Tổ Bịp

  • 9195 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 23. Kế trong kế
Tiếng gà gáy chập nhất vừa cất lên, lão béo đã bật dậy. Lão lững thững ra sân, thấy vắng hoe chẳng bóng người, ai nấy vẫn còn say giấc nồng, đành lủi thủi quay về phòng. Lão bàn với đồng bọn hay là ra chặn cửa, kẻo lão già mặc áo vải thô chuồn mất. Lão gầy gạt đi, bảo đây là nhà lão ta, chạy trời không khỏi nắng, giờ lão ta đang chễm chệ trong "miếu" rồi, việc gì phải xoắn.
Tiếng gà gáy chập nhì vang lên, lão béo lại mò ra ngoài. Nghe thấy tiếng sột soạt phát ra từ một gian phòng, lão đứng chực sẵn ngay cửa. Một bà lão tóc tai bù xù, lưng còng rạp bước ra, lão béo hỏi lão già áo vải đâu, bà lão đáp vẫn còn đang ngủ. Lão béo ngần ngừ hồi lâu, mấy bận định bước chân vào cửa rồi lại rụt về.
Tiếng gà gáy chập ba, trời đã sáng rõ. Chim chóc bay ra khỏi tổ, nhảy nhót trên cành cây kêu ríu rít, làm cái sân náo nhiệt như một nồi cháo loãng sôi sùng sục. Cuối cùng lão béo cũng đợi được lão già áo vải bước ra. Lão tiến tới, giọng mỉa mai:
"Ông anh sướng thật đấy, tiền đã trao tay, ngủ nghê ngon giấc, đánh một mạch đến tận sáng bạch thế này."
Lão già áo vải mắt nhắm mắt mở đầy gỉ, ngơ ngác nhìn lão béo:
"Ông nói bóng nói gió gì thế, ý là sao?"
Lão béo hừ lạnh:
"Ý gì à? Trong lòng ông rõ nhất, còn đợi tôi phải nói toạc ra sao?"
Lão già áo vải vẫn nhìn lão với vẻ mặt đầy vô tội.
Lão gầy lững thững bước tới, một tay cầm con dấu, một tay cầm miếng ngọc bội, lạnh lùng hỏi:
"Thế này là thế nào?"
Lão già áo vải nhìn con dấu và ngọc bội, rồi lại nhìn lão gầy, vẻ mặt vẫn ngây ngô như cũ:
"Thế này là thế nào là thế nào?"
Lão béo kích động ra mặt:
"Người ta bảo chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, còn ông thì thấy quan tài rồi vẫn trơ trơ. Chiều qua, các người bày trò đào một đống đồ từ mộ cổ lên, chực sẵn chúng tôi đến, biết chắc chúng tôi sẽ mua, nên mới cố tình bảo 'đại đông gia' đã thầu trọn ngôi mộ này để nhử mồi. Để chúng tôi tin sái cổ, các người còn cho người cưỡi ngựa đến giục giã. Lúc đi, lại cố ý để gã thanh niên mặc áo cộc ở lại, cho gã 'thó' con dấu và ngọc bội này đem bán cho chúng tôi. Trên đường về, biết chúng tôi mua xong sẽ đuổi theo, sợ chúng tôi lạc đường nên các người lại để một tốp ở lại, giả vờ có người trẹo chân để chỉ lối. Đợi chúng tôi đuổi kịp, lại giả vờ đồng ý phản bội đại đông gia để bán sạch đồ cho chúng tôi. Tôi nói có sai chỗ nào không?"
Lão già áo vải thản nhiên:
"Tôi chẳng hiểu ông đang nói cái quái gì."
Lão béo giật lấy con dấu, hỏi dồn:
"Thế cái này là sao? Đây mà là ngọc Huyết Dương à? Sao lấy dao gạch một đường là mất sạch màu đỏ thế kia?"
Lão già áo vải cầm con dấu lên, soi dưới ánh mặt trời một hồi rồi hỏi ngược lại:
"Ai bảo ông đây là ngọc Huyết Dương? Đây rõ ràng là ngọc Dương Chi, trắng muốt không tì vết. Còn lớp đỏ bên ngoài là do ngâm trong hộp mực lâu ngày mà thành, dùng dao cạo nhẹ tất nhiên là tróc. Ngọc thạch cứng rắn vô cùng, dù có qua mấy trăm năm thì mực cũng chẳng thấm vào trong được đâu."
Lão béo bán tín bán nghi cầm lấy con dấu soi lại lần nữa, rồi đưa cho lão gầy. Lão gầy cũng soi dưới nắng, xong mới cẩn thận cất vào túi áo trong.
Vẫn chưa hết nghi hoặc, lão béo chìa miếng ngọc bội ra hỏi:
"Thế còn cái này? Tại sao trên này lại khắc 'Tần Vương Lý Thế Dân ngự tứ' kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia thế này? Lý Thế Dân đã làm hoàng đế, chẳng lẽ còn tự xưng là Tần Vương?"
Lão già áo vải nhận lấy ngọc bội, nhìn mấy chữ đó rồi lại nói:
"Ai bảo với ông mấy chữ này là do Lý Thế Dân khắc? Chẳng lẽ không thể là do chủ nhân con dấu, hoặc con cháu của họ khắc vào sao? Hậu duệ của chủ nhân con dấu gọi tiên hoàng là Tần Vương Lý Thế Dân thì có gì là không được? Có luật nào cấm không được khắc chữ lên đồ tiên hoàng ban thưởng không?"
Lão béo nhìn lão gầy, lão gầy nhìn lão béo, cả hai ngớ người ra, chẳng biết nên nghe lời lão râu dê hay nghe lời lão già áo vải này nữa.
Lão già áo vải bồi thêm một câu:
"Nếu các ông thấy con dấu và ngọc bội này là giả thì cứ trả lại cho tôi. Các ông đưa cho gã áo cộc bao nhiêu, tôi trả lại bấy nhiêu. Gã áo cộc dám trộm cổ vật đem bán riêng, tôi sẽ tính sổ với gã sau."
Hai lão béo gầy im bặt, chẳng còn lời nào để đối đáp.
Lão già áo vải tỏ vẻ đau xót khôn cùng:
"Đêm qua các ông đòi ôm cả bọc cổ vật đó, hại tôi không về được huyện. Giờ chắc cả huyện đều biết tôi ôm đồ bỏ trốn rồi, không chừng kẻ đến tính sổ với tôi đang trên đường tới thôn này cũng nên. Giờ các ông lại bảo không lấy nữa, tôi biết tẩu tán vào đâu cho kịp, các ông hại thê thảm đời tôi rồi."
Hai lão kia vẫn câm như hến, thực chẳng biết phải nói sao cho phải.
Đúng lúc đó, bên ngoài vang lên tiếng phách gỗ khô khốc, dồn dập, chói tai. Tiếp đó là tiếng rao:
"Ai đồng nát sắt vụn, tranh cũ giấy rách bán đê..."
Lão già áo vải lạnh lùng bảo:
"Thôi, các ông đi đi, đi mau cho. Giờ các ông có chồng tiền cao như núi vàng tôi cũng chẳng bán cho các ông nữa, tôi bán cho tay đồng nát kia cho rảnh nợ."
Kẻ gõ phách rao đồng nát thực chất chẳng phải đi thu mua ve chai, mà là kẻ lùng báu vật. Nghề này không thể rao oang oang nên mới mượn danh đồng nát để hành nghề.
Lão già áo vải khoác bọc đồ gói trong tấm ga giường hoa ra ngoài. Lão béo và lão gầy liếc nhau một cái rồi lẳng lặng bám gót theo sau. Họ muốn tận mắt xem cái đống đồ trong bọc vải hoa kia rốt cuộc là đồ thật hay đồ giả.
Kẻ gõ phách là một gã trung niên gầy gò, mặt mũi hốc hác, da dẻ thô ráp, dấu vết của những tháng ngày gánh gồng dầm mưa dãi nắng. Lão già áo vải đặt bọc đồ dưới chân gã, gã cầm cái này soi soi, gõ gõ cái kia, vẻ mặt tập trung cao độ, tai lắng nghe tiếng vang nhưng mặt không chút biểu cảm. Một lúc sau, gã hỏi:
"Định giá bao nhiêu?"
Lão già áo vải đáp:
"Chú em trả được bao nhiêu?"
Gã trung niên nhìn đống đồ, phán:
"Hai mươi đồng bạc."
Lão già áo vải liền túm lấy bọc đồ định bỏ đi. Gã trung niên níu lại:
"Ấy, ông anh làm gì mà nóng thế?"
Lão già áo vải gắt:
"Chú em khinh người quá thể. Một đống cổ vật thế này mà trả hai mươi đồng bạc?"
Gã trung niên cười xòa:
"Chẳng hay ông anh cũng nóng tính gớm. Thuận mua vừa bán, ông không phát giá thì sao tôi mặc cả được."
Lão già áo vải đặt bọc đồ xuống, nói:
"Thôi chẳng lôi thôi nữa, tôi đang cần đẩy đi gấp, đưa tôi 'hai cán'." Lão giơ hai ngón tay lên.
Gã trung niên lắc đầu:
"Không được, tôi chỉ trả 'một cán' thôi."
Lão béo và lão gầy đứng nép sau gốc cây cổ thụ, vờ như không quan tâm nhưng đôi tai thì căng ra như dây đàn, không bỏ sót một tiếng động nào. Tuy họ chẳng hiểu "cán" là cái quái gì, nhưng gã trung niên đã trả đến hai mươi đồng bạc mà lão già áo vải không bán, chứng tỏ "hai cán" có thể là hai trăm hoặc hai ngàn đồng bạc. Bất luận là bao nhiêu, hễ có giao dịch nghĩa là đống đồ kia là đồ thật. Chẳng ai đi mặc cả rát cổ bỏng họng vì một đống đồ giả bao giờ.
Sau một hồi đấu tranh tư tưởng quyết liệt, hai lão cuối cùng cũng bước ra trước mặt lão già áo vải. Lão già chẳng thèm đoái hoài, vẫn tiếp tục kỳ kèo với gã trung niên.
Lão béo lên tiếng:
"Ông anh, chúng ta đã giao kèo từ trước rồi, chỗ đồ này tôi lấy. Gái một chồng, sao ông lại định bán cho kẻ khác?"
Lão già áo vải hậm hực:
"Cái loại người đa nghi như các ông, làm ăn chẳng ra gì."
Lão béo xuống nước:
"Thì cứ theo giá cũ chúng ta đã định."
Lão già gạt đi:
"Giờ ông có chồng thêm tiền tôi cũng chẳng bán."
Gã trung niên thấy có kẻ nhảy vào nẫng tay trên, liền sầm mặt hỏi:
"Các người làm cái gì đấy? Không thấy người ta đang bàn chuyện làm ăn à?"
Lão béo đáp:
"Xin lỗi chú em, chúng tôi chốt xong từ lâu rồi." Lão vừa nói vừa vỗ vai lão già áo vải đầy thân tình.
Gã trung niên thấy tình hình bất lợi, lập tức đổi giọng:
"Hai cán thì hai cán, chốt theo ý ông anh!"
Lão già áo vải liếc nhìn hai lão béo gầy rồi bảo gã trung niên:
"Người ta ngoài hai cán còn thêm hai 'tiểu hoàng ngư' nữa đấy."
Gã trung niên hét lớn:
"Tôi trả ông ba 'tiểu hoàng ngư'!"
Theo tiếng lóng của giới này, "cán" là hàng ngàn, "tiểu hoàng ngư" là hàng trăm, còn "đại hoàng ngư" là hàng vạn. "Đại hoàng ngư" thường không dễ lộ diện, kẻ nào rút được món đó ra phải là hạng siêu cấp như Lý Gia Thành hay Bao Ngọc Cương mới đủ tầm.
Lão già áo vải quay sang hai lão béo gầy:
"Thôi nhé, người ta trả giá cao hơn, đành xin lỗi hai vị vậy."
Lão béo cuống quýt chộp lấy tay lão già:
"Gã trả bao nhiêu, chúng tôi trả bấy nhiêu! Vả lại chúng ta đã có lời hẹn ước từ trước, chúng tôi mới lặn lội theo ông tới tận đây."
Lão già áo vải tỏ vẻ phân vân. Lão gầy vốn ít nói nãy giờ cũng không nhịn được nữa:
"Đại ca, nam tử hán đại trượng phu, nhổ bãi nước bọt xuống đất là một vết đinh, đã nói là không được nuốt lời."
Lão già thở dài:
"Thôi được rồi, nếu tôi bán cho kẻ khác, người đời biết chuyện sẽ chửi tôi suốt đời mất. Làm người không thể không có chữ tín. Được, tôi đợi các ông, nhưng phải nhanh chân lên đấy."
Lão già áo vải vẻ mặt luyến tiếc rời bỏ gã trung niên gõ phách, quay về nhà. Hai lão béo gầy như hai cái bóng dài ngắn lẳng lặng bám theo sau. Về tới sân, lão già bảo:
"Trong hai người, ai đi lấy tiền thì đi ngay, nhớ đi nhanh về nhanh. Cái nhà này tôi không ở được nữa rồi, chắc chắn đại đông gia sẽ cho người đến tìm. Tôi phải cùng người còn lại lánh đi vài hôm."
Lão béo giành phần:
"Để tôi đi lấy tiền, lão gầy ở lại lánh mặt với ông... Nhưng mà, làm sao tôi biết các ông trốn ở đâu mà tìm?"
Lão già trầm ngâm một lát rồi bảo:
"Ông cứ mang tiền tới đây, nếu thấy trước cửa treo một chiếc chổi tre thì nghĩa là có biến, ông đừng vào, chúng tôi sẽ chủ động tìm ông. Còn nếu cửa không treo chổi thì cứ việc vào nhà."
Lão béo gật đầu:
"Được, tôi đi kinh thành ngay."
Muốn đi kinh thành, trước tiên phải ra huyện, từ huyện bắt xe ngựa lên tỉnh, rồi từ tỉnh mới có tàu hỏa đi kinh thành. Xe ngựa thì chỉ có ở các "Xa mã đại điếm" mới cung cấp cả chỗ ở lẫn phương tiện vận chuyển.
Tôi lẳng lặng bám theo lão béo ra huyện. Tôi định về báo cáo với Thuận Oa, vì gã dặn tôi dẫn hai lão này đến Chu Gia Khẩu giao cho lão râu dê tiếp ứng. Nào ngờ giữa đường lại đụng phải nhóm trộm mộ của lão già áo vải, khiến hai lão béo gầy đổi ý giao dịch với bọn chúng. Tôi bỗng dưng trở thành kẻ thừa thãi, không hoàn thành nhiệm vụ.
Trong cuộc tranh giành này, tôi chẳng thể chen chân vào vì bản thân mù tịt về cổ vật. Ở gánh xiếc, tôi có thể đi dây, làm tai mắt; ở Giang Tương phái, tôi là tiểu sa di. Nhưng ở cái nghề "làm cũ" này, tôi vẫn chỉ là kẻ ngoại đạo, chưa hề chạm tới ngưỡng cửa.
Chẳng biết phải báo cáo với Thuận Oa thế nào, tôi đành bám theo lão béo vào Xa mã đại điếm.
Khi chúng tôi đến huyện, đúng lúc quân đội đang hành quân qua, lính tráng mặc áo đen, đội mũ lưỡi trai đi lại nườm nượp trên phố. Xe ngựa trong đại điếm đều bị trưng dụng hết sạch, lão béo không thể đi tỉnh được nữa.
Trong sân đại điếm, người ta bắc một cái nồi lớn, lửa củi cháy rừng rực bên dưới. Đám lính vây quanh nồi đợi cơm, khung cảnh náo loạn như một tổ ong vò vẽ bị chọc.
Lính tráng chia làm hai hạng: một là lũ "lão binh du tử" tinh ranh, hai là bọn "tân binh đản tử" ngơ ngác. Lũ lính già đi đứng nói năng khác hẳn, lúc chia cơm cũng tranh phần trước. Bữa đó là một nồi cháo loãng, đám lính già mỗi người chỉ lấy nửa bát rồi đứng ngay cạnh nồi mà húp, húp nhanh như chớp. Còn bọn lính mới thì tham, múc đầy một bát rồi bưng ra tận góc tường xa mà ăn. Khi bọn lính mới bắt đầu ăn thì đám lính già đã húp xong nửa bát đầu, lập tức múc bát thứ hai, lần này mới múc đầy. Đến khi lính mới ăn xong bát đầu định quay lại lấy thêm thì nồi đã cạn sạch. Kết quả là đám lính già ăn được bát rưỡi, no bụng, còn lính mới chỉ được một bát, vẫn còn đói meo.
Chứng kiến cảnh đó, tôi thầm nhủ gừng càng già càng cay, lũ lính cũ lúc nào cũng khôn lỏi hơn đám lính mới.
Không có xe ngựa thì không đi tỉnh được, tôi đành dẫn lão béo đến sạp khắc dấu của Thuận Oa để báo cáo. Dẫn được lão béo về cho Thuận Oa xem như cũng hoàn thành được nửa phần nhiệm vụ.
Khi đi ngang qua một nhà không có tường bao, thấy họ cũng đang chia cơm, đám lính xô đẩy nhau như bầy lợn tranh máng. Một gã lính mới đứng ngẩn ngơ một bên, người ta ai cũng có bát sứ hoặc ca nhôm, riêng gã tay không.
Tôi đoán chắc gã không có đồ đựng cơm. Thấy cái bô tiểu của nhà kia lật úp ở góc tường, tôi bỗng nảy ý trêu chọc, liền tiến tới chỉ vào cái bô hỏi gã lính mới:
"Cái kia là cái gì thế?"
Gã lính mới nhìn thấy cái bô thì mừng húm, chạy lại chộp lấy rồi gật đầu lia lịa cảm ơn tôi. Gã nói giọng miền Nam, nghe cứ líu lo như chim kêu.
Thời đó cuộc sống thanh khổ, vật dụng đơn sơ. Người miền Bắc ban đêm dùng bô đất nung để đại tiểu tiện, người miền Nam dùng thùng gỗ. Cái bô đất nung được đốt từ lò gạch, màu đen kịt; thùng gỗ thì nặng nề, sau này mới có loại bằng nhựa nhẹ hơn. Người miền Nam chưa thấy bô miền Bắc, người miền Bắc cũng chẳng biết cái thùng gỗ miền Nam ra sao.
Gã lính mới cầm cái bô tiến về phía nồi cơm, một bà lão chân bó từ trong nhà bước ra hét lớn:
"Cái đó không đựng cơm được đâu!"
Gã lính mới lật đi lật lại cái bô, cãi:
"Sao lại không được? Tôi thấy tốt chán mà."
Bà lão lại gào lên:
"Đấy là cái bô tiểu!"
Gã lính mới đáp:
"Tôi biết bà cần cái bô (với gã 'bô' chỉ là cái chậu), tôi không lấy mất đâu, dùng xong trả ngay mà."
Thế là gã lính mới múc nửa bô cháo loãng, ngồi xổm ở góc tường húp lấy húp để, vẻ mặt cực kỳ mãn nguyện.
Tôi phải cố nhịn lắm mới không bật cười thành tiếng. Cái gã lính mới này nực cười thật, đúng là "ông nói gà bà nói vịt".
Bà lão bước thấp bước cao trên đôi bàn chân bó nhỏ xíu tiến về phía gã lính đang ăn ngon lành. Sợ bà nói ra sự thật rồi bị gã lính đánh mắng, tôi vội vã chạy biến. Lão béo cũng vội vàng bám theo sau.
Trong huyện chỗ nào cũng thấy lính, chẳng mấy khi thấy bóng dáng đàn ông bản địa, chắc họ trốn tiệt vì sợ bị bắt đi lính. Tôi và lão béo, một già một trẻ, chẳng béo bở gì nên cũng không lo bị để ý.
Tôi dẫn lão béo xuyên qua cả huyện lỵ, tìm đến cửa hàng tranh chữ dưới chân thành. Cửa hàng đóng cửa im lìm, cả phố cũng chẳng tiệm nào mở. Đám lính này chẳng khác gì bầy châu chấu, đi tới đâu là quét sạch tới đó.
Chẳng còn cách nào, chúng tôi đành quay lại đại lộ, bụng đói cồn cào, tiến thoái lưỡng nan chẳng biết đi đâu về đâu. Đi mỏi rã rời, chúng tôi ngồi thụp xuống góc phố, lão béo bất thình lình hỏi tôi:
"Cháu có biết Đào Hoa Am Chủ là ai không?"
Câu hỏi của lão làm tôi nhớ đến bức tranh mỹ nữ thấy ở nhà lão râu dê đêm nọ. Tôi mù tịt về cổ vật, tranh cổ lại càng không biết gì, nên chỉ lắc đầu. Lão béo lầm bầm tự nói một mình:
"Đã gọi là Đào Hoa Am Chủ thì chắc chắn là một ni cô, nhưng xưa nay làm gì có ni cô nào biết vẽ tranh? Lạ thật."
Hóa ra suốt quãng đường này, lão béo vẫn cứ đau đáu về bức tranh cổ giấu dưới đáy rương của lão râu dê.
Sau giờ cơm trưa, quân đội bắt đầu nhổ trại hành quân, phố xá dần đông đúc trở lại, các cửa tiệm cũng lục tục mở cánh liếp. Tôi dẫn lão béo đi được vài bước thì thấy Thuận Oa đi ngược chiều tới.
Thuận Oa hỏi:
"Đi đâu đấy?"
Tôi đáp:
"Em định đến tiệm tranh chữ tìm anh."
Sắc mặt Thuận Oa biến đổi hẳn, gã trợn mắt hỏi:
"Ai cho phép mày đến đó? Ai bảo mày đến tiệm tranh chữ?" Nói xong, gã liếc nhìn lão béo để dò xét phản ứng. Lúc đó lão béo đang đứng trước một tiệm tạp hóa, tay cầm cái môi thủng nói chuyện gì đó với chủ tiệm.
Tôi hiểu ra ngay, gã trách tôi dẫn lão béo đến tiệm tranh chữ. Đó có lẽ là căn cứ hoạt động của bọn họ, không muốn cho người lạ biết.
Lính đi rồi, xe ngựa cũng bị dắt đi hết, lão béo vẫn kẹt lại chưa thể đi tỉnh. Thuận Oa hỏi han tình hình hai ngày qua, tôi kể vắn tắt lại, rồi gã dẫn chúng tôi đi ăn.
Gần cổng Bắc có mấy sạp hàng nhỏ bán bánh bao áp chảo, quân đội vừa rút là họ dọn hàng ra ngay. Chúng tôi ngồi xuống đánh chén.
Chỉ có ba người, Thuận Oa nhìn quanh một lượt rồi hỏi lão béo:
"Lão bá định đi đâu?"
Lão béo hào hứng kể lại những "kỳ ngộ" trên đường đi. Thuận Oa nghe xong, phán một câu xanh rờn:
"Đây là một cái bẫy liên hoàn được thiết kế cực kỳ tinh vi, lão không nhận ra sao?"
Lão béo bướng bỉnh cãi:
"Bẫy? Sao lại là bẫy được? Nếu là bẫy tôi đã nhìn ra từ lâu rồi, tôi cũng là kẻ lăn lộn giang hồ bao năm chứ bộ."
Thuận Oa cười nhạt:
"Lão già giang hồ này lần này nhìn lầm thật rồi. Để tôi nói cho lão hay, lão già áo vải đó là một tay lừa đảo khét tiếng vùng này, biệt hiệu là Tế Cốt Lương (Lạnh thấu xương), ý nói bất cứ ai bị lão lừa, hễ nhắc đến tên lão là thấy lạnh đến tận xương tủy. Lão cứ thế mà biết tâm địa và thủ đoạn của lão ta đen tối đến mức nào."
Lão béo vẫn không tin:
"Không đời nào, trên đời làm gì có nhiều sự trùng hợp thế? Tôi đi Chu Gia Khẩu đúng lúc gặp họ trộm mộ; tôi đang mặc cả với lão già áo vải thì đúng lúc có kẻ thu mua đồ cổ xuất hiện..."
Thuận Oa ngắt lời:
"Nếu lão không tin, tôi dẫn lão đến xem một nơi."
Lão béo hỏi:
"Đi đâu?"
Thuận Oa đáp:
"Tôi không dám hứa đêm nay lão sẽ thấy ngay, nhưng tôi dám chắc trong vòng ba ngày tới lão sẽ được tận mắt chứng kiến."
Lão béo vẫn chưa thông:
"Xem cái gì cơ?"
Thuận Oa bảo:
"Lão có đợi được ở đây ba ngày không?"
Lão béo thở dài:
"Xe ngựa bị lính dắt đi hết rồi, không muốn đợi cũng phải đợi thôi."
Ăn xong bánh bao, lão béo lại quay sang hỏi Thuận Oa:
"Chú có biết Đào Hoa Am Chủ là ai không?"
Thuận Oa cúi đầu suy nghĩ một lát rồi đáp:
"Hình như có biết, là một họa sĩ cực kỳ nổi tiếng, lão hỏi chuyện này làm gì?"
Lão béo nói:
"Tôi thấy một bức tranh cổ, lạc khoản đề tên Đào Hoa Am Chủ, không biết là ai nên định hỏi cho rõ."
Thuận Oa bảo:
"Thế này đi, để tôi dẫn lão đi tìm vài người nữa hỏi cho chắc."
Ngày hôm đó, Thuận Oa dẫn lão béo đi hỏi ba người: hai họa sĩ già râu dài và một vị sư trong chùa. Tất cả đều khẳng định Đào Hoa Am Chủ chính là Đường Bá Hổ.
Mỗi lần nghe thấy cái tên Đường Bá Hổ, lông mày lão béo lại giần giật.
Lão béo hỏi vị sư:
"Tại sao Đường Bá Hổ lại lấy cái tên như vậy?"
Vị sư đáp:
"Đường Bá Hổ về già ẩn cư nơi núi rừng, dốc lòng vẽ tranh. Ông ta dựng một ngôi nhà cỏ, xung quanh trồng đầy hoa đào. Xuân về, hoa nở rực rỡ, ong bướm dập dìu, đẹp không sao tả xiết, nên Đường Bá Hổ tự lấy hiệu là Đào Hoa Am Chủ. Cái hiệu này của ông ít người biết đến, còn những hiệu như Lục Như Cư Sĩ hay Lỗ Quốc Đường Sinh thì người đời biết nhiều hơn."
Lão béo vẫn cứ tơ tưởng đến bức tranh mỹ nữ của lão râu dê. Giờ thì lão đã chắc mẩm đó chính là nguyên tác của Đường Bá Hổ.
Lần này ra huyện, lão béo quyết chí phải có được thứ gì đó, không mua được đồ tùy táng của Ngu Thế Nam từ lão già áo vải thì cũng phải mua được bức tranh mỹ nữ của Đường Bá Hổ từ lão râu dê. Lão này chắc ở kinh thành giàu lắm, nên mới vung tay quá trán như vậy.
Khi hoàng hôn buông xuống, Thuận Oa dẫn chúng tôi ra cổng Bắc. Lão béo hỏi:
"Đi đâu thế?"
Thuận Oa đáp:
"Lão cứ đi theo tôi, đến nơi sẽ hiểu."
Ra khỏi cổng Bắc, rẽ trái rồi lại rẽ trái, lão béo nhìn quanh quất rồi thốt lên:
"Đây chẳng phải là nơi lần trước tôi đi qua sao?"
Thuận Oa nói:
"Đúng vậy, chính là dẫn lão đến ngôi mộ cổ đó, nhìn thấy lão sẽ rõ ngay."
Chúng tôi đi tới sau một gò đất cao. Nhờ ánh trăng sáng, thấy xa xa có mấy bóng người đang loay hoay, đúng là vị trí ngôi mộ cổ. Chúng tôi nằm rạp xuống bãi cỏ sau gò đất, nín thở chờ đợi. Trong gió thoảng lại tiếng nói chuyện của bọn họ nhưng nghe không rõ, chẳng biết họ đang làm gì.
Khoảng nửa canh giờ sau, nhóm người đó rời đi. Họ không đi về phía huyện mà rẽ sang con đường khác dẫn vào mạng lưới đường mòn chằng chịt giữa các thôn xóm, trong đó có cả Chu Gia Khẩu.
Chờ bọn họ đi khuất, chúng tôi đợi thêm một lúc, thấy xung quanh không còn động tĩnh gì ngoài tiếng sột soạt của lũ thỏ rừng chạy vụt qua bãi cỏ, mới đứng dậy tiến về phía ngôi mộ.
Ngôi mộ đã được san lấp phẳng phiu, thậm chí chẳng để lại dấu chân nào, xung quanh còn được quét dọn sạch sẽ bằng chổi, trên miệng hố trộm sâu hoắm phủ một lớp cỏ khô.
Thuận Oa nói:
"Mấy đứa vừa rồi là bọn đi lấp mộ, chúng vừa thả đồ giả xuống dưới. Không quá ba ngày nữa, chúng sẽ diễn trò đào đống đồ giả này lên ngay trước mặt 'vạn tự'. Lúc đó, bất luận là ai cũng sẽ tin sái cổ rằng những món đồ mới đào lên còn vương mùi đất này chính là cổ vật đắt giá."
Lão béo hỏi:
"Vạn tự là ai?"
Thuận Oa đáp:
"Vạn tự chính là kẻ bỏ tiền mua đồ cổ giả."
Lão béo vẫn phân vân:
"Tôi vẫn không dám tin, biết đâu họ chỉ đang lấp mộ vì không muốn người ta biết mộ bị trộm thì sao?"
Thuận Oa cười:
"Cái bẫy này rành rành như chấy trên đầu sư vậy. Thứ nhất, bọn chúng chực sẵn ở đây, giả vờ đào mộ để lão nhìn thấy. Thứ hai, giả vờ có đại đông gia đã mua ngôi mộ này để không bán cho lão, làm lão tin rằng đồ này là đồ thật 100%. Thứ ba, chúng cho gã thanh niên mặc áo cộc 'thó' lấy hai món cổ vật để lão biết đây là mộ Ngu Thế Nam, mà đồ tùy táng của Ngu Thế Nam thì quý giá biết chừng nào. Thứ tư, chúng biết sau khi xem con dấu của Ngu Thế Nam, lão chắc chắn sẽ đuổi theo, nên mới bố trí một tốp đứng đợi bên đường, giả vờ trẹo chân để câu giờ và chỉ lối. Thứ năm, biết lão đuổi kịp sẽ đòi mua, chúng liền lấy cớ không thể làm việc cho đại đông gia nữa để ép giá lão thật cao. Thứ sáu, biết lão không có tiền mặt, chúng dẫn lão về nhà ở lại, trong lúc đó bố trí kẻ thu mua cổ vật xuất hiện đúng lúc trong thôn, diễn kịch mặc cả để lão càng tin sái cổ đồ giả là đồ thật. Thứ bảy, chúng giữ lại một người của lão làm con tin, giục lão về kinh thành gom tiền. Đến nước này, lão có nằm mơ cũng không tin đây là cái bẫy liên hoàn, cứ đinh ninh mọi chuyện là thật. Thế nhưng người tính không bằng trời tính, chúng tính hết nước hết cái, chỉ không tính đến chuyện hôm nay quân đội hành quân qua huyện, trưng dụng sạch xe ngựa khiến lão không thể đi tỉnh để về kinh."
Lão béo ngẫm đi ngẫm lại rồi bảo:
"Muốn tôi tin đây là bẫy, trừ phi từ ngôi mộ này lại đào lên được con dấu của Ngu Thế Nam và ngọc bội của Tần Vương Lý Thế Dân ban cho."
Thuận Oa nói:
"Tôi tuy không dám khẳng định chắc chắn chúng vừa chôn thứ gì xuống, nhưng tôi gần như cam đoan rằng dưới kia chính là con dấu của Ngu Thế Nam và ngọc bội của Lý Thế Dân, nhưng đều là đồ giả, y hệt món lão mua từ tay gã áo cộc kia."
Lão béo nói:
"Vậy tôi sẽ đợi chúng đào lên rồi kiểm chứng."
Thuận Oa đáp:
"Lão sẽ sớm thấy thôi, không phải đêm mai thì cũng là đêm kia."
Đêm đó, Thuận Oa và tôi cùng lão béo ở lại Xa mã đại điếm. Lão béo vẫn nửa tin nửa ngờ rằng món đồ lão già áo vải định bán là đồ thật, lão cứ liên tục hỏi chủ quán xem khi nào thì mấy cái xe ngựa bị lính dắt đi mới quay về.
Thuận Oa nói thầm với tôi:
"Cái lão già bướng bỉnh này, đúng là chín con trâu kéo không lại, chắc phải dùng đến mười con."
Ngày hôm sau, Thuận Oa dẫn lão béo đi ăn mì xào thịt cừu. Tiền ăn ở đều do Thuận Oa chi trả. Tôi thầm nghĩ: "Không có lợi thì chẳng ai dậy sớm", Thuận Oa nếu không định vặt tiền của lão già kinh thành này thì chẳng đời nào lại sốt sắng và hào phóng đến thế.
Ăn xong, chúng tôi ra ngoại thành chơi.
Ra khỏi cổng Nam, trước mắt là một vùng bình nguyên bao la, bằng phẳng như tờ giấy, chim chóc kêu râm ran trên bầu trời cao vút, nhìn nhỏ xíu như những hạt vừng. Xa xa nơi chân trời, có bác nông dân đang cày ruộng: phía trước là con trâu già chậm chạp kéo cày, theo sau là người nông dân tay vịn cán cày, sau cùng là người phụ nữ xách cái thúng nhỏ, cứ đi vài bước lại gieo hạt xuống luống cày, rồi dùng chân gạt lớp đất mịn lấp hạt lại. Trâu, người nông dân, người phụ nữ, tất cả đều chuyển động chậm rãi, dường như mấy ngàn năm lịch sử của nhân loại cũng chỉ trôi qua thong thả như thế. Nhìn từ xa, họ như một bức tranh cắt giấy sống động.
Chúng tôi rời khỏi con lộ, băng qua cánh đồng, thong thả tản bộ. Những con cào cào xanh mướt thỉnh thoảng lại nhảy vọt ra từ bụi cỏ, còn trong lớp đất mới lật, lũ chuột đồng ló đầu ra dòm dòm ngó ngó. Lại có một con cáo ngồi cách đó không xa, dùng ánh mắt nghi hoặc nhìn chúng tôi - những vị khách không mời mà đến. Thấy chẳng có hiểm họa gì, nó mới vẫy cái đuôi chạy biến theo luống cày một cách nhẹ tênh. Dưới gốc cây bạch dương cao lớn, tôi còn phát hiện ra tổ của con "Ba Hổ". Ở chỗ tôi gọi thế, chẳng biết tên khoa học là gì. Hồi nhỏ đi học, chúng tôi hay đi móc tổ Ba Hổ. Nó giống như con nhện, mình đầy lông lá, sáu chân, nhưng trí khôn chắc chắn hơn hẳn nhện: nó biết tự đào hang, lại còn biết làm một cái nắp đậy miệng hang để các loài côn trùng khác không chui vào được. Cái nắp hang nó làm y như nắp xe tăng hay nắp cống vậy, tròn xoe, có thể mở ra đóng vào. Hồi đó đi học, thấy tổ Ba Hổ là chúng tôi lại bày trò "gõ cửa", mở nắp ra rồi lại đóng vào. Con Ba Hổ biết có người gõ cửa, nó không chịu mở, liền hớt hải bò lên dưới nắp, dùng những cái chân đầy lông móc chặt lấy cái nắp, thế là chúng tôi không mở ra được nữa. Biết nó đang ghì nắp hang, chúng tôi dùng mảnh dao nhỏ hoặc miếng sắt, thọc mạnh vào phía dưới nắp hang vài thốn, chặn đứng đường lui của nó. Thế là con Ba Hổ hết đường chạy, chúng tôi dùng dao bẩy mảng đất lên là bắt được nó. Chân con Ba Hổ ăn được, vị hơi mặn mặn, hồi nhỏ chẳng biết chúng tôi đã chén sạch bao nhiêu đôi chân Ba Hổ rồi.
Động vật ở nông thôn nhiều vô kể, đếm không xuể. Chỉ riêng loài chim tôi cũng kể tên được hàng chục loại, còn côn trùng thì lại càng nhiều hơn.
Nông thôn quả là một nơi tuyệt diệu.
Chúng tôi đi được khoảng bảy tám dặm, chợt thấy xa xa một nhóm người đi thành hàng ngang, mỗi người cách nhau mươi mét, tay dắt một con chó. Loại chó này ngoại hình kỳ lạ, gầy nhẳng, chân cực dài, mõm cũng cực dài. Chúng đi đứng nhẹ tênh, chẳng nghe thấy tiếng chân chạm đất, dáng vẻ khoan thai tự đắc, toát lên một khí chất quý tộc. Thực tế chúng chính là dòng dõi quý tộc trong loài chó. Tương truyền từ thời Hán Vũ Đế, loại chó này đã được nuôi trong hoàng cung và các phủ hào môn ở Trường An để đi săn. Cái phong tục đó xuyên suốt hai ngàn năm, lưu truyền mãi tận ngày nay.
Hồi nhỏ ở Quan Trung, tôi đã thấy rất nhiều loại chó này, tên nó là chó Xế (Xế cẩu). Chơi chó Xế săn thỏ là một hoạt động dân gian lâu đời ở vùng Quan Trung. Lúc nông nhàn, có khi hàng trăm con, ít cũng vài chục con chó tụ tập lại kéo ra ngoại thành săn thỏ. Phạm vi hoạt động của chúng không chỉ ở Quan Trung, mà lan sang cả Cam Túc, Ninh Hạ phía Tây, Hà Nam phía Đông, Thiểm Bắc đến Nội Mông phía Bắc. Chỉ có hướng Nam là không được, vì phía Nam là vùng núi Tần Lĩnh, loài chó chạy tốc độ cao như chó Xế không phát huy được thế mạnh ở đó. Chó Xế là loài chạy nhanh nhất trong các loại khuyển, chó sói còn lâu mới là đối thủ của nó. Hình dáng nó rất giống báo săn, chân dài mảnh khảnh, cực kỳ linh hoạt.
Đang mải ngắm đàn chó, bỗng nghe một tiếng huýt sáo sắc lẹm vang lên như một cây sào tre thọc thẳng vào không trung. Những người chủ đồng loạt tháo xích cổ, lũ chó Xế lập tức như những mũi tên rời cung lao vút về phía trước, bụi vàng cuốn lên theo sau. Trong chớp mắt, tiếng người hò hét, tiếng chó sủa, tiếng cành cây gãy vang lên rầm trời. Cánh đồng vừa tĩnh lặng bỗng chốc tràn ngập không khí chiến trận sát phạt.
Chỉ vài phút sau, cánh đồng lại trở về vẻ bình yên. Một con chó Xế ngoạm con thỏ xám trong miệng, vẻ mặt đắc ý chạy về, lũ chó còn lại cũng vẫy đuôi chạy theo sau như muốn chia vui. Người chủ con chó bắt được thỏ liền bỏ thỏ vào túi sau lưng, rồi lấy ra một miếng thịt cừu nhét vào miệng con chó. Hồi nhỏ nghe nói chủ chó Xế yêu chó như con, quả đúng như vậy, ông ta chẳng nỡ ăn thịt cừu mà để dành cho nó.
Tận mắt chứng kiến cảnh săn thỏ này, tôi cũng thấy hào hứng lây, bèn hỏi người chủ:
"Thỏ chạy nhanh, chó cũng chạy nhanh, làm sao mà nó ngoạm trúng cổ thỏ được?"
Người chủ đáp:
"Mỗi con có một ngón nghề riêng. Có con lao từ phía sau lên dùng sức nặng cơ thể đè bẹp thỏ; có con dùng móng vuốt tát mạnh từ đằng sau cho thỏ ngã lộn nhào; còn con này của tôi thì thích chạy song song với thỏ, rồi bất thình lình quay đầu ngoạm đúng cổ nó."
Tôi nghe mà say mê, định hỏi thêm vài câu thì bỗng nghe tiếng kêu thất thanh:
"Chó của tôi đâu? Chó của tôi đâu rồi?" Giọng nói đầy vẻ khẩn thiết, nghe như sắp khóc đến nơi.
Chúng tôi chạy về phía đó, thấy cách chừng vài chục mét, một con chó Xế đang đứng trước một cái hang đen ngòm sủa dữ dội, vừa sủa vừa ngó nghiêng xuống dưới.
Miệng hang không lớn lắm, chỉ vừa đủ cho một đứa trẻ chui vào. Đó chính là hầm mộ do bọn trộm mộ đào. Sau khi vét sạch đồ tùy táng, chúng thường phủ cỏ khô lên miệng hang để che mắt thiên hạ. Vừa rồi có con chó Xế trong lúc đuổi thỏ đã dẫm phải đám cỏ khô mà rơi xuống hầm mộ sâu hoắm.
Con chó đang sủa và con chó rơi xuống dưới vốn là một cặp của cùng một chủ. Người chủ nằm rạp xuống miệng hầm, lớn tiếng gọi tên con chó, áp tai xuống nghe ngóng nhưng chẳng có chút âm thanh nào vọng lên. Con chó chắc đã rơi xuống mà chết rồi.
Tôi thấy nơi khóe mắt người chủ đọng hai giọt nước mắt.
Đoàn săn thỏ đi rồi, chúng tôi ngồi lại bên miệng hầm. Thuận Oa gạt đám cỏ khô sang một bên, tỉ mỉ quan sát dấu vết quanh miệng hang rồi phán:
"Cái hang này đào ít nhất cũng hai mươi năm rồi."
Lão béo hỏi:
"Sao chú biết?"
Thuận Oa đáp:
"Cái nghề trộm mộ này học vấn thâm sâu lắm, cách một lớp nghề là cách một ngọn núi, lão có lẽ không hiểu, nhưng tôi nói là lão thông ngay. Lão nhìn đống cỏ khô này xem, lớp dưới cùng đã chuyển sang màu đen, lớp trên thì vẫn còn vàng. Cỏ khô bị vùi lớp dưới, lâu ngày thiếu nắng thiếu khí sẽ mục nát biến chất. Lại nhìn cái miệng hang, bọn trộm mộ đào hang bằng xẻng Lạc Dương, một loại dụng cụ chuyên dụng. Chúng tuyệt đối không đào hang to, chỉ cần vừa một gã gầy chui lọt là được, thế nên trong bọn bao giờ cũng phải có một đứa nhỏ thó. Gã gầy khi chui ra chui vào đều cởi sạch quần áo, da thịt cọ xát sẽ làm vách hang láng bóng. Nhưng lão nhìn cái hang này mà xem, đất cát tơi xốp, lỗ chỗ lồi lõm, tại sao vậy? Đó là do đủ loại côn trùng làm tổ bên trong vách hang tạo nên. Vì thế tôi mới nói ngôi mộ này ít nhất đã bị đào trộm từ hai mươi năm trước."
Lão béo nhìn miệng hang rồi lại nhìn Thuận Oa, gật đầu lia lịa.
Thuận Oa bồi thêm:
"Vùng này có mộ cổ là thật, nhưng lão thử nghĩ xem từ xưa tới giờ có bao nhiêu bọn trộm mộ dòm ngó mảnh đất này? Có bao nhiêu ngôi mộ chưa bị đào qua, thậm chí có cái còn bị đào đi đào lại vài ba bận. Ngôi mộ này bị đào từ hai mươi năm trước đã là muộn lắm rồi. Thường thì những mộ bị trộm phải nằm xa đường lớn, vì mộ bên đường đã bị vét sạch từ đời tám hoánh nào rồi. Bọn trộm mộ tinh khôn lắm, chúng bốc một nắm đất lên ngửi là biết ngay dưới kia có mộ hay không. Lão tin không?"
Lão béo lắc đầu. Tôi nghe mà thấy thần kỳ quá đỗi.
Thuận Oa giải thích:
"Người chết đi, thi thể hóa thành bùn đất, trong đất sẽ mang một loại mùi hương đặc trưng, chết càng lâu mùi càng nồng, nên thợ trộm mộ chỉ cần ngửi đất là biết."
Tôi ngẫm lại thấy cũng đúng.
Thuận Oa bảo lão béo:
"Ai cũng biết vùng này gần Lạc Dương và Khai Phong, biết bao quan lại quý tộc sau khi chết được chôn cất ở đây. Từ cổ chí kim không biết bao nhiêu thợ trộm mộ đã đến, ban đầu là mộ ven đường, sau lan ra tận núi sâu. Để tránh bị phát hiện, chúng toàn làm vào lúc đêm hôm khuya khoắt. Còn cái hội kia lão kể, giữa thanh thiên bạch nhật, lại còn ở ngay sát đường lớn mà dám trộm mộ, xét về cả thời gian lẫn địa điểm đều chẳng hợp lẽ thường. Thế nên đó là giả, bọn chúng không phải thợ trộm mộ, mà là một lũ lừa đảo."
Mặt lão béo lại cắt không còn giọt máu. Hai ngày nay, sắc mặt lão béo như tuyết tháng sáu, nói đổi là đổi ngay. Trái tim lão lúc thì sóng cuộn biển gầm, lúc lại phẳng lặng như tờ, bị hành hạ cho ra bã.
Kẻ đi thu mua cổ vật phải có ý chí sắt đá, phải có cái khí khái "Thái Sơn sụp trước mắt mà sắc mặt không đổi, rắn độc quấn quanh mình mà mắt chẳng chớp", phải dám xuống tay vài trăm đồng bạc mà không chớp mắt, phải dám thua đến mức chỉ còn cái quần đùi mà vẫn tin chắc "ngàn vàng tán đi rồi lại về". Hạng người đó mới nên dấn thân vào cái nghề này. Còn loại như lão béo, giỏi lắm chỉ nên đi thu mua mấy đồng tiền trinh cho thỏa cái thú sưu tầm, chứ đừng dại mà nhảy vào giới đồng đen tranh chữ, lão chơi không nổi đâu.
Gần tối, lão béo đề nghị chúng tôi ra chỗ ngôi mộ cổ kia.
Thuận Oa tìm đâu ra ba tấm ga trải giường màu trắng, mỗi người một tấm thủ sẵn trong người rồi lên đường. Cạnh ngôi mộ có một lùm cây nhỏ, lá khô rụng đầy, chúng tôi nấp trong đó, phủ lá lên người. Từ chỗ này, nhìn qua một khe hở là có thể thấy rõ mồn một mọi động tĩnh bên kia.
Con đường này khá vắng vẻ, chúng tôi phục sẵn hồi lâu cũng chỉ thấy ba người đi qua: một đôi vợ chồng về nhà ngoại, vợ ngồi trên lưng lừa, chồng đi sau, anh chồng nói câu gì đó khiến chị vợ cười mắng, anh chồng cười hố hố đầy mãn nguyện. Sau đó là một bà lão khoác trên vai cái túi vải đỏ, chắc hẳn là bà mai. Ở chỗ tôi, cứ mai mối thành công một đôi là nhà trai lại tặng một cái túi vải đỏ đựng vải vóc giày dép làm lễ tạ.
Lúc hoàng hôn, cạnh ngôi mộ bỗng xuất hiện một nhóm người, kẻ vác xẻng, người mang dây thừng, lại có kẻ cầm xẻng Lạc Dương. Mắt lão béo trợn tròn, lão cố tìm kiếm trong đám người đó, tôi cũng tìm nhưng chẳng thấy lão già áo vải đâu, chỉ thấy gã thanh niên mặc áo cộc.
Nhóm người đó chẳng thèm để ý xem có ai theo dõi hay không, cứ thế náo loạn dùng xẻng đào lớp đất vàng trên miệng hố, để lộ ra cái hầm tối om. Sau đó, gã áo cộc thoát y, dây thừng buộc chặt ngang hông để đám người thả gã xuống hầm.
Đúng lúc đó, từ xa có hai người đi tới, bước đi dưới ánh trăng đầy vẻ phong trần. Rồi mọi chuyện diễn ra y hệt những gì tôi đã thấy đêm nọ: gã áo cộc từ dưới hầm chuyển lên từng món cổ vật, xếp thành một hàng trên mặt đất. Một trong hai người khách lạ vung tay múa chân ra hiệu với đám thợ, nghe không rõ họ nói gì.
Thuận Oa từ đống lá khô bò ra, khoác tấm vải trắng thong thả bò về phía trước. Lão béo và tôi cũng bắt chước, khoác vải trắng bò tới sát khe hở của bức tường đổ.
Ánh trăng sáng vằng vặc. Ở đây nhìn rõ mồn một, nghe cũng chẳng sót lời nào.
Cái gã nói giọng ngoại tỉnh đòi mua, nhóm thợ nhất quyết không bán, bảo đại đông gia đã đặt rồi. Tiếp đó là cảnh người cưỡi ngựa từ xa chạy tới báo đại đông gia đang giục, bắt họ quay về ngay. Rồi nhóm thợ rút đi, gã áo cộc giữa đường lại tách đoàn quay lại, gã ngoại tỉnh liền tiến tới đón gã áo cộc.
Nấp sau bức tường thấp, chúng tôi khoác vải trắng di chuyển song song với gã ngoại tỉnh. Chúng tôi biết sắp có kẻ sập bẫy, còn gã thì chẳng hề hay biết chúng tôi chỉ cách gã vài chục mét.
Hai bên gặp nhau, bắt đầu mặc cả, và rồi cái tên "Ngu Thế Nam" lại được thốt ra.
Lão béo nấp sau tường nghe tới đó là không chịu nổi nữa, lão bật dậy, lao thẳng về phía hai người kia, miệng hét lớn "Đồ chó đẻ!". Lão bị cơn giận che mờ mắt, chạy đứng chạy xiêu, chỉ có cái dáng chạy chứ tốc độ chẳng được bao nhiêu.
Gã áo cộc thấy một bóng trắng lao tới, nhận ra ngay là lão béo bị lừa mấy hôm trước, sợ quá vắt chân lên cổ mà chạy. Gã ngoại tỉnh chưa hiểu chuyện gì, vẫn đứng ngây ra đó như phỗng.
Lão béo giật lấy con dấu từ tay gã ngoại tỉnh, trên đó khắc rành rành bốn chữ "Ngu Thế Nam ấn", y đúc con dấu mà lão đang nâng niu trong túi áo trong. Cái lũ lừa đảo này sản xuất hàng giả theo lô rồi.
Đến nước này, lão béo mới thực sự "thấy quan tài mới đổ lệ".
Chạy được gã áo cộc chứ chẳng chạy nổi lão già áo vải. Lão béo vốn tính bướng và nóng, ngay đêm đó lão đòi tới Chu Gia Khẩu tính sổ với lão già áo vải.
Đến Chu Gia Khẩu đã gần nửa đêm. Trăng đêm đó sáng lạ kỳ, tôi thấy trên tường nhà lão già áo vải treo một cái chổi tre, chợt nhớ tới lời lão dặn: thấy treo chổi thì đừng vào, không treo mới được vào.
Người vùng này có thói quen treo chổi quét sân ngay cửa, lúc dùng chỉ việc với tay lấy cho tiện.
Lão béo thấy nhà lão già là chẳng màng chổi hay không chổi, đập cửa rầm rầm. Tiếng vòng cửa sắt đập vào tấm sắt trên cánh cửa vang lên giòn giã, lan xa trong đêm tĩnh mịch.
Một lúc sau cửa mở, lão béo mới tá hỏa: trong sân chẳng thấy lão già áo vải, cũng không thấy lão gầy đi cùng lão từ kinh thành đâu cả.
Lão béo hỏi người đàn ông ra mở cửa:
"Người ở đây đâu rồi?"
Người đó đáp:
"Họ dọn đi từ hôm qua rồi, họ chỉ thuê nhà ở đây thôi."
Lão béo đổ sụp xuống đất.
Lão béo thất thần đi ra khỏi thôn, Thuận Oa và tôi từ sau cây hòe già bước ra. Lão béo mếu máo:
"Họ chạy hết rồi, ngay cả ông bạn đi cùng tôi cũng chẳng thấy đâu."
Thuận Oa an ủi:
"Đêm nay cứ ở lại đây đã, đừng vội, chuyện này không vội được đâu."
Thừa lúc lão béo không để ý, Thuận Oa nháy mắt với tôi một cái, rồi lớn tiếng hỏi:
"呆狗 (Ngai Cẩu), mày có người quen nào trong thôn này không?"
Tôi hiểu ý Thuận Oa ngay. Gã thừa biết tôi có người quen ở đây, mà người đó lại chính là do gã giới thiệu. Lúc kể lại chuyện mấy ngày qua cho Thuận Oa nghe, tôi cũng đã nhắc tới lão râu dê ở Chu Gia Khẩu. Thuận Oa giả bộ hỏi thế là để lão béo không biết gã có liên quan đến lão râu dê.
Đã muốn giấu lão béo, chứng tỏ Thuận Oa và lão râu dê chắc chắn đang có mưu đồ gì đó, không chừng lại vừa đào sẵn một cái hố đợi đẩy lão béo xuống.
Tôi dẫn họ đến gõ cửa nhà lão râu dê. Trên chiếc bàn bát tiên trong nhà lão đang trải rộng một bức mỹ nữ đồ, chính là bức tranh cổ có đề tên "Đào Hoa Am Chủ".
Lão béo vừa thấy bức tranh như được tiêm một liều thuốc kích thích, lão ra vẻ thông thái bảo lão râu dê:
"Chuyện về Đào Hoa Am Chủ tôi đã hỏi rõ rồi, bức này ông định bán thế nào?"
Lão râu dê đáp:
"Tôi không bán. Tôi để lại để tự thưởng thức, đêm nào trước khi ngủ tôi cũng phải ngắm một lượt mới ngủ ngon được."
Nghe câu này sao thấy quen thế nhỉ? À nhớ rồi, lần đầu đi lừa đôi nam nữ từ tỉnh về, Thuận Oa cũng dạy tôi nói y như vậy.
Lão béo gặng hỏi:
"Mấy hôm trước ông bảo có người đặt rồi mà? Sao giờ vẫn ở đây?"
Lão râu dê thở dài:
"Hàng phải bán cho người sành. Cái gã mua hôm nọ đến, giọng điệu hống hách khinh người, hoàn toàn không coi tôi và bức họa này ra gì. Tôi trả lại tiền cọc, không bán nữa."
Lão béo nói:
"Nếu tôi là người sành thì sao?"
Lão râu dê bảo:
"Vậy ông thử nói xem lai lịch bức tranh này xem nào."
Lão béo đem mớ kiến thức vừa "nhặt" được từ chỗ vị sư già ra "khè" lão râu dê. Lão thao thao bất tuyệt Đào Hoa Am Chủ chính là Đường Bá Hổ thời Minh, thi thư họa đều tuyệt đỉnh. Về già tuyệt ý quan trường, ẩn cư núi rừng, trước nhà trồng đào sau nhà trồng trúc nên lấy hiệu là Đào Hoa Am Chủ. Đường Bá Hổ vẽ sơn thủy hoa điểu đều giỏi, nhưng mỹ nữ đồ là tuyệt nhất, danh tiếng lưu truyền hậu thế.
Lão râu dê bùi ngùi:
"Tôi giữ bức họa này bấy lâu, chỉ mong chờ một người tri âm, hôm nay cuối cùng cũng gặp được ông. Đúng là Bồ Tát đưa ông tới đây."
Nói đoạn, lão lại rơm rớm nước mắt:
"Bức mỹ nữ đồ này là thứ cha tôi yêu nhất, cũng là bảo vật gia truyền. Tổ tiên tôi làm quan ở Giang Nam, vốn là chí giao của Đường Bá Hổ, từng nhiều lần giúp đỡ ông ta. Để báo ơn, Đường Bá Hổ đã tặng bức vẽ tâm đắc nhất này cho tổ tiên tôi. Gia đình tôi coi nó như vật trấn trạch, truyền đến nay đã hơn mười đời. Nếu không phải gia đạo sa sút, vì miếng cơm manh áo, tôi tuyệt đối không bao giờ bán rẻ gia sản thế này."
Lão béo cũng xúc động lây, nắm chặt tay lão râu dê bảo:
"Ông đừng buồn, tôi mua về thực chất cũng là giữ hộ ông thôi, khi nào ông muốn ngắm cứ đến tìm tôi, tôi luôn mở cửa chào đón."
Lão râu dê càng thêm cảm động, nước mắt lã chã rơi:
"Đã vậy, tôi chỉ bán cho mình ông thôi."
Họ bắt đầu bàn chuyện giá cả. Lão râu dê bảo:
"Nếu là kẻ khác, thiếu một ngàn đồng bạc tôi cũng không bán, nhưng ông là người sành, ông cứ phát giá đi, được là tôi gật đầu ngay."
Lão béo đưa ra cái giá hai trăm đồng bạc. Lão râu dê ngẫm nghĩ một chút rồi cũng đồng ý. Nhưng lão đưa ra điều kiện: ngay ngày mai phải mang tiền tới, vì nhà lão đã cạn sạch lương thực rồi.
Lão béo nhận lời.
Tôi thầm nghĩ, lão béo đưa giá hai trăm có lẽ vì muốn đòi lại hai trăm đã đưa cho gã áo cộc để trả cho lão râu dê. Còn lão râu dê gật đầu ngay, chắc cũng biết lão béo lúc này chỉ còn vét được chừng đó tiền thôi.
Hai trăm đồng bạc cũng chẳng phải ít, thời đó đủ để mua một cái sân lớn ở huyện rồi.
Suốt đêm đó, Thuận Oa và lão râu dê không nói với nhau câu nào, chỉ gật đầu chào như người lạ. Nhưng tôi chắc chắn họ quen nhau, chẳng qua là đang diễn kịch thôi.
Lão béo vừa thoát hang sói lại sa vào miệng cọp. Bức mỹ nữ đồ của Đường Bá Hổ kia, tám chín phần mười cũng là đồ giả nốt.
Sáng sớm hôm sau, lão béo nhất quyết đòi về huyện tìm gã áo cộc và lão già áo vải để đòi lại hai trăm đồng bạc.
Thuận Oa hỏi:
"Lão biết họ ở đâu không?"
Lão béo đáp:
"Tôi sẽ lùng sục từng nhà ở huyện, không tin là không tìm ra."
Thuận Oa nói:
"Cái hội này tôi biết, lão già áo vải chính là Tế Cốt Lương chứ ai, vùng này ai mà chẳng biết lão ta tâm địa đen tối. Sào huyệt của chúng ở ngoài cổng Bắc, có một tiệm đóng quan tài, đó chính là căn cứ. Cạnh tiệm quan tài có một lão thợ lò chuyên sửa kính lão, đó là tai mắt của chúng. Phía đối diện có một gã chuyên hàn nồi sành chén sứ, đó cũng là tai mắt. Lão phải cẩn thận với hai kẻ đó. Giờ này chắc Tế Cốt Lương đang nấp trong tiệm quan tài đợi lão mang tiền tới đấy."
Lão béo hầm hầm:
"Tôi đi tìm lão ta đòi tiền ngay đây."
Lão già áo vải Tế Cốt Lương quả thật xứng với cái danh đó. Lão không chỉ lừa sạch hai trăm đồng bạc của hai lão béo gầy, mà còn tham lam muốn lừa cho họ bán sạch nhà cửa ở kinh thành để ôm về một đống đồ giả từ mộ cổ. Tâm địa hạng người này đúng là đen thấu tận xương tủy.
Lão già áo vải, nhìn thì có vẻ trung hậu, nhưng thực chất là kẻ gian nịnh xảo quyệt khôn lường.

 

(Tổng: 9195 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0