Tổ Bịp
- 4691 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 95. Thả rắn
Tung tích của Báo Tử và vị hòa thượng béo kia ra sao, chúng tôi vẫn bặt vô âm tín.
Lão Gầy lên tiếng:
"Đuổi theo hướng Bắc, nhất định phải tìm bằng được anh Báo."
Cả hội rầm rập hướng Bắc mà tiến. Đi được chừng mười dặm, chúng tôi bắt gặp hai đứa trẻ đang ở dưới chân núi. Chúng đốt một đống củi khô ngay cửa hang, tay cầm vạt áo liên tục quạt khói vào trong. Tôi tò mò chạy lại gần, cất tiếng hỏi:
"Hai đứa đang làm gì đấy?"
Một đứa đáp:
"Tụi em đang bắt rắn."
Tôi đưa mắt nhìn quanh, tịnh chẳng thấy ngọn cỏ nào. Thấy tôi vẻ mặt nghi hoặc, đứa nhỏ lại bảo:
"Đây là hang xà, bên trong có rắn đấy."
Tôi ngồi thụp xuống quan sát, vẫn chẳng thấy có gì khác lạ, bèn hỏi tiếp:
"Làm sao mà biết đây là hang rắn?"
"Cửa hang nhẵn thín thế này là do rắn bò ra bò vào mà thành. Mỗi hang thường có hai lối thoát, đây là một cửa, cách đây mấy chục bước còn một cửa nữa, hai đầu thông nhau. Tụi em đốt lửa quạt khói ở đây để khói xông vào trong, rắn chịu không thấu sẽ phải bò ra ở cửa kia."
Tôi thắc mắc:
"Nếu nó bò ra ở cửa kia thì sao hai đứa còn ở đây quạt khói làm gì? Chẳng phải phí công vô ích sao?"
Đứa nhỏ cười lém lỉnh:
"Không đâu, lát nữa anh sẽ rõ."
Hai đứa trẻ thay phiên nhau quạt khói. Đứa này quạt thì đứa kia chạy ra cửa hang phía xa kia quan sát. Một lát sau, đứa đứng canh chợt reo lên:
"Ra rồi! Ra rồi!"
Tôi vội chạy sang xem, bấy giờ mới thấy cửa hang đó đã bị trét kín một lớp bùn vàng. Con rắn bò ra từ phía ấy, bùn dính đầy mắt làm nó mất phương hướng, cứ thế bò loạn xạ rồi bị đứa trẻ tóm gọn.
Đúng là một mưu kế bắt rắn tài tình.
Tôi hỏi hai đứa nhỏ:
"Hai em có thấy một vị hòa thượng với một gã cao lớn đi qua đây không?"
"Hôm kia lúc tụi em đang bắt rắn thì có thấy họ, phía sau còn có mười mấy người đuổi theo bén gót."
Nghe vậy, lòng tôi thầm lo lắng cho hai người họ.
Đứa bé lại kể:
"Tụi em bắt được ba con rắn độc, đều bị vị hòa thượng béo kia mua đứt rồi. Bình thường tụi em bắt rắn để bán cho tiệm thuốc làm thuốc trị phong thấp. Chẳng biết ông hòa thượng đó mua rắn độc làm gì. Nghe đâu người miền Nam hay ăn thịt rắn, nhưng ông ấy giọng đặc sệt miền Tây Bắc, không giống người phương Nam chút nào."
Nó nói tiếp:
"Vị hòa thượng đó sành sỏi về rắn lắm. Miệng ông ấy cứ phát ra tiếng xì xì, mắt nhìn chằm chằm vào mắt rắn, rồi thoắt cái đã tóm chặt lấy đầu nó. Con rắn há miệng thật to nhưng tịnh không làm gì được ông ấy. Ông ấy dùng dây buộc đầu ba con rắn lại với nhau rồi dùng gậy gánh đi. Vừa làm xong thì đám người truy đuổi ập đến. Vị hòa thượng gánh rắn chạy phía trước, dáng vẻ có phần lộc ngộc. Gã trung niên còn lại chạy theo sau. Chớp mắt họ đã biến mất dạng."
Sau khi hỏi rõ hướng chạy của Báo Tử và vị hòa thượng, chúng tôi lập tức lên đường.
Chẳng mấy chốc, cả nhóm tiến vào một khu rừng nhỏ đầy cỏ hoang cao quá đầu gối. Thiết Thuyên dẫn đầu, bất thình lình vấp ngã. Y lồm cồm bò dậy, thảng thốt kêu lên:
"Ở đây có người! Có người chết!"
Chúng tôi lao tới, quả nhiên thấy trong lùm cỏ có một cái xác đã chết từ lâu. Toàn thân gã xanh rì, phù thũng, mặt sưng vù như cái chậu, ngũ quan vặn vẹo, đôi chân trương lên to như bắp chuối.
Chuyện có người chết giữa rừng đã đủ kỳ quái, nhưng lạ hơn là bên cạnh thi thể còn có một con vật mặt xanh nanh dài nằm gục, thân mình cũng xanh ngắt và sưng tấy. Chúng tôi nhìn mãi chẳng ra là con gì, kẻ bảo sói, người nói chó, kẻ lại đoán là con lửng. Giữa người và con vật ấy là vô số sâu bọ nằm ngửa phơi bụng, từ rết, nhện đến bọ ngựa, con nào con nấy đều trương phình to gấp mấy lần bình thường.
Miệng kẻ kia vẫn còn ngậm nửa khúc đầu rắn, mà cách đó chừng một trượng, xác một con rắn nằm chỏng chơ, mất đi một nửa cái đầu.
Trên cánh tay phải của thi thể có hình xăm đầu hổ. Báo Tử và vị hòa thượng đều không có hình xăm, vậy kẻ này chắc chắn là đám hưởng mã truy đuổi.
Tôi thầm đoán: lúc bấy giờ Báo Tử và vị hòa thượng chạy vào rừng, quân truy sát bám đuổi không rời. Họ đã thả một con rắn độc trong khu rừng này. Không, đúng hơn là họ đã buộc con rắn ngay trên con đường độc đạo mà đám phỉ sẽ đi qua, nếu không rắn sẽ trốn mất. Đặt bẫy xong, họ liền lẩn khuất. Đám hưởng mã dò theo dấu vết đuổi tới, con rắn bất thình lình tấn công, đớp trúng một tên. Độc tính phát tác cực nhanh, con rắn vẫn tiếp tục cắn xé. Kẻ kia đau đớn tột cùng, liền tóm lấy con rắn rồi điên cuồng cắn nát đầu nó. Chỉ chớp mắt, cả người lẫn rắn đều bỏ mạng.
Sau khi gã phỉ chết, một con sói hay chó hoang đi ngang qua, vì quá đói nên đã rỉa xác gã. Nào ngờ gã đã trúng kịch độc, chất độc ngấm sâu vào từng thớ thịt khiến con thú cũng trúng độc mà chết theo.
Lũ sâu bọ bò tới thấy bữa đại tiệc, liền gọi nhau kéo đến. Thế là nhện, rết, bọ ngựa... lũ lượt vây quanh. Chúng tưởng được bữa no nê, ngờ đâu tất cả đều chịu chung số phận, bụng ngửa lên trời, nằm chết la liệt.
Loại rắn gì mà độc tính lại kinh khủng đến nhường này? Nghĩ đến thôi cũng khiến người ta sởn gai ốc.
Phương Nam vốn nhiều rắn độc, phương Bắc thì hiếm hơn. Nhưng tôi biết ở miền Bắc có một loài phân bố rất rộng gọi là Trúc Diệp Thanh, độc tính cực mạnh, thân nhỏ nhưng hung dữ, hay chủ động tấn công người. Liệu con rắn này có phải là Trúc Diệp Thanh?
Băng qua cánh rừng, chúng tôi đến một ngôi làng hoang phế. Nơi từng nhộn nhịp giờ chỉ còn lại vài bức tường đổ nát, mái nhà xập xệ và đám cây cối um tùm.
Vừa vào làng, chúng tôi đã nhận ra dấu vết của một cuộc hỗn chiến. Gạch ngói vỡ vụn đầy đất, những vết nứt còn mới nguyên. Sau một bức tường đổ, chúng tôi lại phát hiện thêm một cái xác.
Thi thể này cũng xanh xao phù thũng, trông chẳng khác nào một bao tải chứa đầy ngô. Gã nằm sấp, trên tay cũng có hình xăm đầu hổ. Hai kẻ này rõ ràng cùng một hội.
Trên mặt kẻ chết này có bốn vết sẹo đối xứng, trên hai dưới hai. Nhìn qua là biết bị rắn độc mổ trúng. Lần này, con rắn đã tớp thẳng vào mặt gã.
Cạnh bức tường đổ, chúng tôi tìm thấy một cái hầm sâu, vốn là hầm chứa củi hoặc bếp lò ngày trước, sau khi trần hầm sụp xuống thì cửa hầm bị lấp, biến thành một cái hốc tối om. Tôi chui vào trong, thấy trên lớp bụi dày đặc có in dấu chân người.
Sự tình có lẽ là thế này: vì vị hòa thượng béo hành động chậm chạp, khi đến ngôi làng hoang này thì sắp bị đuổi kịp, Báo Tử liền cùng ông ấy chui vào hầm ẩn nấp. Đám hưởng mã đuổi tới không thấy dấu chân phía trước nên tỏa ra tìm kiếm. Một tên cầm súng trường phát hiện ra cái hầm này định xông vào. Trong cơn nguy cấp, vị hòa thượng đã ném con rắn độc vào mặt gã. Con rắn nhân cơ hội đớp một phát rồi chuồn mất. Kẻ kia lăn lộn trên đất, chất độc ngấm vào lục phủ ngũ tạng, thế là đi đời nhà ma.
Tiếng kêu cứu thảm thiết của gã đã gọi đám phỉ còn lại đến, đôi bên nổ ra một trận kịch chiến.
Báo Tử đỡ vị hòa thượng lên bức tường đổ, rồi men theo đó leo lên mái nhà. Trên mái là những lớp gạch xanh rêu phong cũ kỹ. Hai người ngồi trên đó, dỡ gạch ngói ném xuống đám người bên dưới. Đám phỉ nhảy nhót né tránh, kẻ bị trúng đầu, kẻ thoát nạn, gạch ngói rơi xuống đất vỡ tan tành.
Nhân lúc đám hưởng mã loạn lạc, Báo Tử và vị hòa thượng đã tẩu thoát thành công.
Men theo dấu chân lộn xộn trên mặt đất, chúng tôi tiếp tục truy đuổi.
Vượt qua một vách núi, lội qua một con sông, chúng tôi tiến vào một thung lũng. Đi được chừng bảy tám dặm thì thấy một cái hang, cửa hang còn sót lại tro tàn của củi lửa. Tôi đưa tay vào đống tro, vẫn còn cảm nhận được hơi ấm thoang thoảng.
Trong thung lũng không còn dấu chân, chắc chắn họ đã chui vào hang. Chúng tôi tiến vào trong, áp sát mặt đất xem xét, quả nhiên thấy dấu chân hỗn loạn. Nhưng tại sao cả kẻ chạy lẫn người đuổi đều vào hang mà lại đốt lửa ở cửa?
Tôi chợt nhớ đến cảnh hai đứa trẻ bắt rắn ban nãy. Đống lửa này chắc chắn do quân truy đuổi đốt. Chúng đốt lửa vì biết Báo Tử và vị hòa thượng đang ở bên trong, nhưng giữa hang tối mịt mùng, chúng không dám khinh suất xông vào.
Có điều, đám hưởng mã này chẳng khôn ngoan bằng hai đứa trẻ kia. Lũ trẻ còn biết dùng bùn trét kín cửa hang còn lại rồi mới hun khói. Đám hưởng mã này lại ngốc nghếch chỉ biết quạt khói vào cửa này mà không hay biết Báo Tử và vị hòa thượng đã thoát ra bằng lối khác.
Chúng tôi lần theo hang động quanh co, đi được mấy chục trượng thì thấy phía trước có một đốm sáng nhỏ bằng chén trà, đó chính là cửa ra.
Lần này tôi dẫn đầu. Năm tám tuổi, khi bị bọn buôn người bắt cóc, tôi cũng từng bị nhốt trong một cái hang giống hệt thế này. Bước vào đây, ký ức năm xưa lại ùa về khiến lòng tôi đau thắt. Lão Tra khốn kiếp đã thay đổi cả cuộc đời tôi. Cứ nghĩ về lão, tôi lại chỉ muốn vồ tới mà xé xác lão cho hả giận.
Lão Tra là tiếng lóng giang hồ, ý chỉ bọn mẹ mìn, buôn người.
Chúng tôi ra khỏi hang.
Phía ngoài là một con dốc cao mấy trượng, cả bọn cứ thế trượt dài xuống. Dưới chân hang là một hẻm núi, dấu chân lại xuất hiện nhan nhản. Hẻm núi này trơ trụi, chẳng có lấy một ngọn cỏ, toàn là đá tảng.
Báo Tử và vị hòa thượng đi trước, hưởng mã theo sau. Chỉ là tôi không rõ họ cách nhau bao xa.
Đi thêm mười mấy dặm, chợt thấy trên sườn núi trọc lóc phía đối diện có bóng người. Chúng tôi nằm rạp xuống, nấp sau những khe cỏ nhìn sang.
Trên sườn núi có mười gã đang lăm lăm binh khí, vây quanh một cửa hang. Chẳng rõ đám này thuộc môn phái nào.
Chúng quát lớn vào trong hang:
"Có gan thì bước ra đây!"
Từ trong hang vọng ra tiếng chửi bới:
"Đồ chó đẻ, có gan thì bò vào đây!"
Vừa nghe tiếng tôi đã nhận ra ngay là Báo Tử. Tôi nói khẽ với Lão Gầy:
"Báo Tử ở trong đó, vị hòa thượng chắc chắn cũng vậy."
Lão Gầy bảo:
"Tôi nghe ra rồi. Anh em chia làm hai toán, bao vây hai cánh, làm thịt sạch lũ chó đẻ này, đừng để sót tên nào."
Chúng tôi chia làm hai hướng, như đôi gọng kìm khép chặt lấy đám hưởng mã đang mải mê canh chừng cửa hang.
Đám phỉ và Báo Tử cứ thế chửi bới qua lại, nhưng tuyệt nhiên không kẻ nào dám bước vào. Báo Tử ở trong tối, chúng ở ngoài sáng, thung lũng này túng thiếu đủ thứ nhưng đá tảng thì chẳng bao giờ thiếu.
Khi đám hưởng mã phát hiện ra chúng tôi thì khoảng cách chỉ còn vài chục trượng. Lúc đầu chúng có vẻ hốt hoảng, nhưng thấy quân số đôi bên ngang ngửa, chúng liền trấn tĩnh lại, dàn hàng ngang chuẩn bị nghênh chiến.
Đến khi cách chúng chừng vài trượng, chúng tôi dừng lại. Tam sư thúc rút cung định bắn, Lão Gầy ngăn lại:
"Đối phó với lũ trộm vặt này, không phiền đến tay Thám Hoa lang."
Tam sư thúc bèn thu cung vào bao. Lão Gầy bước lên một bước, dõng dạc hỏi:
"Kẻ nào là nhị đương gia?"
Một gã râu quai nón bước ra:
"Ta là nhị đương gia, anh em phía đối diện có điều gì muốn nói?"
Lão Gầy đáp:
"Tiêu cục Gia Hưng nhờ tôi nhắn với nhị đương gia một câu, người của họ bị tóm ở Vĩnh Xương rồi, mời nhị đương gia mau chóng mang người đi cứu."
Gã râu quai nón hỏi:
"Ngươi là ai?"
"Chúng tôi chỉ là kẻ làm ăn."
"Có thư tín gì của tiêu cục Gia Hưng không?"
"Có." Lão Gầy thò tay vào người, rút ra một thanh đơn đao, "Đây chính là thư!"
Vừa thấy thanh đơn đao, gã râu quai nón biến sắc, dồn dập hỏi:
"Ngươi là ai? Ngươi rốt cuộc là ai?"
Chỉ bằng hai câu nói, Lão Gầy đã dò được gốc gác của đối phương. Nếu gã không có quan hệ với tiêu cục Gia Hưng, hẳn gã sẽ hỏi: "Tiêu cục Gia Hưng ở đâu?" hay "Ta không quen biết bọn họ." Đằng này gã lại hỏi Lão Gầy là ai, chứng tỏ đôi bên có quen biết.
Bao năm qua Lão Gầy luôn nung nấu ý định trả thù, giờ đây gã sẽ lấy mạng tên nhị đương gia này làm lễ khai đao.
Gã râu quai nón vẻ mặt đầy thắc mắc:
"Chúng ta vốn không oán không thù, cớ sao phải dùng đao kiếm nói chuyện?"
Lão Gầy gằn giọng:
"Để ngươi chết cũng được rõ ràng. Người trong hang là bạn của ta. Tại sao các người cứ bám đuổi không buông?"
Gã râu quai nón ngửa mặt cười ha hả, nhại lại giọng của Lão Gầy:
"Để ngươi chết cũng được rõ ràng. Ta nhận tiền của người ta thì phải giúp người ta trừ họa, kẻ nào ngáng đường tài lộc của ta, kẻ đó phải chết."
Lão Gầy đứng hiên ngang:
"Thằng ranh, lại đây nộp mạng!"
Gã râu quai nón gầm lên một tiếng, thanh âm vang động cả thung lũng, rồi vung đao lao về phía Lão Gầy. Tiếc thay, đôi bên mới chạm mặt đúng một chiêu, cái đầu gã đã lăn lóc rụng xuống khe núi, trên mặt vẫn còn nguyên vẻ ngơ ngác.
Người ta bảo đàn ông sợ chọn nhầm nghề, đàn bà sợ lấy nhầm chồng. Gã râu quai nón này quả thực chọn nhầm nghề, đáng lẽ gã nên đi làm ca sĩ. Giọng gã vang và cao, rất hợp để hát giọng nam cao.
Nhị đương gia vừa giáp mặt đã đầu lìa khỏi cổ, lũ lâu la còn lại hồn xiêu phách lạc, đồng loạt quỳ rạp xuống đất vừa lạy vừa xin tha mạng. Lão Gầy và anh Hùng tóm lấy một tên, kề đao vào cổ hỏi ai là kẻ đứng sau thuê mướn. Nhìn lưỡi đao sáng quắc, gã sợ đến nhũn cả người, lắp bắp đáp:
"Người đưa tiền là đại công tử của tiêu cục Long Uy, hắn muốn chúng tôi giết sạch những người trong hang."
Tôi chạy vội vào hang, thấy Báo Tử và vị hòa thượng béo đang ngồi bệt dưới đất. Tay mỗi người lăm lăm hai hòn đá, sẵn sàng liều mạng với đám hưởng mã.
Thấy tôi, cả hai đồng thanh hỏi:
"Có gì ăn không?"
Họ đã nhịn đói suốt hai ngày trời. Báo Tử và vị hòa thượng bụng đói cồn cào, không còn sức đi tiếp nên mới phải trốn vào hang, còn gã nhị đương gia ăn no mặc ấm kia lại hèn nhát không dám bước vào.
Tất cả là vì Báo Tử đã diễn màn "Không thành kế" quá đạt.
Trên người Báo Tử có hai vết đao, vị hòa thượng cũng đầy thương tích. Lão Gầy bảo Tam Lữu Tao hộ tống hai người họ đi về hướng Đông để hội quân với đại đội hưởng mã, còn chúng tôi tiếp tục hướng Tây, tiến về Vĩnh Xương.
Ba ngày sau, chúng tôi đã có mặt tại Vĩnh Xương.
Ngục thất Vĩnh Xương tường đá cao vút đến bốn năm trượng, phía trên cắm đầy chông tre, mảnh sành sắc lẹm để ngăn kẻ vượt ngục. Bốn góc tường đều có lính canh gác, phòng thủ vô cùng nghiêm ngặt.
Chúng tôi vào một quán ăn đối diện nhà lao. Thiết Trụ giả làm khách buôn đi đường, hỏi tiểu nhị:
"Nhà ai mà tường cao thế kia hả chú em?"
Tiểu nhị đáp:
"Đấy là nhà lao của vùng này đấy."
Thiết Trụ tặc lưỡi:
"Tường cao thế kia thì ai mà leo vào nổi? Tôi thấy mấy cái chòi canh kia thừa thãi quá."
"Ấy, bác đừng nói thế. Mấy hôm trước vừa có một đám người lẻn vào, leo qua tường mở toang cả cổng chính, mãi mới bị phát hiện mà đuổi đi đấy. Trước đây làm gì có lính canh, giờ mới phải lập thêm đấy chứ. Đám người đó gan to bằng trời, ngục canh phòng cẩn mật thế mà cũng dám xông vào."
Thiết Trụ hùa theo:
"Tường cao thế kia, ai muốn vào chắc não có vấn đề."
Tiểu nhị vẻ tự hào:
"Chứ còn gì nữa! Nhà lao Vĩnh Xương này danh tiếng lẫy lừng. Năm xưa để xây nó, người ta phải điều động tới một vạn quân, làm ròng rã một tháng mới xong đấy."
Nghe lời tiểu nhị, tôi đoán chắc chắn đám người đột nhập là từ tiêu cục Gia Hưng. Đám người đi tiêu bị bắt giữ bấy lâu, tin tức hẳn đã truyền tới Gia Dục Quan. Tiêu cục Gia Hưng ở đó đã cử người tới giải cứu, nhưng không ngờ âm mưu bại lộ.
Đám người cướp ngục nhất định sẽ quay lại, chúng đã lặn lội ngàn dặm tới đây thì tuyệt đối không tay trắng ra về. Chúng tôi phải ra tay trước khi chúng hành động. Nếu để chúng cướp ngục thành công, quân số đông lên, chúng tôi thân cô thế cô sẽ rất khó đối phó.
Đêm đó, chúng tôi trú chân tại miếu Quan Đế ngoại thành để bàn mưu tính kế trừ khử đám người Gia Hưng. Kẻ bảo cử người ám sát, nhưng tường cao cửa rộng biết vào lối nào? Người nói đợi chúng được thả rồi mới ra tay, nhưng biết đến bao giờ? Kẻ lại đòi tấn công nhà lao, nhưng với chút nhân lực này thì khác nào lấy trứng chọi đá.
Bất thình lình, tôi nhớ lại câu nói của sư tổ: "Cái đỉnh cao nhất của nghề trộm là lừa."
Tôi lên tiếng:
"Em có cách."
Mọi người dồn ánh mắt về phía tôi, đầy vẻ kỳ vọng.
Tôi nói:
"Nhà lao có lính canh, chúng ta tìm cách dụ họ đi, rồi cử người vào đâm chết đám hưởng mã Gia Hưng."
Thiết Trụ cười bảo:
"Tôi cứ tưởng chú mày có diệu kế gì, hóa ra lại là trò này. Chúng ta có mấy mống người, làm sao dụ được lính canh? Làm sao đột nhập được? Đám người Gia Hưng kia ai nấy đều có võ công, ám sát đâu có dễ? Mà có thành công thì cũng khó thoát khỏi lính canh. Cách này không ổn."
Tôi nghe mà nản lòng.
Tôi rầu rĩ, Lão Gầy cũng rầu rĩ, cả hội ai nấy đều mặt mày u ám. Tiếng chim lợn kêu từ ngoài cửa sổ vọng vào nghe rợn cả người.
Anh Hùng bấy giờ mới thong thả nói:
"Ngai Cẩu vừa nhắc tôi mới nghĩ ra một cách, nhưng phải làm khổ chú em một chút, chịu đau da thịt tí nhé."
Tôi nhìn anh Hùng, hỏi:
"Anh có cách gì hay sao?"
"Chú mày biết mở khóa chứ? Tôi nghe Thám Hoa lang kể từng thấy chú mở khóa, có đúng không?"
Tôi nhớ lại lần ở Xích Phong, lúc đang bị thương, tôi đã biểu diễn mở hai ổ khóa trước mặt Tam sư thúc, Báo Tử và Yến Tử khiến họ kinh ngạc. Chắc chắn Tam sư thúc đã đem chuyện này đi khoe với anh Hùng.
Mọi người lại dồn ánh mắt mong chờ về phía anh Hùng.
Anh Hùng bảo:
"Việc này phải được sự đồng ý của Ngai Cẩu, chú mày không chịu thì coi như tôi chưa nói."
Tôi đứng phắt dậy:
"Chỉ cần trừ khử được đám tai họa Gia Hưng kia, chút đau đớn này bõ bèn gì? Lũ bại hoại giang hồ ấy ác không chừa việc gì, để chúng sống chỉ thêm hại người."
Anh Hùng gật đầu:
"Có câu này của chú em thì kế này chắc chắn thành."
Tôi tiếp lời:
"Em hiểu ý anh Hùng rồi, em sẽ trà trộn vào ngục, lấy lòng đám Gia Hưng rồi tìm cơ hội khử chúng."
"Chú mới nói đúng một nửa. Chuyện vào ngục chỉ có chú làm được vì chỉ chú mới nhận mặt được bọn họ. Nhưng vào đó không phải để ám sát, mà là để cứu họ."
"Cứu họ?" Cả hội ngơ ngác nhìn nhau.
Anh Hùng giải thích:
"Đúng, cứu họ. Ngai Cẩu có tài mở khóa, vào đó rồi hãy tạo lòng tin với đám tiêu sư, rồi thừa dịp đêm tối mở khóa dắt chúng ra ngoài. Vì muốn giữ mạng, chúng chắc chắn sẽ hành động kín kẽ. Đợi chúng thoát ra ngoài rồi, chúng ta chỉ việc đón lỏng. Lúc đó muốn xử thế nào là tùy chúng ta."
Lão Gầy đập đùi kêu lên:
"Diệu kế!"
Tam sư thúc cũng tán thưởng:
"Quả nhiên chỉ có Hùng tam ca mới nghĩ ra được chiêu này." Thiết Trụ và Thiết Thuyên nhìn nhau cười đắc ý.
Anh Hùng nói tiếp:
"Ở phương Nam, kế này gọi là 'Phóng xà' (Thả rắn). Nhưng đây mới là dự tính ban đầu, chưa hẳn đã hoàn hảo. Ví như làm sao để Ngai Cẩu vào được đó? Vào rồi làm sao để bị nhốt chung với đám Gia Hưng? Làm sao để chúng tin tưởng? Rồi làm sao trốn ra bí mật? Chúng ta chưa hiểu rõ địa hình nhà lao, nên mọi sự vẫn là ẩn số."
Tam sư thúc bảo:
"Chuyện đó có gì khó? Ngày mai tôi tìm người hỏi là ra ngay."
Bàn bạc thêm một hồi, cả bọn mới đi ngủ.
Sáng hôm sau vừa ngủ dậy, tôi đã thấy Tam sư thúc dẫn một người cao lớn, da đen nhẻm về. Mặt người này chằng chịt vết chân chim của nắng gió, da tay sần sùi như vỏ cây du. Tam sư thúc giới thiệu đây là lão thợ đá họ Liễu, người từng tham gia xây dựng nhà lao này.
Lão thợ đá không hỏi tại sao chúng tôi muốn tìm hiểu về nhà lao, chắc Tam sư thúc đã bịa ra một lý do chính đáng nào đó để lấy lòng tin. Lão kể nhà lao này xây được ba năm rồi, tường vách toàn bằng đá tảng, hồi mới xong quan lại khắp tỉnh đều về xem. Bên trong có năm gian buồng giam, để tránh vượt ngục, cả nền và tường cũng được lát đá. Phía trên tường chỉ có một ô cửa sổ nhỏ tí teo, đến đứa trẻ cũng chẳng chui lọt. Cửa buồng giam là loại cửa sắt thanh ngang, ngoài lúc cho ra ngoài hít thở một tẹo vào buổi sáng thì lúc nào cũng khóa chặt. Ngay cả lúc ăn, phạm nhân cũng phải thò bát qua khe sắt, lấy cơm xong rồi ăn ở trong. Mỗi buồng có một cái thùng gỗ để đi vệ sinh, mùi hôi thối nồng nặc đến chết người.
Nghe đến cửa sắt thanh ngang, tôi thở phào. Nếu là cửa gỗ thì tay không thò ra ngoài mở khóa được, chứ cửa sắt thì tôi chấp hết.
Lão thợ đá nói tiếp, góc Tây Bắc nhà lao là nhà bếp, ban ngày có người, đêm đến thì khóa. Góc bếp có một đường cống thoát nước, lúc xây người ta đã chừa ra để thoát nước rửa bát đĩa. Đó là nơi duy nhất thông với bên ngoài. Nhưng phía ngoài nhà bếp lại là vách đá dựng đứng, sâu hàng chục trượng, rơi hòn đá xuống còn chẳng nghe tiếng động, nên muốn trốn từ lối đó là chuyện không tưởng.
Tôi hỏi:
"Còn nhà vệ sinh thì sao? Có thông với ngoài không?"
"Không thông đâu, đây là loại hố xí khô, mỗi đêm đều có người đánh xe đến hốt đi rồi."
Tôi lại bế tắc, mọi người cũng cau mày, chỉ có anh Hùng là chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong miếu như một ông đồ già.
Lão thợ đá rút mấy đồng bạc trắng từ túi ra, nói với Tam sư thúc:
"Không phải tôi không muốn giúp, mà là quả thực giúp không nổi, tiền này tôi trả lại các ông."
Tam sư thúc xua tay:
"Ông xem ông nói gì kìa! Tiền này ông cứ cầm lấy."
Đùn đẩy một hồi, lão thợ đá cũng nhận. Lúc đi lão còn bỏ lại một câu:
"Nghe nói cai ngục ở đây tham tiền lắm, hay là các ông dùng tiền mà chạy cho anh em ra."
Tôi hiểu rồi, Tam sư thúc nói với lão là có người nhà bị nhốt trong đó. Lão bảo dùng tiền, nhưng một người thì được, chứ cả đám Gia Hưng thì làm sao chạy nổi. Hơn nữa, chúng là tội phạm ăn trộm công đường, có cho tiền cai ngục cũng chẳng dám thả.
Sau khi lão thợ đá đi, chúng tôi lập tức dời đến một khu rừng nhỏ ngoài thành.
Lão Gầy thấy anh Hùng cười mỉm, liền hỏi:
"Hùng tam ca có ý gì hay rồi sao?"
Anh Hùng đáp:
"Lão thợ đá bảo chỉ có đường cống ở bếp là thông ra ngoài, vậy chúng ta chỉ còn cách dựa vào cái cống đó thôi."
Thiết Thuyên lẩm bẩm:
"Vách núi cao thế kia, nhảy xuống chẳng thành thịt nát xương tan sao?"
Anh Hùng cười tự tin:
"Tất nhiên là không nhảy rồi. Không cần nhảy cũng có thể xuống đất được. Tất cả tôi đã tính kỹ rồi, cứ theo kế hoạch mà làm, nhất định sẽ thành công."