốt củi. Than đá bình thường cứ chất đống dưới gầm bàn. Thời ấy cũng chưa có nước máy, nhà nào cũng có vại nước, gánh nước giếng về đổ đầy vại để người và gia súc dùng dần, trên vại đậy một tấm ván gỗ.
Đến nửa đêm, hai tên gia nhân cầm đèn lồng đi tuần tra quanh viện. Chúng bước vào bếp, hai đứa tôi nín thở chẳng dám thốt một lời. Hai gã gia nhân bảo:
• Đừng trốn nữa, ra mau đi, một đứa dưới gầm bàn, một đứa trong vại nước.
Tôi lồm cồm bò ra, người ngợm đen nhẻm than đá, còn Băng Lưu Tử thì ướt như chuột lột trồi lên từ vại nước. Tên gia nhân mắng:
• Vại nước đang sạch sẽ thế này lại để mày làm bẩn mất rồi, ngày mai nhớ đổ hết nước bẩn đi rồi gánh cho đầy vại đấy.
Chúng tôi vội vàng gật đầu lia lịa, lủi thủi rời đi trong chán chường.
Hai ngày liên tiếp trắng tay, chúng tôi nản lòng đến cực điểm. Băng Lưu Tử muốn bái sư, tôi cũng vậy. Hổ Trảo là cây đại thụ tán lá xum xuê nhất vùng Tấn Bắc này, dưới gốc cây to mới mong có chỗ tựa nương.
Chỉ còn lại ngày cuối cùng, chúng tôi vẫn chưa nghĩ ra cách gì để vượt qua kỳ sát hạch. Thời gian cứ thế trôi đi, chúng tôi từng bước tiến gần đến cái kết cục đã định sẵn. Nếu hết hạn mà vẫn chưa xong việc, hai đứa chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn giới giang hồ Nhạn Bắc, thậm chí là chẳng còn chỗ đứng trong nghiệp trộm đạo nữa. Chúng tôi sẽ lại phải quay về kiếp lang thang nay đây mai đó, bữa đực bữa cái.
Trời sáng, hai đứa tới nhà Hổ Trảo, kéo xe nước của lão đi lấy nước tận trên đồi phía bắc thành Đại Đồng. Thời đó ở Đại Đồng có hai nguồn nước: một là nước ngầm (nước giếng) múc từ những giếng sâu trong thành; hai là nước suối, phải kéo xe lên núi phía bắc thành để lấy từ một con suối trong vắt trên đỉnh.
Nhà Hổ Trảo toàn dùng nước suối.
Cái vại lớn nhà lão phải chứa ít nhất ba xe nước mới đầy. Nghĩa là chúng tôi phải chạy đi chạy lại từ đồi về nhà lão ba chuyến mới xong. Đợi đến khi xong chuyến thứ ba thì trời cũng sập tối. Lúc ấy mệt bở hơi tai, bò không nổi thì còn trộm cắp gì được nữa. Chưa kể để đề phòng chúng tôi, nhà lão canh phòng cẩn mật, đến con kiến cũng khó lòng lọt qua.
Đến chuyến thứ hai, do không ghìm được càng xe, chiếc xe nước lao rầm rầm xuống dốc rồi lật nhào, đè lên cả Băng Lưu Tử.
Băng Lưu Tử nằm vật ra đất, kêu rên:
• Chân tao gãy rồi!
Tôi vội vã vẫy một chiếc xe không đang lên núi lấy nước, nhờ họ chở Băng Lưu Tử tới tiệm thuốc trong thành Đại Đồng. Suốt dọc đường, gã cứ xuýt xoa kêu đau không dứt.
Đến tiệm thuốc gặp thầy lang, ông ta hỏi han tình hình, Băng Lưu Tử bảo cổ chân đau thấu xương, chắc là gãy rồi. Ngón tay thầy lang vừa chạm vào cổ chân gã, Băng Lưu Tử đã hét lên xé lòng xé dạ.
Tôi nói với thầy lang:
• Chúng tôi không có tiền, nhờ ông cứ chữa trị cho anh ấy trước, tôi sẽ đi gom tiền sau.
Thầy lang lấy ra một xấp thảo dược và mấy thanh nẹp, cố định cổ chân cho Băng Lưu Tử rồi để gã nằm trên giường bệnh ở hậu viện tiệm thuốc. Tôi lập tức lao vút đi tìm Hổ Trảo.
Trong người hai đứa chẳng có bao nhiêu tiền, muốn chữa thương cho Băng Lưu Tử thì chỉ còn cách vay của Hổ Trảo. Ở Đại Đồng này chúng tôi cũng chỉ quen biết mỗi lão.
Tôi chạy hụt hơi tới nhà Hổ Trảo, thuật lại chuyện Băng Lưu Tử bị gãy cổ chân. Lạ là Hổ Trảo chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên, lão thản nhiên bảo:
• Ta biết rồi.
Dứt lời, lão sai gia nhân đưa cho tôi một trăm đồng đại dương.
Cầm bọc tiền trong ngực, tôi rảo bước về phía tiệm thuốc, lòng đầy nghi hoặc: Sao Hổ Trảo lại biết Băng Lưu Tử bị thương? Phải rồi, chắc chắn ba ngày qua lão luôn sai người theo đuôi chúng tôi. Kẻ đó thấy chúng tôi leo tường, nấp trên mái nhà liền báo về; thấy chúng tôi trốn trong bếp cũng báo về; và khi chúng tôi lật xe nước, hắn cũng chẳng bỏ qua.
Hổ Trảo đúng là cáo già giang hồ. Một mặt lão yêu cầu chúng tôi trong ba ngày phải trộm được đồ, mặt khác lại âm thầm theo dõi, mọi hành tung của chúng tôi đều nằm trong lòng bàn tay lão.
Gặp phải hạng tinh đời như Hổ Trảo, làm sao mà trộm được thứ gì đây?
Đường từ nhà lão tới tiệm thuốc phải qua mấy khúc ngoặt. Mỗi khi tới chỗ rẽ, tôi lại cố tình đi khuất rồi bất thình lình quay ngược lại xem có kẻ nào bám đuôi không, nhưng chẳng thấy ai. Tôi đi thêm một đoạn xa, rồi đột ngột trèo lên ngọn một cây cổ thụ ven đường. Việc leo trèo với tôi dễ như ăn kẹo, tôi đứng trên chạc cây nhìn về phía đường cũ, vẫn chẳng thấy bóng dáng kẻ bám đuôi nào.
Vậy thì hẳn là thế này: Trước khi lật xe, Hổ Trảo luôn sai người theo dõi; nhưng sau khi gã kia bị thương, lão đã cho gọi kẻ đó về.
Một kẻ trộm bị gãy cổ chân, cùng một đứa khác phải tất bật chăm sóc thì còn tâm hơi đâu mà lẻn vào cái dinh cơ tường cao cửa kín nhà lão nữa. Huống hồ, đây đã là đêm cuối cùng. Qua đêm nay, cuộc khảo hạch sẽ kết thúc.
Tôi quay lại tiệm thuốc, thanh toán tiền nong cho thầy lang rồi ngồi bên cạnh giường Băng Lưu Tử. Trong bóng tối, hai đứa lặng lẽ đợi chờ giờ Tý đến.
Nửa đêm, đường phố vắng lặng như tờ, không một ánh đèn. Băng Lưu Tử tháo phăng mấy thanh nẹp trên chân, nhảy xuống giường rồi lẻn ra khỏi tiệm thuốc. Tôi bám theo sau. Chân gã chẳng gãy gì cả, tất cả chỉ là màn kịch diễn cho Hổ Trảo xem.
Chúng tôi tới trước nhà Hổ Trảo, thấy bên trong tối đen như mực, cổng đóng then cài. Hai đứa vác cây sào tre đã giấu sẵn từ trước, bắc lên tường rồi leo lên. Ghé tai nghe ngóng thấy trong viện không có động tĩnh gì, chúng tôi nhẹ nhàng tụt xuống.
Mọi cánh cửa trong nhà Hổ Trảo đều đóng chặt, không cách nào đột nhập. Nhưng trên vòng cửa của một căn phòng, chúng tôi thấy treo một cái phất trần bằng da. Loại phất trần này hiện nay ở một số vùng nông thôn hẻo lánh miền Bắc vẫn còn dùng, người ta lấy một miếng da dài (da bò hoặc da cừu) cắt thành từng sợi nhỏ như sợi mì, một đầu buộc vào cán gỗ, một đầu để xòe ra, bình thường treo trên vòng cửa, khi dùng mới lấy xuống. Công dụng của nó chỉ có một: phủi bụi đất trên người. Vì vùng Nhạn Bắc, Thiểm Bắc thuộc cao nguyên đất vàng nên nhà nào cũng treo thứ này trước cửa.
Chúng tôi gỡ cái phất trần ấy xuống, dắt vào thắt lưng rồi theo sào tre leo ra ngoài.
Sáng hôm sau, chúng tôi tới nhà Hổ Trảo, đặt cái phất trần trước mặt lão. Gã lộ vẻ tán thưởng, bảo:
• Cái kế "mắt mù" này của bọn mày cũng khá đấy, đứa nào nghĩ ra?
Tôi đáp:
• Là con nghĩ ra ạ.
Hổ Trảo gật gù:
• Hậu sinh khả úy, hậu sinh khả úy.
Cuối cùng Hổ Trảo cũng chịu nhận chúng tôi làm đồ đệ.
Lão đã nhiều năm không thu nạp môn sinh. Đám đệ tử trước kia của lão giờ đều đã thành danh trên giang hồ, tự lập môn hộ riêng, khai chi tán diệp. Kẻ thì mở hương đường ở Nhiệt Hà phía Bắc, kẻ lại làm đàn chủ ở vùng Lưỡng Hồ phía Nam. Giống như một đại gia tộc phát triển đến lúc nào đó phải chia gia tài, đám đệ tử đắc ý của Hổ Trảo đều đã ra riêng cả.
Dinh cơ nhà Hổ Trảo theo kiểu "tam tiến tam xuất", kiểu kiến trúc điển hình của nhà giàu thời bấy giờ, chia thành tiền viện, trung viện và hậu viện. Mỗi sân đều có dãy nhà đông tây, chia làm tầng trên tầng dưới. Tầng dưới dành cho các công tử, thiếu gia, tầng trên là nơi ở của các thiên kim tiểu thư.
Hổ Trảo dẫn chúng tôi vào hậu viện. Trong gian phòng chính giữa có thờ một người vóc dáng nhỏ thò, mặt dơi tai chuột, tướng tá có phần hèn mọn. Thế nhưng Hổ Trảo bảo, người này chính là tổ sư gia của chúng ta, tên gọi Thì Thiên, chính là "Cổ Thượng Tảo" Thì Thiên lừng lẫy trong băm mươi sáu vị anh hùng Lương Sơn.
Chúng tôi quỳ lạy tổ sư Thì Thiên. Tôi biết, cái lạy này nghĩa là mình đã chính thức bước chân vào môn phái, trở thành đệ tử trong nghề. Cuộc đời tôi từ đây sẽ rẽ sang một hướng khác.
Lúc quỳ lạy có bài khẩu quyết, Hổ Trảo dạy chúng tôi đọc từng chữ một. Bài thơ gồm tám câu, vừa là nói về tổ sư Thì Thiên, vừa là để răn dạy chúng tôi:
"Táp lục nhân trung duy thiện thâu,
Thì Thiên miếu thực thành đông lâu.
Hậu thế thâu giả tôn vi tổ,
Nguyệt hắc thâm tiêu cụ tửu phủ.
Đản nguyện nhân gia bất bế môn,
Hoàng kim thủ tận thanh chiên tồn.
Tuế tuế báo tế quan bất trác,
Thiên thượng truy tùng Đông Phương Sóc."
Trong nghề trộm cắp có một bang quy bất thành văn: chỉ lấy tiền tài, không hại tính mạng, tuyệt đối không dồn người ta vào đường cùng. Bài khẩu quyết này cũng chính là lời giải thích cho quy định đó.
Bái xong tổ sư Thì Thiên, Hổ Trảo lại dẫn chúng tôi sang một căn phòng khác. Ở đó có một chiếc bàn vuông kê sát tường, phía trên đặt ảnh của ba người. Một người là Hổ Trảo, hai người kia chúng tôi không biết.
Băng Lưu Tử chỉ vào hai bức ảnh còn lại hỏi:
• Đây là ai hả sư phụ?
Hổ Trảo đáp:
• Tấn Bắc Bang chúng ta có ba vị đương gia, xưa nay vốn ngang hàng, chỉ phân thứ bậc theo tuổi tác. Ta lớn tuổi nhất nên giang hồ gọi là Hổ Trảo; người đứng giữa kia là Báo Tử, cũng đang ở Đại Đồng; còn người cuối cùng... thôi, không nhắc tới thì hơn.
Tôi thấy sắc mặt Hổ Trảo có vẻ không vui, không hiểu vì sao khi giới thiệu đến vị tam đương gia lão lại nói qua loa đại khái rồi thôi. Tôi và Băng Lưu Tử đưa mắt nhìn nhau, định hỏi nhưng lại thấy lão hẳn có điều khó nói, dù có hỏi lão cũng chẳng đời nào hé môi.
Sau đó, Hổ Trảo đưa chúng tôi ra tiền viện, giảng giải về các quy tắc trong bang: Trọng tình nghĩa, giữ chữ tín, không phản bội anh em; coi nhẹ sống chết, xem nhẹ tiền tài, không tư túi chiến lợi phẩm... Bang quy rất nhiều, nhưng điều then chốt nhất tôi ghi nhớ ngày hôm đó chính là: một khi "thất phong", tuyệt đối không được khai bừa.
"Thất phong" là tiếng lóng giang hồ, nghĩa là bị quan phủ bắt bớ. Đã rơi vào tay quan sai thì tuyệt đối không được khai ra đồng bọn, có họa tự chịu, dám làm dám chịu; dù có phải chịu nhục hình tra tấn cũng không được hé răng nửa lời.
Ngươi bị nhốt vào trong, đồng bọn bên ngoài sẽ tích cực tìm cách cứu viện, hoặc dùng tiền hoặc dùng người, cuối cùng rồi cũng cứu được ngươi ra. Nhưng nếu ngươi bán đứng anh em, cái chờ đợi ngươi chỉ có thể là tàn phế hoặc cái chết.
Thế nên, giữ kín mồm miệng chính là yêu cầu cơ bản nhất của kẻ làm nghề trộm cắp.