Tổ Bịp
- 7840 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 25. Phản bội
Ngày hôm sau, quả nhiên tôi bị bỏ đói. Ngồi thẫn thờ bên sạp khắc dấu, mắt nhìn đăm đăm vào dãy tường thành nhấp nhô như sóng lượn, trong đầu tôi không biết bao nhiêu lần nảy ra ý định dứt áo ra đi, rời khỏi cái băng nhóm làm đồ giả này cho rảnh nợ. Nhưng rồi tôi lại chẳng thể hạ quyết tâm. Tôi thực sự không biết sau khi rời huyện Bảo Hưng này, mình còn có thể đi đâu.
Những năm tháng ấy, chiến hỏa liên miên trên khắp mảnh đất này, tôi chỉ sợ hễ bước chân ra ngoài là sẽ bị bắt đi lính. Tôi đã lớn rồi, chẳng đời nào muốn làm bia đỡ đạn. Cái giấc mộng làm tướng quân thuở nào sớm đã tan thành mây khói, giờ đây tôi chỉ cầu sao có thể sống sót, được làm một người bình thường đúng nghĩa.
Cái bụng đói cồn cào như đang gõ trống, để xua đi cơn đói, tôi cố sức nuốt những ngụm nước bọt chát đắng, hồi tưởng lại những chuyện đã qua: Cao Thụ Lâm, Thúy Nhi, Bồ Đề, Tuyến Can, Lăng Quang Tổ, Lăng Diệu Tổ, Tiểu Kiều, Nhị sư thúc, Thần Hành Thái Bảo, Tam sư thúc, Tổng đà chủ… Ai chà, Tam sư thúc giờ nơi nao? Tổng đà chủ còn ở trong ngôi nhà nhỏ kín đáo kia không? Sau này liệu tôi có còn cơ hội gặp lại họ?
Băng Lưu Tử lững thững tiến lại, túi áo hắn phồng lên, bên trong giấu một cái màn thầu. Vừa thấy tôi, hắn liền lén lút lấy ra. Tôi hai tay bưng lấy cái bánh, ngoạm một miếng mất nửa cái, miệng căng phồng không sao nhai nổi, phải nhè bớt ra.
Băng Lưu Tử hỏi:
• Mày định bám trụ ở đây lâu dài thật đấy à?
Tôi vừa nhai màn thầu vừa lắc đầu với hắn.
Băng Lưu Tử lại hỏi:
• Thế sau này mày tính thế nào?
Tôi lí nhí trong miệng:
• Không biết, tao chưa tính đến.
Băng Lưu Tử gằn giọng:
• Mày nhìn không ra à? Bọn chúng đều đang bắt nạt hai đứa mình, chỉ vì mình nhỏ tuổi nhất. Cứ ở lại đây, đời mình mãi mãi bị chúng nó đè đầu cưỡi cổ thôi.
Tôi đáp:
• Ừ, tao thấy rồi, nhưng biết làm thế nào bây giờ?
Ánh nắng vàng vọt trải dài trên mặt thành, chúng tôi ngồi tựa dưới chân tường, tôi thấy Băng Lưu Tử dường như định nói gì đó rồi lại thôi.
Chuyện kỳ quặc đầu tiên tôi gặp phải là khi dẫn Chu ca từ Giang Nam đến làng Hậu Lý, giữa đường bắt gặp kẻ bán đồ giả bảo là để cứu mạng cha già; còn chuyện thứ hai cũng quái gở không kém, ấy là khi dẫn Giang ca người Tứ Xuyên đi, lại gặp cảnh một ngôi chùa bị thiêu rụi.
Tại sao lần nào tôi dẫn người đi cũng đều gặp phải những chuyện không thể lường trước như thế?
Vài ngày sau khi Chu ca đi khỏi, Giang ca tìm đến huyện Bảo Hưng, và lần này, vẫn là tôi dẫn gã tới làng Hậu Lý.
Chúng tôi đi ngang qua khu chợ cũ, cuốc bộ một quãng dài, vượt qua một ngọn đồi thì đột nhiên có đôi vợ chồng đuổi kịp từ phía sau, họ hỏi:
• Đi làng Trường Lạc thì rẽ lối nào?
Tôi không biết, Giang ca lại càng không. Đôi vợ chồng nọ bỏ lại chúng tôi, rảo bước đi thẳng về phía trước.
Đi thêm chừng bốn, năm dặm, trước mắt hiện ra một ngôi làng, đầu làng có gã đàn ông đứng đợi, thấy chúng tôi, gã liền tiến lại hỏi:
• Các ông định đi làng Trường Lạc phải không? Cho tôi đi cùng với.
Tôi đáp:
• Chúng tôi không đi Trường Lạc, mà sao ai cũng đổ xô về đấy thế?
Gã nọ ngạc nhiên:
• Mày còn chưa biết à? Ngôi chùa trên núi làng Trường Lạc đêm qua cháy lớn, đồ đạc trong chùa bị dân làng vơ vét sạch sành sanh, nghe đâu còn có cả xá lợi tử nữa.
Vừa nghe đến xá lợi tử, Giang ca đã đứng ngồi không yên, gã cuống quýt:
• Làng Trường Lạc ở đâu? Ông dẫn tôi đi với.
Gã đàn ông nói:
• Tôi cũng chẳng rõ nó nằm chỗ nào, hay là vào làng hỏi thăm xem sao.
Chúng tôi vào làng, gã đàn ông gõ cửa ngôi nhà đầu tiên, một lão già bước ra. Gã hỏi đường đến Trường Lạc, lão đáp:
• Sao mà lắm người hỏi thăm cái làng ấy thế? Cứ băng qua làng này đi thẳng, thấy ngã tư thì rẽ trái là tới.
Gã đàn ông lại hỏi lão già:
• Thế cụ có nghe chuyện gì ở làng Trường Lạc không?
Lão đáp:
• Chuyện cháy chùa chứ gì? Người ta kéo nhau đến đấy tìm bảo vật đầy ra kia kìa.
Gã đàn ông quay lại bảo chúng tôi:
• Đi mau thôi, phía trước nhiều người đi lắm rồi, chậm chân là không còn phần đâu.
Giang ca cũng nhất quyết đòi đi Trường Lạc trước, tôi thân cô thế cô không cản nổi, đành lủi thủi đi theo.
Làng Trường Lạc nằm dưới chân một ngọn núi, từ làng lên đến đỉnh còn quãng đường dài, chúng tôi quyết định vào làng trước.
Đầu làng có một người đàn ông trung niên đứng dưới gốc cây, mắt nhìn xoáy vào những kẻ phong trần như chúng tôi, thấy người là gã hỏi ngay:
• Có phải đi thu mua đồ cổ không?
Gã đi cùng chúng tôi vặc lại:
• Sao ông biết bọn tôi đi mua đồ cổ?
Người trung niên cười nhạt:
• Hôm nay trên con đường này có đến mấy chục mạng kéo qua, đứa nào chẳng thèm khát đồ cổ. Nhìn cái bộ dạng các người, tôi đoán trúng phoóc.
Gã đi cùng hỏi:
• Thế trong làng còn món nào không?
Người trung niên lắc đầu:
• Đêm qua cháy chùa, dân làng cướp được ít đồ, nhưng giờ đã quá nửa ngày, mấy chục lượt người đến khuân sạch cả rồi, các người đến muộn quá.
Giang ca nghe vậy thì cuống cuồng:
• Chẳng lẽ không còn sót lại nổi một hai món sao? Chúng tôi lặn lội đường xá xa xôi đến đây cơ mà.
Người trung niên lấp lửng:
• Có thì vẫn còn, chỉ sợ các ông không dám xuống tiền đậm thôi.
Giang ca quả quyết:
• Chỉ cần hàng chuẩn, tiền bạc không thành vấn đề.
Người trung niên hạ giọng:
• Chỉ còn mỗi xá lợi tử thôi, đang để ở nhà tôi.
Giang ca đòi xem ngay, gã đàn ông đi cùng cũng tranh phần. Người trung niên bảo:
• Thế thì theo tôi về nhà mà xem.
Trên đường đi, tôi ghé tai hỏi nhỏ Giang ca xá lợi tử là cái gì. Giang ca bảo, đó là phần tinh túy còn sót lại sau khi hỏa táng kim thân của các bậc cao tăng.
Tôi lại hỏi:
• Thứ ấy đáng giá bao nhiêu?
Giang ca đáp:
• Nhà chùa coi xá lợi tử là bảo vật vô thượng, nếu có được nó rồi đem bán lại cho các tự viện, họ sẵn sàng bỏ ra bất cứ giá nào.
À, thì ra là thế.
Tại nhà người trung niên, lần đầu tiên tôi nhìn thấy xá lợi tử. Nó khác xa với những gì tôi tưởng tượng, chẳng qua chỉ là mấy viên đá xám xịt, lớp vỏ ngoài đã kết vảy đen sì. Gã đi cùng khẳng định gã từng thấy xá lợi tử ở chùa A Dục Vương tận Ninh Ba, lần này đến Bảo Hưng là để triều bái, không ngờ chùa đổ, xá lợi lại lạc vào dân gian.
Gã nọ mặc cả với chủ nhà, Giang ca đứng ngoài không chen vào được, cuống lên xoa tay bần bật. Sau cùng, gã nọ và người trung niên chốt giá một nghìn đồng bạc để rước xá lợi tử, nhưng khi mở bọc tiền ra, gã chỉ có năm trăm đồng.
Giang ca thấy thời cơ đến, vội vàng nói:
• Tôi cũng góp năm trăm, hai ta mỗi người một nửa.
Gã nọ dù không cam lòng cũng đành gật đầu. Hai người mỗi kẻ rút ra một tờ ngân phiếu đưa cho người trung niên. Gã chủ nhà đặt xá lợi tử vào một chiếc hộp sắt có chạm khắc hình Phật, có lẽ cái hộp này cũng là đồ trong chùa.
Giang ca và gã kia tranh nhau cầm chiếc hộp, ai cũng sợ đối phương ôm bảo vật chạy mất. Cuối cùng, hai bên bàn nhau mỗi người giữ một canh giờ, cứ hết giờ lại chuyển tay cho người kia.
Chúng tôi cùng nhau quay về huyện lỵ.
Về đến huyện thì trời đã sẩm tối. Gã đàn ông nọ bảo chúng tôi đứng đợi trước cửa trạm xe ngựa, dặn không được đi đâu xa để gã vào trong giải quyết nỗi buồn.
Gã vừa mất hút trong trạm, Giang ca lập tức lôi tôi chạy bán sống bán chết. Chạy qua hai con phố, Giang ca nhét vào tay tôi mấy đồng bạc rồi nói:
• Mày mau về đi, tao phải về Tứ Xuyên ngay đêm nay.
Tôi cầm mấy đồng bạc, đứng đờ ra trên con phố lát đá xanh, nhìn bóng Giang ca lao về phía cổng thành. Ngay khoảnh khắc cổng thành sắp đóng lại, gã đã kịp lách mình vọt ra ngoài.
Cánh cửa thành "uỳnh" một tiếng đóng sập, nhốt tôi và gã đàn ông kia lại bên trong. Một nỗi sợ hãi tột độ bủa vây lấy tôi. Nếu gã kia tìm thấy tôi, chẳng phải gã sẽ đánh tôi nhừ tử sao? Gã mà đòi xá lợi tử, tôi biết đào đâu ra mà trả?
Tôi không dám về tiệm tranh chữ nữa, chỉ sợ gã tìm tới tận nơi.
Đêm ấy, tôi vất vưởng trong bóng tối của những dãy nhà và tường thành, chẳng khác nào một con chó lạc. Đến nửa đêm, tôi tìm thấy một gian nhà cỏ bỏ hoang liền chui tọt vào, định bụng đợi trời sáng hẳn mới dám mò về tiệm.
Suốt đêm, tôi cứ trằn trọc mãi: Tại sao hai lần dẫn "Vạn tự" (khách béo) đến làng Hậu Lý đều gặp chuyện không may? Lần đầu với Chu ca thì bị kẻ bán tượng Phật cướp khách; lần này với Giang ca lại bị kẻ bán xá lợi hớt tay trên, bản thân lại còn phải sống trong sợ hãi vì lo bị gã chung tiền tìm tính sổ. Chẳng lẽ số tôi lại hẩm hiu đến thế? Cứ hễ dẫn khách ra khỏi huyện là xôi hỏng bỏng không? Rốt cuộc là tại sao?
Tôi vốn ngu muội, nghĩ nát óc cũng không ra kẽ hở nằm ở đâu. Giá mà có Sư phụ và Nhị sư thúc ở đây thì tốt biết mấy, họ đều là những bậc tinh đời, chắc chắn sẽ nhìn thấu chân tướng.
Nghĩ mãi không thông cái huyền cơ ấy, tôi tặc lưỡi bỏ qua, quay sang tính kế xem ngộ nhỡ bị gã kia tóm được thì phải làm thế nào. Gần sáng, tôi cũng nảy ra được một "diệu kế". Tôi sẽ bảo với gã rằng Giang ca là kẻ tôi mới quen, năm trăm đồng bạc của gã là tôi trộm của gia đình ra, gã hứa mua đồ cổ hộ tôi, ai dè gã cuỗm tiền mua xá lợi tử rồi cao chạy xa bay, giờ chúng ta phải phối hợp mà bắt gã lại.
Khi mặt trời ló rạng, tôi mới yên tâm chợp mắt.
Chẳng biết qua bao lâu, tôi bị đánh thức bởi một cơn đau nhói ở cổ chân. Nhìn xuống, thấy một con mèo béo mầm đang dùng vuốt cào tôi, nó dựng râu trợn mắt, vẻ mặt vô cùng giận dữ. Nhìn kỹ lại, cách chỗ tôi nằm vài thước là một ổ mèo con. Hóa ra gian nhà nát này là ổ của mụ mèo.
Tôi lủi ra khỏi nhà cỏ, bám theo chân tường lẻn về tiệm tranh chữ.
Trong tiệm, Sở Nhuận Hiên và Thuận Oa đã ngồi sẵn ở đó. Chúng quát hỏi đêm qua tôi biến đi đâu, tôi chẳng bịa nổi lời nói dối nào, đành khai thật hết, thế là ăn một trận đấm đá tơi bời.
Sau khi đánh mỏi tay, chúng đuổi tôi ra ngoài bày sạp khắc dấu, phạt nhịn cơm cả ngày.
Tôi lủi thủi ra bày sạp, đối mặt với bức tường thành khô khốc, ý định bỏ trốn lại một lần nữa trỗi dậy mãnh liệt.
Một đám trẻ chạy qua dưới chân thành, vừa chạy vừa hát đồng dao:
• Xấu hổ quá, cào mặt ra,
Cào cái rãnh, trồng đậu hà lan.
Năm nay không thu, sang năm thu,
Sang năm đợi giặc đến khuân đồ.
Nhìn lũ trẻ, lòng tôi trào dâng niềm khao khát vô bờ. Bài đồng dao này thuở nhỏ tôi cũng thường hát, ở tư thục chúng tôi hay hát để trêu chọc những bạn làm sai chuyện gì đó.
Phía sau đám trẻ là Băng Lưu Tử, hắn lại đến đưa màn thầu cho tôi. Nhìn cái bánh, nước mắt tôi cứ thế lã chã tuôn rơi.
Băng Lưu Tử thầm thì:
• Anh em mình cùng chạy đi, được không?
Tôi gật đầu:
• Được. Nhưng đi đâu?
Băng Lưu Tử bảo:
• Chỉ cần có tiền, đi đâu chẳng được.
Tôi thở dài:
• Ngặt nỗi mình làm gì có tiền.
Băng Lưu Tử cười nhạt:
• Kiếm tiền có gì khó, mình đi trộm, đi cướp, rồi cao chạy xa bay.
Tôi nhìn hắn với ánh mắt ngưỡng mộ, thầm nghĩ Băng Lưu Tử quả là thông minh hơn mình, người ta biết tính chuyện kiếm tiền để trốn đi xa, sao mình lại không nghĩ ra nhỉ.
Tôi hỏi:
• Kiếm tiền ở đâu? Tiền của bọn nó giấu chỗ nào mình có biết đâu. Trộm mấy thứ đồ giả này cũng chẳng bán được xu nào.
Băng Lưu Tử đáp:
• Kiếm tiền thì đừng kiếm ở đây. Tao nghe nói trong nha môn huyện có một món cực phẩm, mày có dám chơi không?
Tôi hỏi:
• Món gì mà gớm thế?
Băng Lưu Tử hạ giọng:
• Kim ấn, thứ đó mới là hàng thật giá thật. Nếu nẫng được nó, anh em mình cả đời không lo cơm áo nữa.
Tôi hạ quyết tâm:
• Đã làm thì làm cho tới, xong xuôi là biến luôn.
Băng Lưu Tử dặn:
• Chuyện này mày tuyệt đối không được hở môi với ai, cả lũ Đại Nhãn, Tiểu Nhãn với Đối Nhãn cũng không được nói, bọn nó đều là dân địa phương cả.
Tôi hỏi:
• Mày cũng là người phương khác à? Nhà mày ở đâu?
Băng Lưu Tử bùi ngùi:
• Xa lắm, tận Sơn Đông cơ. Tao chạy nạn đến đây, cả nhà chết sạch cả rồi, chỉ còn mình tao thôi.
Tôi nói:
• Tao cũng chỉ có một mình.
Băng Lưu Tử vỗ vai tôi:
• Từ nay anh em mình là huynh đệ ruột thịt.
Tôi đáp:
• Phải, huynh đệ ruột thịt.
Biết là kim ấn của nha môn thì cực kỳ giá trị, nhưng tôi vẫn thấy rờn rợn. Nha môn bao nhiêu người, lại còn có súng ống, canh phòng nghiêm ngặt, đừng nói là đột nhập, có vào được cũng khó mà ra. Lỡ bị tóm thì không phải chuyện đùa, có khi mất mạng như chơi.
Nhưng Băng Lưu Tử lại bảo:
• Càng dưới chân đèn lại càng tối. Người ta gọi đó là "đèn hạ hắc". Nhà thường có đồ quý thì ngày nào cũng canh cánh, đêm nào cũng dậy xem vài lượt, mày muốn trộm cũng chẳng có khe hở. Còn kim ấn là đồ công, ai mà để ý nó có mất hay không? Ai rảnh háng đêm đêm dậy trông nó vài lần? Vả lại, cái ấn ấy mấy trăm năm nay có mất đâu, ai mà ngờ được nó lại bị anh em mình nhắm tới?
Tôi thấy lời Băng Lưu Tử rất có lý. Nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất.
Tôi hỏi:
• Sao mày biết trong nha môn có cái ấn ấy?
Băng Lưu Tử kể:
• Năm kia, hồi mày chưa đến Bảo Hưng, có đám trộm định nẫng kim ấn, kết quả đến cửa cuối cùng thì bị lính tuần đêm phát hiện. Bọn lính đuổi theo, chúng vứt lại kim ấn mà tháo chạy. Từ dạo đó, chuyện về kim ấn mới đồn đại khắp nơi. Cái ấn này là của vua Ung Chính triều Thanh ban cho huyện Bảo Hưng đấy. Năm đó, Ung Chính đi qua đây đột nhiên lâm trọng bệnh, ngự y cũng bó tay. Quan huyện Bảo Hưng dâng phương thuốc dân gian chữa khỏi bệnh cho vua. Khi về kinh, Ung Chính ban cho huyện khối kim ấn, trên có hai chữ "Ngự Tứ", dưới là bốn chữ "Bảo Hưng huyện vực". Mấy trăm năm nay, công văn quan trọng của huyện đều đóng cái ấn này. Dù giờ là thời Dân quốc thay triều Thanh, nhưng phát cáo thị vẫn dùng cái ấn đó.
Tôi hỏi:
• Thế mày có biết tối đến cái ấn được cất ở đâu không?
Băng Lưu Tử tự tin:
• Nha môn cũng chỉ có mấy gian phòng ấy thôi, chỉ cần tao vào được, lục từng phòng một thế nào chẳng ra.
Tôi lo lắng:
• Nhưng mày vào kiểu gì, lục kiểu gì?
Băng Lưu Tử cười khẩy:
• Mày coi thường tao quá. Cái danh Băng Lưu Tử của tao không phải hữu danh vô thực đâu. Để tao kể một chuyện, mày sẽ biết bản lĩnh của tao thế nào.
Tôi tò mò:
• Chuyện gì?
Băng Lưu Tử kể:
• Tao từng đánh cược với một gã, bảo là trong vòng ba ngày tao sẽ trộm được cái quần lót mà vợ gã đang mặc trên người. Gã không tin, đem một con cừu ra cược. Kết quả, ba ngày sau tao cầm cái quần lót của vợ gã đến tìm, gã tâm phục khẩu phục, dắt con cừu giao cho tao.
Tôi chợt nhận ra gã Băng Lưu Tử ngày thường cứ khép nép này có khi lại là một thần trộm cỡ như Bồ Đề, liền hỏi:
• Sao mày trộm được quần lót của vợ người ta hay thế? Lẽ nào trộm trong tủ áo?
Băng Lưu Tử đáp:
• Không, tao trộm ngay trên người mụ ấy, mà lúc trộm chồng mụ còn đang nằm bên cạnh cơ.
Tôi suy nghĩ một hồi rồi nói:
• Chắc chắn là cả hai vợ chồng đều ngủ say như chết, hoặc là mày dùng mê hồn dược rồi.
Băng Lưu Tử khinh khỉnh:
• Dùng thuốc mê thì còn gì là hảo hán? Tao trộm ngay trước mặt hai đứa nó đấy.
Tôi thấy ly kỳ quá, giục hắn kể mau xem làm cách nào mà lấy được món đồ nhạy cảm ấy ngay trên người một người phụ nữ.
Băng Lưu Tử kể tiếp:
• Có năm ở quê nhà Sơn Đông, tao cược với một gã mới cưới vợ. Gã bảo tao bốc phét, rồi dặn vợ ba ngày ấy phải mặc quần lót suốt ngày đêm xem tao trộm kiểu gì. Tao bảo nếu trộm được gã mất một con cừu, không được thì tao mất cho gã. Gã đồng ý ngay.
Tôi ngắt lời:
• Phải rồi, vợ người ta mặc khư khư trên người, mày lấy bằng niềm tin à?
Băng Lưu Tử cười:
• Băng Lưu Tử này đâu phải tên suông. Hai đêm đầu, vợ chồng nhà nọ thức trắng, mụ vợ nắm chặt quần, thằng chồng cũng giúp nắm lấy. Còn tao thì ở nhà ngủ khì, đến cái tường rào nhà chúng nó tao cũng chẳng buồn ngó. Sang đêm thứ ba tao mới ra tay.
Tôi nghe mà cười sặc sụa, quên cả nỗi đau vừa bị Thuận Oa và Sở Nhuận Hiên tẩn cho một trận. Trong đầu tôi hiện ra cảnh tượng hài hước của đôi vợ chồng nọ nắm khư khư cái quần lót.
Băng Lưu Tử kể tiếp:
• Hai đêm trước thức trắng nên đêm thứ ba chúng nó mệt lử, lăn ra ngủ sớm. Dù ngủ nhưng mụ vợ vẫn mặc quần, hai tay nắm chặt. Tao nghe tiếng ngáy như sấm trong phòng, định vào nhưng cửa trong khóa chặt, lại còn đóng đinh chèn then, không cách nào gẩy ra được. Cửa sổ cũng chốt kỹ từ bên trong, tóm lại là không có đường vào phòng.
Tôi hỏi:
• Không vào được phòng thì trộm kiểu gì?
Băng Lưu Tử nói:
• Không vào phòng vẫn trộm được như thường. Tao nấp dưới bậu cửa sổ nghe ngóng, đến nửa đêm thì thằng chồng dậy. Mùa đông trời rét căm căm, người ta hay để bô trong chăn để đi tiểu cho ấm. Gã sờ soạn lấy cái bô cho vào chăn hành sự. Đái xong, gã đặt bô xuống gầm giường rồi nằm xuống, bỗng thấy đệm ướt sũng. Gã tưởng vợ đái dầm, liền huých mụ một cái mắng: "Sao cô lại đái dầm thế này?". Mụ vợ đang ngủ say, sờ thấy đệm ướt thật, cũng tưởng mình đái dầm, ngượng quá liền cởi phăng cái quần lót quẳng xuống đất, định bụng sáng ra đem giặt. Mày biết tại sao đệm lại ướt không?
Tôi đoán:
• Chắc tại thằng chồng đái chệch ra ngoài.
Băng Lưu Tử cười:
• Đêm nào gã chẳng dùng bô ấy, sao mà chệch được, nghĩ lại đi.
Tôi lắc đầu chịu thua.
Băng Lưu Tử đắc ý:
• Lúc chập tối tao đã lén vào nhà xí nhà gã, dùi một lỗ nhỏ dưới đáy bô rồi lấy bùn trát lại. Cái bô sành ấy dùng dùi ngoáy vài cái là thủng ngay. Thằng chồng vừa đái, nước tiểu xối mạnh làm trôi lớp bùn, thế là đệm chẳng ướt thì sao!
Tôi cười ha hả, không ngờ Băng Lưu Tử lại có cái mẹo quái chiêu đến thế.
Băng Lưu Tử kể nốt:
• Mụ vợ quẳng quần xuống đất rồi cứ thế nằm ngủ trần. Thằng chồng thấy phía ấy ướt nên xoay đầu nằm lại, cả hai mệt quá nên ngủ thiếp đi, quên bẵng chuyện đánh cược. Tao lấy nước bọt thấm ướt giấy dán cửa sổ rồi chọc một lỗ nhỏ, đưa cây sào tre mảnh đã chuẩn bị sẵn vào khều một cái là cái quần lót ra theo.
Tôi cười đến hụt cả hơi, thật không ngờ cái quần lót đang mặc trên người lại bị trộm theo cách không ai ngờ tới như vậy.
Băng Lưu Tử nói tiếp:
• Lấy được quần rồi tao vẫn nấp dưới cửa sổ nghe ngóng. Lát sau thằng chồng tỉnh dậy, định "hành sự" với vợ, mụ vợ thì nũng nịu. Đột nhiên thằng chồng rú lên một tiếng, ngồi bật dậy quát: "Quần lót đâu rồi?". Mụ vợ cũng choàng tỉnh bảo: "Ướt quá tôi quẳng xuống đất rồi". Vừa nhìn thấy lỗ thủng trên giấy dán cửa sổ, cả hai cùng kêu trời. Thằng chồng oán trách: "Tôi đã bảo cô phải mặc cho kỹ, cô lại cứ đòi cởi ra, giờ thì hay rồi, cởi mất một con cừu của tôi rồi!".
Tôi lại được phen cười vỡ bụng, Băng Lưu Tử cũng cười theo. Chợt thấy Thuận Oa từ xa đi tới, gã quát:
• Hai thằng mày cười cái gì! Lại đây cả, theo tao đi làng Hậu Lý một chuyến. Tao phải xem rốt cuộc con ma nào đang ám cái con đường này.
Cùng đi với chúng tôi là một đôi vợ chồng già. Tôi nghe ông lão gọi bà lão là lão Điền, bà lão gọi ông là lão Lý. Hai người trông đều quắc thước, tóc bạc da hồng, cụ ông vốn là giáo sư đại học quốc lập, cụ bà ngày xưa cũng là tiểu thư nhà quyền quý, cả hai đều học rộng biết nhiều.
Lão Lý là người rất thích trò chuyện. Vừa gặp mặt, lão đã thao thao bất tuyệt về lịch sử Lạc Dương và Khai Phong, nào là chuyện binh biến Trần Kiều, "Hoàng bào gia thân" ở Khai Phong, nào là loạn Tam Quốc, Tào Tháo "hiệp Thiên tử dĩ lệnh chư hầu" ở Lạc Dương. Lão nói hăng say đến mức nước bọt văng tứ tung, làm tôi hình dung ra cảnh lão đang đứng trên bục giảng đại học. Lão Điền thì nho nhã hơn nhiều, bà chỉ im lặng lắng nghe, rất ít khi lên tiếng. Tuy gương mặt đã hằn vết chân chim nhưng dáng đi vẫn thẳng tắp, nhìn là biết ngay cốt cách tiểu thư đài các năm nào.
Vừa đến cửa Đông, chúng tôi bỗng thấy một gã đàn ông dáng vẻ lén lút nấp dưới góc tường. Thấy ai đi qua, gã cũng hé vạt áo cho xem món đồ giấu bên trong rồi lại vội vàng che lại, mắt lấm lét nhìn quanh. Thấy chúng tôi, gã cũng hé ra hỏi nhỏ:
• Có lấy không?
Thứ gã giấu trong lòng là một cái đĩa, hoa văn tinh xảo trên đó làm lão Lý sáng rực mắt. Lão bước tới một bước, nắm lấy vạt áo gã nọ bảo:
• Mượn bước nói chuyện.
Gã đàn ông nhìn quanh quất, thấy không ai để ý liền đi vào một con ngõ nhỏ, lôi cái đĩa ra đưa cho lão Lý. Chúng tôi tò mò đi theo sau.
Lão Lý vừa cầm cái đĩa đã thốt lên:
• Đây là đồ sứ Pháp Lang Thái!
Gã đàn ông nọ đáp:
• Tôi chẳng biết Pháp Lang gì cả, đồ này tôi trộm từ phòng của lão gia ra đấy. Muốn mua thì nhanh lên, để lâu lão gia phát hiện ra là chết cả nút.
Lão Lý còn chưa kịp nói gì, Thuận Oa đã chen vào:
• Một đồng bạc thế nào?
Gã đàn ông sầm mặt lại:
• Một đồng bạc? Anh đi mà bố thí cho ăn mày ấy.
Thuận Oa bồi thêm:
• Đằng nào ông cũng chẳng mất vốn, đồ đi trộm của người ta, một đồng bạc là hời rồi.
Gã đàn ông hậm hực bỏ đi, vừa đi vừa lẩm bẩm:
• Coi bộ các người chẳng phải khách thực lòng muốn mua, khỏi nói nữa.
Gã nọ đi rồi, lão Lý tiếc rẻ vỗ đùi bành bạch:
• Đồ Pháp Lang Thái tốt thế kia, cơ hội nghìn năm có một thế kia mà...
Tôi nghe không hiểu, liền hỏi:
• Sứ Pháp Lang Thái là cái gì hả cụ?
Lão Lý giảng giải:
• "Pháp Lang" vào triều Thanh dùng để chỉ tranh Tây phương. Phương Đông mình trọng "ý", còn Tây phương trọng "thực". Năm 1715, có họa sĩ người Ý tên là Lang Thế Ninh lấy danh nghĩa giáo sĩ đến Trung Hoa, được vua Khang Hy triệu kiến. Ông ta vẽ chân dung cho Khang Hy, được vua vô cùng tán thưởng, sau đó ở lại trong cung suốt năm mươi năm, làm họa sư ngự dụng cho ba đời vua Khang Hy, Ung Chính, Càn Long. Tranh Tây phương trọng nhân vật, phong cảnh, mà Lang Thế Ninh lại dùng bút pháp Tây phương để vẽ các đề tài quen thuộc của tranh Trung Hoa như hoa điểu, sơn thủy, tẩu thú, từ đó khai sáng ra một họa phái mới.
Tôi đế vào:
• Ông Lang Thế Ninh này thông minh thật. Kết hợp tranh Trung Hoa với tranh Tây phương đẻ ra đứa con "nhị chuyển tử" rồi.
Lão Lý ngạc nhiên hỏi:
• "Nhị chuyển tử" là cái gì?
Tôi đáp:
• Ở quê cháu, con lai giữa người Hồi, người Duy Ngô Nhĩ và người Hán thì gọi là "nhị chuyển tử", đứa nào cũng đẹp mà lại thông minh tuyệt đỉnh.
Lão Lý gật đầu cười:
• Tranh của Lang Thế Ninh đúng là một kiểu "nhị chuyển tử" thật.
Nghe vậy, Thuận Oa và mấy người kia đều bật cười.
Lão Lý tiếp tục:
• Khi ấy Khang Hy thấy tranh của Lang Thế Ninh đẹp quá, bèn lập ra xưởng Pháp Lang trong cung, bắt Lang Thế Ninh dạy cho các họa sư Trung Hoa. Sau này vua lại nảy ra ý định đem những bức tranh Pháp Lang ấy in lên đồ sứ mình dùng. Các họa sư Pháp Lang kết hợp với thợ gốm của Ngự Diệu Xưởng, sau khi làm xong cốt sứ thì vẽ tranh Pháp Lang lên rồi đem nung, đó chính là nguồn gốc sứ Pháp Lang Thái.
Tôi tặc lưỡi:
• Vua chúa đúng là hay vẽ chuyện, dùng cái đĩa thôi mà cũng phải vẽ tranh Tây phương lên cho bằng được.
Lão Lý cười:
• Đó mới là Hoàng đế! Cả thiên hạ là của vua, bắt họa sư vẽ vài bức tranh thì thấm tháp gì. Sứ Pháp Lang Thái là tinh hoa mỹ nghệ của cung đình, chỉ dành riêng cho Hoàng đế và các phi tần. Mỗi bức tranh trước khi vẽ lên sứ đều phải qua vua phê duyệt, vua gật đầu mới được vẽ, vua lắc đầu là bỏ. Thế nên sứ Pháp Lang Thái trên đời này là độc nhất vô nhị, không có cái thứ hai trùng lặp. Vả lại, cốt sứ phải được nung ở lò riêng tận Cảnh Đức Trấn, vận chuyển bằng xe chuyên dụng về kinh, anh tính xem vốn liếng tốn kém đến mức nào? Đã thế lại còn được nung ngay tại Tạo Biện Xứ trong cung. Một cái đĩa như thế, đáng giá bao nhiêu tiền cơ chứ?
Băng Lưu Tử chêm vào:
• Thế thì chắc là đắt kinh người rồi.
Lão Lý gật đầu:
• Bởi vậy, nhìn thấy cái đĩa Pháp Lang Thái kia, tôi mới nhất quyết muốn mua cho bằng được.
Trong lúc lão Lý say sưa nói về sứ Pháp Lang, Thuận Oa vẫn chăm chú lắng nghe. Đợi lão nói xong, Thuận Oa mới hỏi:
• Đồ Pháp Lang là đồ cung đình, thế sao ở cái xó này lại có? Đây đâu phải kinh thành.
Lão Lý giải thích:
• Đến thời Càn Long, sứ Pháp Lang trong cung nhiều dần lên, vua ban thưởng một phần cho công thần, nên một ít mới lọt ra các phủ đệ giàu sang. Sau này liên quân Anh - Pháp đốt Viên Minh Viên, rồi loạn Bát quốc liên quân, Lão Phật Gia lánh nạn về Tây, rồi hoàng đế thoái vị, cửa cung mở toang, ai vào lấy gì chẳng được, đồ Pháp Lang cứ thế lưu lạc dân gian. Bởi vậy, trong dân chúng giờ vẫn có thể tìm thấy đồ ngự dụng năm nào.
Thuận Oa nói:
• Cụ nói thì đúng cả đấy, nhưng tôi cứ thấy gã kia giống phường lừa đảo.
Lão Lý vặc lại:
• Sao anh biết gã là lừa đảo?
Thuận Oa đáp:
• Ở đây đầy rẫy quân lừa chuyên nhắm vào người ngoại tỉnh, lúc nào cũng dùng cái bài "trộm của lão gia ra" để nhử mồi.
Tôi thầm cười trộm. Lần đầu tôi lừa đôi vợ chồng từ tỉnh lỵ đến, chẳng phải cũng dùng đúng cái bài ấy sao?
Lão Lý vung tay như đang đứng trên bục giảng:
• Biết đâu gã trộm thật thì sao. Cơ hội tốt thế này, sao nỡ bỏ lỡ?
Thuận Oa tặc lưỡi:
• Nếu cụ nhất quyết muốn mua thì cứ trả mười đồng bạc, không hơn, xem gã nói thế nào.
Vợ chồng lão Lý và tôi lại quay lại con ngõ ấy, Thuận Oa và Băng Lưu Tử nấp một bên. Thấy lão Lý quay lại, mắt gã đàn ông nọ lóe lên tia hy vọng, gã bước nhanh tới giục:
• Nhanh lên, tôi ra ngoài lâu quá rồi, lão gia nghi ngờ bây giờ.
Lão Lý chắc nịch:
• Mười đồng bạc.
Gã đàn ông sầm mặt:
• Cái gì? Mười đồng? Ông khinh tôi quá đấy.
Lão Lý kiên định:
• Mười đồng, không thêm xu nào.
Gã nọ nhìn quanh quất rồi tặc lưỡi:
• Thôi được rồi, đưa đây, tôi phải về gấp.
Lão Lý bỏ ra mười đồng bạc mua được cái đĩa "ngự dụng", sướng rơn người, cứ ngỡ mình vừa vớ được món hời trên trời rơi xuống. Lão cầm cái đĩa ngắm nghía mãi, giảng giải cho chúng tôi nghe từng nét vẽ tinh tế. Lão hưng phấn đến độ lông mày bay múa, chúng tôi chẳng ai chen vào được câu nào.
Đi ngang qua một quán trọ, lão Điền bỗng phát hiện ra điều gì lạ lùng, bà gọi lớn:
• Nhìn kìa, nhìn đằng kia kìa!
Theo hướng tay bà chỉ, chúng tôi thấy trên quầy thu ngân của quán trọ đặt một cái đĩa y hệt cái lão Lý đang cầm trên tay: cùng kích cỡ, cùng hoa văn "Hỷ tước đăng chi", cũng nền vàng, cành đen, lá xanh, chim hỷ tước hoa văn sặc sỡ. Lão Lý nhìn cái đĩa trên quầy, rồi nhìn lại cái đĩa trên tay mình, mặt nghệt ra như phỗng.
Thuận Oa hỏi chủ quán:
• Cái đĩa này bán thế nào?
Chủ quán thản nhiên đáp:
• Một đồng bạc một đôi, dưới gầm kia còn một cái nữa.
Dẫu cho lão Lý học vấn đầy mình thì cũng chẳng đấu lại nổi thói đời hiểm ác. "Võ công có cao, một gạch cũng đổ", võ sư có giỏi đến mấy cũng sợ gạch nửa viên. Trải nghiệm của lão Lý chính là minh chứng hùng hồn nhất cho việc văn minh không đấu lại nổi sự dã man.
Từ huyện lỵ đến làng Hậu Lý dài chừng hai mươi dặm, ban đầu là đồng bằng, sau đó là vùng núi, đường càng đi càng hẹp, người thưa thớt dần. Mỗi khi thấy bóng người phía trước, tôi lại khấp khởi mừng thầm, tưởng đó là kẻ đi mời chào đồ cổ giả, nhưng bọn họ cứ thế lướt qua, chẳng thèm nhìn chúng tôi lấy một cái. Lạ thật, sao lại thế được nhỉ?
Càng gần đến làng Hậu Lý, sắc mặt Thuận Oa càng khó coi. Chắc gã đang nghĩ bấy lâu nay tôi lừa gã, cố tình đuổi "Vạn tự" đi để phá chuyện làm ăn của bọn gã.
Nhưng tôi có miệng mà chẳng thanh minh nổi.
Quái lạ thật, sao suốt dọc đường ra khỏi huyện lại chẳng gặp đứa nào bán đồ giả thế này?
Lão Lý gọi đồ giả là "nhạn phẩm", lão bảo đó là thuật ngữ chuyên môn.
Lão Lý cũng nhanh chóng thoát ra khỏi nỗi buồn mua hớ, lão lại hứng chí giảng về lịch sử của đồ giả.
Lão bảo dân tộc mình vốn thông minh, nhưng có kẻ lại dùng thông minh vào đường tà đạo. Lịch sử đồ giả ở Trung Hoa cũng dài ngang ngửa lịch sử cổ vật. Hễ có cổ vật, hễ cổ vật bán được tiền là đồ giả ra đời. Trong suốt chiều dài phát triển của dân tộc này, mưu hèn kế bẩn đã thấm đẫm vào máu tủy của mọi thời đại, mọi ngành nghề. Lão Lý ví dân tộc phương Tây có tính sói, còn dân tộc mình mang tính lừa. Sói thì kiên cường, dũng mãnh; lừa thì nhát gan, an phận thủ thường nhưng lại cực kỳ giỏi "gà nhà bôi mặt đá nhau", cùng một cái máng mà không nhốt nổi hai con lừa đực, lúc nào cũng hục hặc, thế mà hễ gặp sói là mỗi con chạy một ngả thoát thân.
Lão Lý giảng, nghề làm đồ giả bắt nguồn từ tận thời Xuân Thu. Theo "Hàn Phi Tử" chép, nước Tề đánh nước Lỗ, nước Lỗ cầu hòa, nước Tề bắt Lỗ phải dâng chiếc đỉnh nhà Thương mới chịu bãi binh. Nước Lỗ bèn đúc một cái đỉnh giả dâng lên, còn đỉnh thật thì giấu biệt đi. Đó là ghi chép sớm nhất về đồ giả. Đến thời Chiến Quốc, vì ai cũng biết cổ ngoạn có giá trị sưu tầm nên bắt đầu có thị trường mua bán. Với người mình, hễ có mua bán là có lừa lọc, có mua bán là có hàng giả, thế nên thời Chiến Quốc đồ giả đã tràn lan trong dân gian, chủ yếu là đồ đồng.
Đến triều Đường, tranh chữ giả bắt đầu có thị trường, mà kẻ khơi mào chính là Đường Thái Tông Lý Thế Dân. Lý Thế Dân sai bọn Phùng Thừa Tố mô phỏng bức "Lan Đình Tự" của Vương Hy Chi để ban phát cho quần thần, từ đó tranh chữ giả bùng phát, lưu truyền đến tận ngày nay. Nghề làm tranh giả có bốn chiêu: "mô", "lâm", "phỏng", "tạo". "Mô" là ép giấy lên tranh thật mà đồ lại từng nét; "lâm" là nhìn tranh thật mà vẽ theo; "phỏng" là dựa theo phong cách tác giả mà vẽ bức khác; "tạo" là vẽ bừa một bức rồi ký tên danh gia lên.
Lão Lý bảo, đời nào kỹ thuật làm đồ giả cũng được cải tiến, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Đến nay thì đồ giả đã đạt đến mức xảo diệu, thực giả khó phân, đồ giả trên thị trường nhiều gấp vạn lần đồ thật. Giờ muốn tìm đồ thật, chỉ có nước lần mò về những vùng quê hẻo lánh mà thôi.
Tôi và Băng Lưu Tử đưa mắt nhìn nhau, suýt thì bật cười. Lão Lý này nói thì vanh vách lý thuyết, chứ đụng chuyện thực tế là lú lẫn ngay. Chẳng phải vừa rồi lão mới bị một vố đau ở huyện đó sao?
Làng Hậu Lý nằm sâu trong rừng già, hẻo lánh vô cùng. Chắc lão Lý cũng nghĩ cái nơi thâm sơn cùng cốc này mới có đồ thật nên mới nằng nặc đòi chúng tôi dẫn tới.
Khi chúng tôi đến làng Hậu Lý thì mặt trời đã ngả bóng về tây. Ngôi làng này đúng là cổ kính thật, chỉ có một con đường mòn độc đạo nối với bên ngoài. Cây cối trong làng, cây nào cũng già hơn tuổi tôi, nhiều cây cổ thụ thân đã rỗng tuếch, rễ cây trồi lên mặt đất. Đường lát đá xanh mòn nhẵn thín, còn góc tường và miệng giếng thì rêu phong phủ kín. Trên tường rào, mái nhà, cỏ hoang mọc um tùm, gạch ngói lâu ngày đã chuyển sang màu xanh thẫm.
Cả làng chỉ có vài hộ dân, hộ nào cũng chỉ thấy người già. Hỏi thăm thì bảo bọn trẻ chê đây đi lại khó khăn, đến vợ cũng chẳng cưới nổi nên dọn hết ra chân núi cách đây bảy tám dặm rồi.
Làng Hậu Lý như một con chấy nấp trong kẽ núi, bao bọc bởi rừng rậm bát ngát, hoàn toàn cách biệt với thế giới. Người già trong làng vẫn mặc trang phục thời Thanh. Bước chân vào đây, tôi cứ ngỡ mình vừa bước lên một sân khấu kịch cổ.
Lão già bí ẩn mà tôi hay gặp ở tiệm tranh chữ chính là người ở đây. Lão đang ngồi trên con sư tử đá trước cửa, hai tay đút túi áo, mắt lim dim như một pho tượng cổ. Trang phục của lão bây giờ khác hẳn với lúc ở tiệm tranh trong huyện.
Thuận Oa dẫn vợ chồng lão Lý vào nhà lão già bí ẩn. Tôi thấy trên tường nhà lão dán một bức họa, giấy đã cũ kỹ ngả vàng, lại còn bị rách mất một góc. Lão Lý vừa nhìn thấy bức tranh đã lao bổ tới như ruồi thấy mật. Lão nhìn từ đầu chí cuối, rồi lại từ dưới lên trên, mắt trợn trừng như hai quả trứng gà, thốt lên:
• Tác phẩm của Hàn Can! Đúng là của Hàn Can rồi!
Tôi mím chặt môi, suýt thì phì cười, Thuận Oa lườm tôi một cái cháy mặt nên tôi không dám cười nữa.
Lão Lý hỏi lão già bí ẩn:
• Bức tranh này bán thế nào? Tôi mua.
Lão già thong thả đáp:
• Ông muốn lấy thì lấy, tôi dán bức ấy chỉ để che cái mảng tường bong tróc phía sau thôi. Ông lấy đi thì phải đưa tôi thứ gì khác mà che tường đấy.
Nghe lão già nói vậy, lão Lý nhìn sang bà vợ lão Điền. Mắt lão Điền cũng sáng rực lên. Lão Lý tin chắc hôm nay mình vớ được món hời cực đại, gặp đúng lão già nông thôn không biết chữ nghĩa gì, "ngồi trên đống vàng mà đi xin ăn".
Lão Lý vừa định giơ tay gỡ bức tranh xuống thì Thuận Oa không chịu. Thuận Oa bảo bức tranh đó gã thấy trước, lão Lý cũng là do gã dẫn đến, nên bức tranh phải thuộc về gã mới đúng.
Lão Lý lộ vẻ bối rối, có lẽ phận giáo sư đại học như lão hiếm khi gặp cảnh bị tranh chấp thô bạo thế này. Lão lẩm bẩm:
• Anh có biết Hàn Can là ai không?
Thuận Oa gằn giọng:
• Tôi chẳng biết Hàn Can Hàn Quýt gì sất, tôi chỉ biết bức này rất đáng giá. Sáng nay tôi ngồi ăn cơm, nghe bạn bè nói làng Hậu Lý hẻo lánh nhưng nhiều nhà quyền quý, đồ cổ không thiếu. Thế là ông mò đến bàn tôi, xin tôi dẫn đường. Tôi không biết lối mới phải mời hai đứa nhỏ này đi cùng. Không có tôi thì ông chẳng biết làng Hậu Lý là cái gì; không có hai đứa nhỏ này thì ông cũng chẳng mò đến được đây. Bức tranh này quý lắm, tôi biết ông đem về tỉnh lỵ bán cái vèo là được bộn tiền. Ông không được ăn mảnh, ông phải chia cho mỗi người chúng tôi một ít.
Mặt lão Lý đỏ gay, chắc lão cảm thấy nói chuyện tiền nong trước một kiệt tác của Hàn Can là làm nhục giới văn nhân, lão yếu ớt đáp:
• Đây không phải chuyện... chuyện tiền nong.
Lão già bí ẩn đứng ngoài nắng, trông như kẻ lãng tai mắt mờ, chẳng biết trong nhà đang cãi vã cái gì. Thấy lão Lý bị Thuận Oa dồn vào góc tường, lão mới bước vào can ngăn:
• Hòa khí sinh tài, hòa khí sinh tài, các vị làm gì mà nóng thế, chẳng phải đều là người một nhà cả sao?
Lão Lý nói:
• Tại bức tranh này của cụ đấy.
Lão già bí ẩn xua tay:
• Tại một mảnh giấy rách mà phải cãi nhau thì không đáng. Các vị thích cứ việc cầm lấy đi.
Cái phong thái cao khiết của lão già làm lão Lý vô cùng cảm động, lão thốt lên:
• Cụ nói chí lý quá.
Lão già bí ẩn lại lững thững đi ra ngoài, đối với lão, việc sưởi nắng còn có sức hút hơn cả bức danh họa cổ kia.
Thuận Oa nhìn lão Lý bảo:
• Ông đến Hậu Lý thu đồ, tôi cũng đến đây thu đồ, giờ cả hai cùng nhắm trúng một món, chi bằng chia đôi, ông thấy thế nào?
Lão Lý gật đầu:
• Thế thì tốt quá, sau khi bán đi tôi sẽ chia cho anh một nửa.
Thuận Oa xùy một tiếng:
• Ở thành phố ông quen biết rộng, tôi thì chẳng quen ai, nhỡ ông bán một trăm mà bảo năm mươi thì tôi biết hỏi ai? Thôi thế này, hễ ông chấm được món gì trong làng này thì chia cho chúng tôi ba mươi đồng bạc, mỗi đứa mười đồng.
Lão Lý đã chuẩn bị tinh thần bị Thuận Oa chém đẹp, không ngờ gã chỉ đòi ba mươi đồng bạc cho mỗi bức tranh, lão liền vội vàng đồng ý ngay.
Tôi và Băng Lưu Tử theo họ đi khắp các nhà trong làng Hậu Lý. Gần như nhà nào cũng tìm thấy tranh chữ cổ, hết Vương Hy Chi lại đến Nhan Chân Khanh, rồi Hàn Can, Bát Đại Sơn Nhân... Giáo sư đại học như lão Lý sướng đến phát cuồng, tiểu thư khuê các như lão Điền cũng không giấu nổi niềm vui, họ ngỡ mình vừa khai quật được cả một kho tàng nghệ thuật của Trung Hoa.
Họ đâu có ngờ mình đang bước chân vào cái bẫy đã được giăng sẵn của bọn Thuận Oa. Từng hộ dân ở làng Hậu Lý này thực chất đều là các cứ điểm của nghề làm đồ giả. Đám "làm cũ" đã tuồn một lượng lớn tranh chữ giả danh nhân và sứ mới nung giả đồ Tống vào đây. Vì làng Hậu Lý hẻo lánh, dân buôn cổ vật thường tin rằng những nơi như thế này mới dễ sót lại đồ thật, nên khi đến đây họ chẳng mảy may nghi ngờ. Thấy cái hũ muối, vò dưa có đề "Thiên Khải niên chế" hay "Vạn Lịch niên chế" là họ tin sái cổ; thấy những bức tranh ngả vàng, sờn mép rách rưới là họ cho là đồ cổ đại, nhìn thấy tên họa sĩ cổ ở phần lạc khoản là chẳng chút hoài nghi. Họ tự nhảy vào hố mà miệng vẫn cứ tươi cười hạnh phúc.
Đó chính là giang hồ.
Giang hồ là một cuốn sách lớn mà nhà trường không bao giờ dạy. Kiến thức giang hồ phong phú vô tận, những thứ đó bục giảng đại học cũng chẳng có được. Ở trường, học vài năm là tốt nghiệp, cầm cái bằng; nhưng ở giang hồ, có khi học cả đời vẫn chưa ra trường nổi. Giang hồ không có bằng cấp, giang hồ chỉ có kinh nghiệm và những bài học xương máu.
Giang hồ, không nơi nào là không có mặt.