Tổ Bịp
- 7332 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 94. Tờ ngân phiếu mười vạn
Gã ba chòm râu thuật lại rành rọt lời người đàn ông trung niên cho gã gầy nghe. Gã gầy kinh ngạc đến mức há hốc mồm, đứng hình hồi lâu. Vốn là kẻ lăn lộn giang hồ lâu năm, từng một thời tung hoành trên Con đường Tơ lụa, gã chẳng thể ngờ mình lại sập bẫy "mượn đao giết người" của tiêu cục Gia Hưng.
Gã gầy hỏi:
"Cớ sao tiêu cục Gia Hưng lại muốn hãm hại tiêu cục Long Uy?"
Tam sư thúc đáp:
"Đạo lý này đơn giản chẳng thể đơn giản hơn: cùng nghề là kẻ thù."
Hùng ca tiếp lời:
"Hồi tôi còn nhỏ, trên phố có hai tiệm vải cạnh tranh làm ăn nên đâm ra thù hằn. Một ngày nọ, tiệm phía Tây đập tường xây nhà, đúng lúc tiệm phía Đông lạc mất đứa con nhỏ. Bao năm trôi qua, chẳng ai biết đứa trẻ biến đi đâu. Sau này, tiệm phía Tây làm ăn lụn bại nên dọn đi chỗ khác. Tiệm phía Đông nhờ khéo kinh doanh nên vẫn bám trụ lại. Một năm nọ, trời mưa như trút, bức tường bao của tiệm phía Tây bị đổ sập. Trong lúc người tiệm phía Đông sang giúp dọn dẹp đống đổ nát, họ bỗng thấy trong tường lộ ra một xác chết trẻ con. Nhìn thấy bộ quần áo và vòng bạc trên cổ đứa nhỏ, họ ngã quỵ ngay tại chỗ. Đó chính là đứa con mất tích năm nào. Kẻ cùng nghề hại nhau thật chẳng từ thủ đoạn nào."
Tôi nói:
"Giờ con đã hiểu chữ Niệm Gia Thân viết khi đó là gì rồi. Y chỉ kịp viết một chữ 'Thập' (十), mà chữ 'Gia' (嘉) trong Gia Hưng khởi bút chính là chữ Thập. Con đã nhầm nó với nét đầu của chữ 'Long' (龙), cứ ngỡ trong lúc nguy cấp Niệm Gia Thân viết ẩu, biến một chấm một ngang thành chữ Thập."
Gương mặt gã gầy đan xen vẻ sầu muộn và hối hận. Gã bảo:
"Để ta lên núi tìm họ chuộc lỗi."
Gã gầy dùng dao chặt mấy cành mận gai, cởi trần, bó gai sau lưng rồi lầm lũi leo lên đỉnh núi hoang vu. Tôi nghe thấy tiếng gã gào lên xót xa:
"Anh Đặng, thằng em này không phải là người. Anh cứ vung đao chém phắt tôi đi, tôi tuyệt không nửa lời oán hận!"
Chúng tôi nhìn bóng gã gầy khuất dần trên đỉnh núi, lòng không khỏi lo âu về những bất trắc sắp tới. Gã đã dẫn đám hưởng mã gây ra thương tổn quá lớn cho tiêu cục, biết đâu có vị tiêu sư nào đó phẫn uất mà vung đao chém gã thật.
Đợi mãi chẳng thấy tin tức gì từ đỉnh núi, tôi toát mồ hôi hột thay cho gã gầy. Tuy gã nóng nảy, làm việc thiếu suy nghĩ, nhưng dù sao cũng là một bậc hảo hán yêu ghét phân minh. Loại người này, một khi đã coi ai là bạn thì sẽ dốc hết tâm can ra bảo vệ. Báo Tử chỉ uống với gã một cuộc rượu mà gã đã coi anh là tri kỷ vào sinh ra tử.
Tam sư thúc định dẫn người lên xem thử vì lo cho tính mạng gã gầy. Giữa lúc mọi người đang bồn chồn không yên, hai bóng người từ đỉnh núi đi xuống, tay nắm tay, vai kề vai trông vô cùng thân thiết. Đến lưng chừng núi, mọi người mới nhìn rõ đó là gã gầy và Lão Trọc.
Trên lưng gã gầy vẫn còn bó mận gai, những chiếc gai đâm sâu vào da thịt, máu chảy thành từng dòng rỉ rả. Lão Trọc định gỡ xuống nhưng gã không cho. Gã cứ thế đeo bó gai đi vòng quanh đám đông rồi dõng dạc tuyên bố:
"Kể từ nay, anh Đặng và tiêu cục Long Uy là bạn của chúng ta. Anh em có thể không nghe lời ta, nhưng nhất định phải nghe lời anh Đặng. Trên Con đường Tơ lụa này, anh Đặng chính là phiêu bạt tử. Đứa nào dám bất kính với anh Đặng, ta vả rụng răng!"
Lũ hưởng mã đồng loạt quỳ xuống, cúi đầu hô vang:
"Nặc!"
"Nặc", là "Nhất nặc thiên kim". Đến tận bây giờ, ở nhiều nơi vùng Tây Bắc, khi hứa hẹn điều gì, người ta vẫn dùng từ này.
Gã gầy bảo:
"Về thôi, bày rượu tẩy trần cho anh Đặng và anh em tiêu cục Long Uy!"
Đoàn người rầm rộ tiến vào huyện thành, tửu lầu lớn nhất phố chật kín người. Gã gầy lần lượt kính rượu từng người trong tiêu cục Long Uy, vừa kính vừa cúi đầu tạ lỗi. Lão Trọc độ lượng cười nói:
"Chuyện cũ bỏ qua đi, răng với môi còn có lúc va chạm, huống hồ anh em một nhà còn có khi xô bát xô đũa."
Lão Trọc và gã gầy chén thù chén tạc, cả hai đều say túy lúy, ôm nhau vừa khóc vừa cười. Tôi cũng ngà ngà say, nhìn Tam sư thúc cười hì hì.
Tam sư thúc vẫn tỉnh táo lạ thường, tửu lượng của y thật đáng kinh ngạc. Y nhìn tôi, đột ngột hỏi:
"Ngai Cẩu, con từng nói có một bí mật động trời muốn kể cho ta nghe."
Tôi ngẩn người nhìn Tam sư thúc, chẳng biết y muốn biết bí mật gì. Giờ tôi đã lớn, đã cùng Lệ Mã nếm trái cấm, đã là một gã đàn ông thực thụ. Từ giã đời trai tân là lễ trưởng thành của nam nhi, gã đàn ông nào mà chẳng có bí mật trong lòng?
Tam sư thúc bồi thêm:
"Con từng bảo tiêu cục Long Uy đang nắm giữ một bí mật cực lớn."
Tôi sực nhớ ra, thứ Tam sư thúc muốn biết chính là tờ ngân phiếu mười vạn lạng kia. Nhưng rời tiêu cục đã lâu, tôi chẳng rõ Lão Trọc đã giao đi chưa. Nếu giao rồi thì ngân phiếu đang ở Gia Dục Quan; nếu chưa thì hẳn vẫn nằm trên người lão. Nhưng tôi đoán chừng tám chín phần là đã giao xong.
Tôi liếc nhìn xung quanh, thấy ai nấy đều đang hăng máu nhậu nhẹt, la hét om sòm, không phải chỗ để bàn chuyện đại sự. Tôi nói với Tam sư thúc:
"Ta ra chỗ kia nói chuyện."
Tôi dẫn Tam sư thúc ra góc tường vắng, hai người đứng đối mặt vào tường vờ như đang đi tiểu. Tôi quan sát kỹ trước sau, thấy không có ai mới thì thầm:
"Lần này Lão Trọc áp tải một tờ ngân phiếu mười vạn lạng tới Gia Dục Quan."
Tam sư thúc trợn tròn mắt:
"Mười vạn? Nhiều vậy sao?"
Tôi khẳng định:
"Chắc chắn, chính miệng Báo Tử nói với con. Đám hưởng mã Ký Bắc bám theo suốt dọc đường cũng chỉ vì tờ ngân phiếu này."
Tam sư thúc hỏi:
"Lũ hưởng mã đó nẫng được chưa?"
Tôi đáp:
"Chắc là chưa. Nếu có mười vạn trong tay, chúng đã lặn mất tăm hơi từ lâu rồi. Việc chúng phải bắt tay với gã gầy để đối phó với nhóm Lão Trọc chứng tỏ tiền vẫn chưa về tay."
Tam sư thúc lại hỏi:
"Giờ nó đang ở đâu?"
Tôi nói:
"Chỉ có thể ở hai nơi: một là trên người Lão Trọc, hai là ở Gia Dục Quan. Con nghĩ phần lớn là đã nằm ở Gia Dục Quan rồi."
Tam sư thúc gặng hỏi:
"Sao lại ở Gia Dục Quan?"
"Ngân phiếu này là của một lão quan tham về hưu, lão nhờ tiêu cục Long Uy mang tới đó hộ."
Tam sư thúc cười nhạt:
"Hóa ra là của phi nghĩa. Của phi nghĩa thì ai cũng có quyền lấy. Lấy tiền của chúng chính là thay trời hành đạo, trừ hại cho dân. Tờ mười vạn này, ta nhất định phải nẫng cho bằng được."
Tam sư thúc vừa dứt lời, trên đầu bỗng vang lên tiếng cười khanh khách, rồi một giọng nói cất lên:
"Giữa thanh thiên bạch nhật, lũ trộm đạo to gan dám bàn mưu cướp bóc, chạy đi đâu!"
Tôi giật nảy mình, ngước mắt nhìn lên thì thấy một bóng người nhẹ nhàng đáp xuống từ bờ tường. Hóa ra kẻ này đã nấp trên đó từ lúc nào, chúng tôi đứng sát sạt mà từng câu chữ đều bị y nghe sạch.
Cái bóng đó tiếp đất, đứng thẳng dậy rồi hích tôi một cái. Tôi nhìn kỹ, lòng vui như mở hội, hóa ra là Hùng ca.
Tam sư thúc cười bảo:
"Ta với Ngai Cẩu đang tính nẫng tờ mười vạn đó, gã có tham gia không?"
Hùng ca đáp:
"Lấy của bất nghĩa sao thiếu tôi được? Cả đời này tôi chuyên trị loại người đó. Chúng tham càng nhiều, tôi lấy càng hăng. Tiền nhiều tiêu không hết thì đem chia cho dân nghèo, gọi là lấy của dân lại dùng cho dân."
Tam sư thúc đề nghị:
"Lấy được mười vạn, chia ba phần bằng nhau, thấy sao?"
Hùng ca xua tay:
"Từ lúc hành tẩu giang hồ đến nay, tôi tiêu tiền như nước, vàng bạc trong tay chưa bao giờ cạn. Mười vạn đó lấy được, tôi không lấy một xu, nhường hết cho hai người."
Tam sư thúc nói:
"Mười vạn lạng là số tiền cực lớn, mấy đời tiêu cũng chẳng hết."
Hùng ca bảo:
"Tiêu không hết thì giữ lại một phần, còn lại đem đi làm phúc."
Tam sư thúc và Hùng ca bắt tay nhau:
"Được, cứ quyết thế đi!"
Hùng ca quay lại tửu lầu, cầm vò rượu sang kính Lão Trọc. Lão Trọc chẳng nghi ngờ gì, vui vẻ nhận lời. Nhân lúc lão đang tập trung nâng chén, Hùng ca dùng thủ pháp cực nhanh sờ soạng khắp người lão. Lão Trọc uống xong chén rượu, đặt bát xuống bàn cũng là lúc Hùng ca đã "thăm dò" xong xuôi mà lão chẳng mảy may hay biết.
Tôi và Tam sư thúc ngồi một bên quan sát màn trình diễn của Hùng ca, quả thực nhanh như chớp giật. Kính rượu xong, Hùng ca lững thững đi về phía chúng tôi, thất vọng lắc đầu.
Vậy là xong, ngân phiếu mười vạn đã được trao đi, đã nằm ở Gia Dục Quan.
Tam sư thúc và Hùng ca quyết định tới Gia Dục Quan để lấy tờ ngân phiếu đó. Tôi cũng đi theo.
Chặng đường phía trước đầy rẫy hiểm nguy và những tai ương khó lường, Lệ Mã không thể theo cùng. Nàng sẽ cùng đoàn tiêu cục của Lão Trọc đi Trương Gia Khẩu. Càng xa Tây Vực, Lệ Mã sẽ càng an toàn.
Ở Trương Gia Khẩu, có lẽ Yến Tử đang đợi tôi, sư phụ Hổ Trảo cũng đang đợi tôi. Mỗi bước chân tiến gần Trương Gia Khẩu, lòng tôi lại thêm nặng trĩu. Dù rất khao khát gặp lại họ, nhưng trong lòng tôi cũng đầy rẫy nỗi sợ hãi và hối lỗi.
Tiêu cục và Lệ Mã đi về hướng Đông, còn tôi, Tam sư thúc và Hùng ca thẳng tiến về hướng Tây. Hùng ca nói:
"Khói sa mạc thẳng đứng, bóng nắng sông dài tròn. Tây ra Dương Quan không cố nhân, gió xuân chẳng độ cửa Ngọc Môn. Càng đi về phía Tây càng hoang vu, con đường cổ Thiểm Cam này giặc cướp nhiều như lông bò, anh em tuyệt đối không được lơ là."
Tam sư thúc bồi thêm:
"Dọc đường này lũ 'Lão Nguyệt' nhiều lắm, phải hết sức cẩn thận."
Đi được hơn mười dặm, có mười mấy con ngựa đuổi theo từ phía sau. Tôi ngoái lại nhìn, hóa ra là gã gầy, gã ba chòm râu cùng anh em Thiết Thuân, Thiết Trụ.
Gã gầy không hỏi chúng tôi đi đâu, theo quy tắc giang hồ, có những chuyện không được phép tò mò. Gã chỉ bảo:
"Chúng tôi định đi Vĩnh Xương."
Tôi biết họ đi Vĩnh Xương làm gì. Trong ngục Vĩnh Xương hiện đang giam giữ đám người của tiêu cục Gia Hưng. Sau khi biết đám đó là hung thủ giết con mình, Tam sư thúc đã cùng tôi lẻn vào huyện nha, vơ vét sạch sẽ rồi đổ vội lên đầu tiêu cục Gia Hưng, tống chúng vào đại lao. Giờ chúng chỉ còn biết ngồi trong ngục nhìn mảnh trời bằng bàn tay, đừng hòng mơ đường về Gia Dục Quan.
Đường tới Vĩnh Xương trùng với hướng đi của chúng tôi.
Ngày hôm sau, chúng tôi tới trấn Ma Di, ghé vào một quán cơm. Trấn Ma Di bốn bề núi cao bao bọc, trông như một cái nồi đen khổng lồ, còn thị trấn nằm gọn dưới đáy nồi.
Bát mì bò vừa xuống bụng, tôi chợt nghe thấy tiếng bàn tán từ bàn bên cạnh. Một gã da đen nhẻm nói với gã da trắng trẻo:
"Trận đánh hôm đó kinh hoàng lắm, tao tận mắt chứng kiến từ đầu chí cuối."
Gã da trắng hỏi:
"Mấy ngày nay tao cũng nghe thiên hạ đồn ầm lên, mà rốt cuộc vì sao họ lại đánh nhau?"
Gã da đen đáp:
"Nguyên nhân thì tao chịu, chỉ thấy gã đại hán trung niên với lão hòa thượng béo ngồi đúng cái bàn này này. Mì bò vừa bưng ra còn chưa kịp động đũa thì đám người kia ập vào. Bọn chúng có bảy đứa, tao đếm kỹ rồi, một hai ba bốn năm sáu bảy, không thiếu một mống. Cả bảy đứa đều mặc đồ nam giới, nhưng tao tinh mắt thấy một đứa dáng người thanh mảnh, đi đứng uốn éo chẳng giống đàn ông chút nào nên để ý kỹ. Mặt nó bôi tro trét đất nhưng cổ với cổ tay thì trắng nõn nà. Tao tự hỏi đứa con gái này giả trai làm cái quái gì, chắc chắn là có mưu đồ mờ ám."
Nghe đến đây, tôi giật mình, liếc nhìn gã gầy và Tam sư thúc. Mọi người đều buông đũa, dỏng tai lắng nghe. Ai cũng nhận ra gã da đen đang nhắc tới Báo Tử và Đại Hòa Thượng.
Gã da trắng hỏi:
"Thế đám đó là hạng người nào?"
Gã da đen xì một tiếng:
"Ai mà dám hỏi, trông chúng hung thần ác sát lắm. Vừa xông vào quán là khách khứa chạy sạch sành sanh, chỉ có gã đại hán với lão hòa thượng béo là không nhúc nhích. Tao chạy sang lầu hai tiệm vải đối diện, nhìn qua cửa sổ thấy rõ mồn một. Gã đại hán với lão hòa thượng coi đám đó như không khí, cứ thản nhiên cầm đũa ăn như chỗ không người."
Gã da đen nói năng có vẻ văn vẻ, nhìn bộ trường bào mã quái y đang mặc, đoán chừng là dân buôn bán.
Gã da trắng tặc lưỡi:
"Hai người đó gan to thật, bảy đứa kia rõ ràng là nhắm vào họ rồi."
Gã da đen tiếp:
"Chứ còn gì nữa. Trong bảy đứa đó, hai đứa chặn cửa, năm đứa còn lại vây quanh gã đại hán theo hình bán nguyệt, rõ là sợ gã chạy thoát. Thế mà gã đại hán vẫn lù lù ngồi ăn, tay bưng bát mì. Ăn xong bát mì, gã còn dõng dạc gọi: 'Chủ quán, cho thau nước mì!'. Mày xem, ăn xong còn đòi uống nước mì mới chịu."
Gã da trắng thán phục:
"Gã này bản lĩnh thật, gặp tao lúc đó chắc nhũn chân rồi, cơm chẳng nuốt trôi chứ đừng nói uống nước mì."
"Thì đấy! Tao thấy gã bình tĩnh thế là biết không phải hạng vừa. Chủ quán nghe gọi nước mì, lại thấy bảy gã hung ác đứng đó thì sợ khiếp vía, đùn đẩy thằng tiểu nhị ra bưng. Tao đứng trên lầu hai tiệm vải nhìn xuống thấy thằng bé bưng thau nước mì nóng hổi, tay chân run lẩy bẩy đặt trước mặt gã đại hán. Gã cười bảo: 'Cảm ơn chú em'. Người Tây Bắc bụng to, ăn mì xong phải húp nước mì mới đã. Gã đại hán húp sạch thau nước mì, chẳng coi ai ra gì."
Câu chuyện của gã da đen thu hút đông đảo người trong quán, ai nấy đều xúm lại nghe. Thằng tiểu nhị cũng lại gần, đó là một thiếu niên chừng mười mấy tuổi, cổ quàng khăn trắng, mặt mũi hiền lành. Nó góp chuyện:
"Gã đó cừ thật đấy ạ, bọn kia đứng ngay sau lưng có mấy thước mà gã vẫn ăn uống thản nhiên. Lúc em bưng nước mì ra, gã còn cười cảm ơn rồi dúi vào tay em năm đồng bạc đại dương. Hai bát mì đáng bao nhiêu tiền đâu, em định thối lại thì gã bảo: 'Lát nữa sẽ làm vỡ đồ đạc nhà em, coi như tiền bồi thường'. Em nghe thế là biết sắp có biến rồi."
Từ sân sau vọng lại tiếng chủ quán quát:
"Nhị Cẩu! Nhị Cẩu! Cái thằng ranh này lại ra đằng trước hóng hớt cái gì đấy, mau vào làm việc!"
Thằng tiểu nhị thè lưỡi, ngại ngùng lẩn đi.
Tôi đang nóng lòng muốn biết kết cục của Báo Tử và Đại Hòa Thượng ra sao thì gã da đen bỗng im bặt, bảo:
"Bát mì này vào bụng vẫn chưa thấy bõ bèn gì, thôi tao về đây."
Mọi người đang nghe đến đoạn cao trào, thấy y định về thì nhốn nháo ngăn lại. Gã da đen thừa cơ làm cao:
"Tao mới ăn bát mì, bụng vẫn còn đói, phải về ăn thêm cái bánh bao đã."
Lập tức có người hô lớn:
"Chủ quán, cho gã thêm bát nữa, tôi trả tiền!"
Nghe đến đây, tôi vừa buồn cười vừa lo. Gã da trắng này đúng là tay buôn chuyện, câu chuyện hay thế của Báo Tử mà y chỉ bán lấy một bát mì. Tôi lo sốt vó cho tính mạng của Báo Tử và Đại Hòa Thượng.
Mì bưng ra, gã da đen xì xụp ăn, nước bắn tung tóe, mọi người xung quanh cứ thao láo mắt chờ y kể tiếp. Đợi mãi y vẫn chưa mở miệng, tôi chỉ muốn xông tới bóp cổ y bắt khai ra bằng sạch.
Mãi mới ăn xong, y thong thả nói:
"Tao đứng trên lầu hai tiệm vải đối diện..."
Có người mất kiên nhẫn ngắt lời:
"Biết rồi, ông đứng ở lầu hai tiệm vải, ông nói mấy lần rồi!"
Gã da đen gật gù:
"Được được, tao không nói câu đó nữa. Tao đứng trên lầu hai tiệm vải đối diện..."
Đám đông bật cười, có người mắng: "Đã bảo đừng nhắc lại mà!", người khác lại bảo: "Thôi kệ lão, để lão kể cho xong."
Gã da đen kể tiếp:
"Tao thấy một đứa rút từ trong người ra cây đoản bổng, vung lên định nện thẳng vào đầu gã đại hán. Gã vẫn ngồi im phăng phắc. Lúc cây gậy sắp chạm đầu, gã khẽ nghiêng người, cây gậy nện hụt xuống bàn. Gã đại hán nhanh như cắt vươn tay chộp lấy cổ thằng kia, ấn thẳng đầu nó vào thau nước mì nóng hổi. Thằng đó rú lên như lợn bị chọc tiết."
Cả quán cười ồ lên.
"Thấy đồng bọn bị hạ, mấy đứa còn lại hô hoán nhau rút gậy gộc, dao búa xông vào. Gã đại hán bưng thau nước mì lên — tay gã to kinh khủng, một bàn tay xòe ra là bưng gọn cái thau — gã hắt mạnh về phía sau. Nước mì sôi sùng sục dội thẳng vào mặt mũi quân thù, chúng nhảy dựng lên như choi choi, thảm hại không để đâu cho hết. Nhân lúc đó, gã vớ lấy cái ghế đẩu ném mạnh ra cửa. Hai đứa chặn cửa dạt sang hai bên, gã đại hán dắt lão hòa thượng béo vọt thẳng ra ngoài."
Mọi người trầm trồ khen ngợi gã đại hán vừa dũng mãnh vừa mưu trí.
Gã da đen lại tiếp:
"Tao đứng trên lầu hai tiệm vải đối diện..."
Cả quán lại cười rộ, có người quát: "Đừng nói câu đó nữa!"
Nhưng gã da đen không cười, mặt y nghiêm lại:
"Tao thấy gã đại hán và lão hòa thượng chạy dọc phố về hướng Bắc, đám người kia đuổi gắt phía sau. Gã đại hán bảo lão hòa thượng chạy trước, còn mình chặn hậu. Một gã to béo đuổi sát gót, gã đại hán bất thần quay lại gầm lên một tiếng, gã to béo đứng hình luôn, không dám bén mảng tới gần. Gã đại hán bồi thêm một cước, gã béo ngã chổng vó."
Tiếng khen ngợi lại vang lên râm ran.
"Thấy gã dũng mãnh quá, đám kia không đứa nào dám đơn độc xông lên. Chúng bàn bạc một hồi rồi chia nhau, năm đứa vây đánh gã đại hán, hai đứa còn lại vòng qua tấn công lão hòa thượng béo chạy phía trước. Lão hòa thượng đi cùng gã đại hán chắc võ công cũng không vừa, ai dè lão chẳng biết một chiêu nửa thức nào, bị hai đứa kia đuổi chạy nháo nhào, cuối cùng vấp ngã một cú đau điếng. Gậy gộc bọn chúng trút xuống như mưa vào người lão. Tao đứng trên lầu hai tiệm vải đối diện nhìn rõ mồn một."
Lại là cái tiệm vải chết tiệt đó.
Thiết Thuân nhận ra gã đại hán chính là Báo Tử, vội vàng hỏi:
"Sau đó thì sao? Sau đó thế nào?"
Gã da đen liếc Thiết Thuân một cái rồi bảo:
"Chú em là người nơi khác đến à?"
Thiết Thuân gật đầu.
"Bên ngoài giờ loạn lạc lắm, tốt nhất là bớt ra ngoài thì hơn." Y nhìn mọi người rồi kể tiếp: "Thấy lão hòa thượng bị đánh, gã đại hán gầm lên như mãnh hổ, vung hai quyền đánh gục hai đứa cản đường. Gã uy phong lẫm liệt như thiên thần hạ thế, chẳng ai dám lại gần. Gã chạy tới chỗ lão hòa thượng, xách cổ hai đứa đang đánh lão, hai cánh tay gã kẹp mạnh lại, hai cái đầu va cốp vào nhau rồi rũ xuống như tàu lá chuối. Gã đỡ lão hòa thượng dậy nhưng lão bị thương nặng quá, không đi nổi nữa. Gã đại hán liền vác lão lên vai, tiện tay vớ lấy cái xẻng sắt bên đường rồi tiếp tục đi về phía Bắc. Đám người kia sợ xanh mặt, không dám lại gần, chỉ dám lẵng nhẵng theo sau cho đến khi ra khỏi phố. Tao đứng trên lầu hai tiệm vải đối diện nhìn rõ mồn một."
Có người sốt sắng hỏi:
"Rồi sao nữa? Kể tiếp đi!"
Gã da đen bảo:
"Sau đó thì họ ra khỏi phố rồi... À mà cái tiệm vải đối diện là của em trai tao mở đấy, ai mua vải cứ sang đó, tao bảo nó bớt giá cho."
Hóa ra gã này nãy giờ vừa kể chuyện vừa tranh thủ quảng cáo cho tiệm vải của em trai mình. Đúng là tay buôn tinh quái.
Biết Báo Tử và Đại Hòa Thượng đang gặp nguy, chúng tôi vội vã ăn xong rồi đuổi theo hướng Bắc.
Đường sá vùng Tây Bắc vốn chật hẹp, ít lối rẽ chứ không như vùng ven biển phía Đông Nam. Ở đây, chỉ cần cứ bám theo con đường độc đạo là thế nào cũng tìm thấy mục tiêu. Đuổi được chừng hai ba dặm, chúng tôi thấy một bãi máu cùng dấu vết đánh nhau, một cây gậy gỗ gãy làm đôi vứt chỏng chơ trên đất.
Chúng tôi tăng tốc, đến một ngôi làng nhỏ. Ngay đầu làng có một cây dương to bằng cổ tay bị chặt chéo, ngọn cây đổ gục xuống, chỉ còn dính lại một chút vỏ. Nhát dao thật sắc, cây to thế này mà một đao là đứt lịm.
Cạnh gốc cây đổ cũng có một vũng máu.
Theo lời kể của gã da đen, Báo Tử và Đại Hòa Thượng không có vũ khí, ban đầu tay không, sau mới có cái xẻng sắt. Đám người đuổi theo vừa đông vừa có hung khí, chúng tôi vô cùng lo lắng cho sự an nguy của họ.
Báo Tử anh hùng cái thế, nếu đi một mình tôi tin anh thừa sức đối phó với bảy tên kia, nhưng anh còn phải bảo vệ Đại Hòa Thượng đang bị thương. Đại Hòa Thượng y thuật cao minh nhưng tuyệt nhiên không biết võ công, thực sự là gánh nặng cho Báo Tử.
Từ trong làng, một lão chăn cừu dẫn đàn cừu đi ra. Tam sư thúc chặn lão lại, chỉ vào cây dương bị chặt hỏi chuyện.
Lão chăn cừu nói giọng Cam Nam đặc sệt, lời lẽ tuôn ra như súng liên thanh, vừa nói vừa khua chân múa tay, tôi chẳng hiểu lão nói gì. Chỉ thấy lão rất kích động, mặt đỏ rần rần.
Đợi đàn cừu đi khuất, Tam sư thúc mới giải thích cho chúng tôi biết ở đây cũng vừa xảy ra một trận ác chiến.
Tam sư thúc kể, khi Báo Tử vác Đại Hòa Thượng tới đây thì bị bọn chúng bắt kịp. Báo Tử đặt Đại Hòa Thượng lên cây rồi một mình nghênh chiến. Lão hòa thượng béo bám chặt lấy cành cây, run cầm cập vì sợ, cái cây nhỏ bé cũng run rẩy theo dưới sức nặng của lão. Báo Tử lưng tựa vào gốc dương, tay lăm lăm cái xẻng sắt liều mạng chiến đấu. Dù dũng mãnh nhưng vì phải hộ giá lão hòa thượng trên cây nên anh lúng túng, trở tay chẳng kịp. Đám người kia ép được Báo Tử rời khỏi gốc cây liền vung đao chém đứt thân dương, Đại Hòa Thượng ngã lộn nhào xuống đất. Một tên cầm dao xông tới định hạ thủ, Báo Tử vung xẻng sắt nhắm thẳng trán hắn mà nện. Tên đó ôm đầu máu đổ gục, Báo Tử thừa cơ lại vác lão hòa thượng lên vai, chạy miết về phía Bắc.
Vác theo một người to béo như vậy, Báo Tử chắc chắn không chạy xa được, thế nào cũng bị chúng đuổi kịp. Chúng tôi vội vã đuổi theo.
Đi thêm một đoạn là tới một gò núi. Trên núi không có đường mòn, nhưng nhìn đám cỏ bị giẫm nát, có thể thấy Báo Tử và đám người kia đều leo lên đây.
Lên tới đỉnh núi, giữa những tảng đá lởm chởm, chúng tôi thấy nhiều vệt máu vương vãi, chứng tỏ nơi này cũng xảy ra một trận kịch chiến. Trên mặt đất có một mảnh vải rách, không rõ của ai, nhưng chắc chắn cuộc giáp lá cà khi đó cực kỳ nguy hiểm.
Lần theo dấu chân hỗn loạn, chúng tôi xuống núi. Dưới chân núi có vài nếp nhà lụp xụp, một cụ già đang ngồi sưởi nắng trước hiên.
Cụ già đã ngoài bát tuần, mặt đồi mồi, tóc trắng như tuyết. Tam sư thúc lại gần bắt chuyện, lão bảo mình là thầy thuốc quanh vùng, hôm đó chính lão đã rịt thuốc cho Đại Hòa Thượng.
Lão lang trung kể, hôm ấy Báo Tử vác Đại Hòa Thượng chạy quàng chạy xiên thế nào lại vào đúng nhà lão. Vừa bước vào sân, ngửi thấy mùi thuốc bắc, Báo Tử biết ngay gặp được thầy thuốc. Anh nói vội vài câu, bảo có thổ phỉ đuổi theo, nhờ lão cứu chữa cho Đại Hòa Thượng. Lão hòa thượng béo mất máu nhiều nên mặt mũi nhợt nhạt nhưng vẫn còn tỉnh táo, lão hỏi nhà cụ có đại kế, tiểu kế hay điền thất không. Cụ già nghe thế là biết gặp người trong nghề. Quả nhiên, trao đổi vài câu, cả hai đều nhận ra đối phương là lang trung.
Cụ già đưa lão hòa thượng vào trong trị thương, còn Báo Tử một mình chặn cửa.
Đám người đuổi tới quát lớn:
"Đến đây thì chúng mày có mọc cánh cũng không thoát nổi. Khôn hồn thì tự kết liễu đi, kẻo lát nữa rơi vào tay ông thì sống không bằng chết!"
Báo Tử cười nhạt:
"Đã tới đây thì ta cũng chẳng định chạy nữa. Chúng mày dám đuổi đến tận đây thì nơi này chính là mồ chôn của tụi bây."
Cụ già trong nhà vọng ra:
"Tráng sĩ cầm chân chúng một lát, tôi đang rịt thuốc, xong sẽ báo ngay!"
Báo Tử đáp vọng vào:
"Được! Cụ cứ yên tâm chữa trị."
Báo Tử đứng hiên ngang trước cửa, hai chân dang rộng, nắm đấm siết chặt, uy phong lẫm liệt. Hai tên tả hữu vung đao lao tới, Báo Tử cúi thấp người, lưỡi đao sượt qua đỉnh đầu. Ngay lập tức, anh tung một cú tảo đường cước, tên bên trái ngã chổng gọng, đao văng ra xa. Tên bên phải vung đao hụt, định bồi thêm nhát nữa thì bị Báo Tử tung một cú phi cước đạp văng cả người lẫn đao ra ngoài.
Vừa tiếp đất, một lưỡi phi đao xé gió lao tới, Báo Tử né không kịp nên bị cắm phập vào vai trái. Tên ném đao định tung thêm nhát nữa, Báo Tử trừng mắt gầm lên một tiếng, hắn sợ quá không dám nhấc tay lên.
Một tên mặt rỗ hô lớn:
"Nó bị thương rồi, anh em đừng sợ, cùng xông lên!"
Đám người lại hò hét lao vào. Tên mặt rỗ cầm gậy gỗ xông lên đầu tiên. Báo Tử bước tới, gạt mạnh cổ tay hắn rồi xoay người đoạt lấy cây gậy. Anh vung gậy đỡ gạt, đá văng thêm hai tên nữa.
Bất thần, một lưỡi phi đao nữa lại cắm vào vai phải Báo Tử. Máu thấm đẫm vai áo nhưng anh vẫn đứng vững như bàn thạch, chết cũng không lùi. Anh tóm lấy một tên định lẻn vào, nhấc bổng qua đầu rồi quẳng ra xa cả trượng.
Lũ người kia khiếp vía, lại lùi ra xa. Hai bên rơi vào thế giằng co.
Trong nhà, cụ già gọi lớn:
"Xong rồi, thuốc đã rịt xong!"
Báo Tử gầm lên một tiếng vang động núi rừng, vung cây gậy gỗ lao thẳng vào đám người. Chúng sợ hãi dạt ra hai bên, Báo Tử áp sát tên ném phi đao. Hắn sợ đến nỗi quên cả ném đao, chỉ biết đưa tay lên đỡ và gào "Tha mạng!". Báo Tử quát: "Tha thế nào được!", bàn tay bất thần đổi hướng, chém mạnh vào cổ hắn. Chỉ nghe một tiếng "rắc", cổ hắn gãy gục, ngã xuống như một cái bao tải rách.
Thấy Báo Tử ra tay đoạt mạng người trong chớp mắt, đám còn lại hồn xiêu phách lạc. Tên mặt rỗ hét lên: "Gió to, chuồn thôi!", rồi cả lũ tháo chạy lên núi.
Báo Tử cũng không đuổi theo.
Đêm đó, Báo Tử và Đại Hòa Thượng nghỉ lại nhà cụ già. Cụ già cả đời hành thiện tích đức, vợ mất sớm, không con cái, thông thuộc địa hình vùng này vì hay đi chữa bệnh cứu người. Tuy nhiên, cụ cũng chẳng biết đám người kia là ai.
Báo Tử và Đại Hòa Thượng lại càng không biết.
Bọn chúng rốt cuộc là hạng người nào?
Cụ già và Đại Hòa Thượng đều là lang trung nên trò chuyện rất tâm đắc. Báo Tử thấy trên kệ có cuốn sách đóng chỉ xanh tên là "Hiệp Nữ Truyện", liền cầm lên xem và bị cuốn hút ngay lập tức. Sách viết về nữ hiệp Lữ Tứ Nương danh tiếng lẫy lừng. Báo Tử từ nhỏ đã nghe kể về Lữ Tứ Nương và Nam Bắc Bát Hiệp, nhưng không ngờ lại có cuốn sách hay đến thế.
Báo Tử ghé sát đèn dầu đọc say sưa, dù hai vai trúng đao nhưng vốn dạn dày sương gió nên anh chẳng màng tới vết thương nhỏ ấy. Càng đọc càng khoái, anh xin cụ già vò rượu, cứ đoạn nào hay lại hô "Tuyệt văn!" rồi nốc một chén.
Thời Ung Chính, Khang Xi, có tám vị hiệp khách kết nghĩa, trong đó có Liễu Nhân hòa thượng, Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan... Họ hẹn nhau trừ bạo an dân, chống lại quân Thanh. Nhưng người anh cả Liễu Nhân lại làm tay sai cho triều đình, sát hại nghĩa sĩ. Bảy người còn lại cùng ra tay trừng trị, nhưng võ công Liễu Nhân quá cao cường, bảy người hợp lực cũng khó thắng. Sau họ bày kế, để Bạch Thái Quan có khinh công giỏi nhất phối hợp cùng sáu người圍 công, cuối cùng mới hạ sát được tên phản đồ.
Báo Tử cảm thán:
"Sách hay như rượu quý, đọc mãi không chán."
Báo Tử uống rượu đọc sách không hề buồn ngủ, còn cụ già và Đại Hòa Thượng nằm trên giường kể chuyện nghề y.
Đại Hòa Thượng kể, hồi còn đi học, lão cùng sư đệ khiêng kiệu cho sư phụ, đi qua cánh đồng thấy một nông phu đang gặt lúa, người vợ mang cơm ra, mặt mũi tay chân đầy mụn nhọt, xấu xí kinh người. Sư phụ bảo lão lên ôm chặt lấy người đàn bà đó từ phía sau. Lão không dám cãi lời, liền làm theo. Người đàn bà hoảng hốt vùng vẫy, kêu cứu chồng. Người chồng giận dữ định đánh Đại Hòa Thượng. Sư phụ bước ra bảo: "Khoan đã, đồ đệ ta hảo tâm chữa bệnh cho vợ ngươi, sao ngươi ngu muội thế!". Sư phụ hẹn họ tối đó đến quán trọ, nếu mụn nhọt khỏi thì đến tạ ơn. Đại Hòa Thượng lấy làm lạ, ôm một cái thì chữa bệnh kiểu gì?
Lão kể tiếp:
"Sáng sớm hôm sau, tại quán trọ, tiếng trống chiêng rộn rã, người chồng hôm qua quỳ sụp xuống gọi chúng tôi là thần y. Hóa ra vợ y bị mụn nhọt lâu ngày không khỏi, bị tôi bất ngờ ôm lấy, bà ta tức giận phát điên, mụn nhọt đêm đó vỡ sạch, chảy hết mủ vàng ra, bôi thuốc vào là hôm sau đỡ hẳn. Y thuật của sư phụ tôi đúng là thiên hạ vô song."
Lão lang trung cũng không vừa:
"Sư phụ tôi y thuật cũng độc bộ thiên hạ. Hồi tôi theo người học đạo, đúng lúc quân Niệm quét qua bờ Bắc Hoàng Hà. Một hôm đi qua làng, thấy một thiếu niên bệnh tình nguy kịch, mặt vàng vọt, hơi thở thoi thóp. Sư phụ xem mạch xong bèn kê đơn: hai lạng thạch tín. Cả làng kinh hãi. Nhưng cậu bé nghĩ mình sắp chết nên ăn cũng chẳng sao. Người cha cẩn thận chỉ cho ăn một lạng trước. Ăn xong cậu bé nôn thốc nôn tháo ra mười mấy con giun trắng dài cả tấc, khí sắc hồng hào hẳn lên. Người cha đến tạ ơn, sư phụ hỏi đã uống đủ hai lạng chưa, ông ta bảo mới uống một nửa, nửa còn lại định lát nữa uống. Sư phụ thở dài bảo: 'Đứa trẻ chết chắc rồi'. Mọi người hỏi tại sao, sư phụ bảo hai lạng thạch tín mới diệt được hết giun, uống một nửa thì giun còn lại thấy đồng bọn chết sẽ không ăn thạch tín nữa, đứa bé chỉ còn đường chết. Quả nhiên một tháng sau cậu bé qua đời."
Báo Tử đang đọc sách, nghe hai lão già khoe khoang về sư phụ mình thì phì cười, đứng dậy ra ngoài giải quyết nỗi buồn.
Bên ngoài trăng thanh gió mát, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng ếch nhái xao động. Báo Tử quay vào phòng, bỗng cảm thấy có biến, anh liếc nhìn lên xà nhà thì thấy một bóng người đang nấp trên đó.
Kẻ này đã lẻn vào lúc anh ra ngoài.
Trên giường, Đại Hòa Thượng và cụ già đã ngủ say. Báo Tử giả vờ như không biết, tiếp tục đọc sách dưới đèn, thi thoảng lại nâng chén rượu. Sách hay chính là món nhắm tuyệt hảo.
Đêm đó, Báo Tử đọc sách đầy hưng phấn, còn kẻ trên xà nhà thì thảm hại vô cùng, hắn không dám xuống cũng chẳng dám cử động, đứng trên đó mệt rã rời.
Trời sáng dần, Báo Tử thức trắng đêm mà mắt vẫn sáng quắc, còn kẻ kia thì toàn thân đau nhức, đứng không vững nữa. Cuối cùng, hắn không chịu nổi, lăn nhào từ trên xà xuống, quỳ sụp trước mặt Báo Tử mếu máo:
"Đại ca, tha cho em, tha cho em!"
Báo Tử buông sách hỏi:
"Mày là đứa nào?"
Hắn đáp:
"Em là kẻ cắp (Lão Vinh)."
Báo Tử xách hắn dậy, lật bàn tay hắn lên xem kỹ rồi lắc đầu. Hắn mặt mũi xám ngoét, không chỉ mất ngủ mà còn sống trong sợ hãi suốt đêm, tinh thần và thể xác đã chạm giới hạn.
Báo Tử bảo:
"Mày không phải kẻ cắp, mày là dân luyện võ."
Hắn mếu máo:
"Em thật sự là kẻ cắp mà đại ca."
Báo Tử lắc đầu. Lòng bàn tay và mu bàn tay hắn đầy vết chai, ngón tay ngắn và thô, rõ ràng là do tập luyện với bao cát và mộc nhân lâu ngày. Dân kẻ cắp tay phải mềm mại không xương, ngón tay thon dài. Báo Tử biết ngay hắn nói dối.
Hôm qua Báo Tử đã chạm mặt bảy tên kia, mắt anh sắc như diều hâu, ai đã gặp một lần là không bao giờ quên. Tên này anh chưa thấy bao giờ. Nhưng không thấy không có nghĩa hắn là dân lương thiện.
Đại Hòa Thượng tỉnh giấc, nhìn hắn một hồi rồi bảo lão lang trung:
"Cho mượn bộ ngân châm."
Ngân châm vốn dùng để châm cứu, là vật bất ly thân của lang trung. Cụ già đưa ra một cuộn vải, bên trong cài sẵn những cây kim bạc nhỏ xíu. Đại Hòa Thượng cầm một cây, vê vê trên ngón tay. Tên kia ngơ ngác nhìn, bất thình lình Đại Hòa Thượng ra tay như chớp, đâm một kim vào huyệt Thiên Trụ của hắn. Trước khi hắn kịp hiểu chuyện gì, bàn tay hộ pháp của lão hòa thượng đã rời đi.
Huyệt Thiên Trụ nằm ngay sau gáy.
Tên kia bỗng run rẩy khắp người như có hàng vạn con kiến bò, hai vai rung bần bật, tay chân múa may, từng thớ thịt trên người như đang nhảy múa.
Đại Hòa Thượng hỏi:
"Mày là ai?"
"Em là kẻ cắp."
Lão hòa thượng lắc đầu, lại cầm một cây ngân châm khác. Tên kia hét lên: "Đại sư tha cho con!". Lão không nghe, ngón tay nhanh như gà mổ thóc, lần này kim đâm vào huyệt Nhĩ Hậu.
Huyệt này nằm ở vùng tĩnh mạch mềm mại sau tai.
Lần này hắn không thấy ngứa mà là đau, cái đau thấu tận xương tủy, như có hàng ngàn mũi kim châm vào tủy sống. Hắn co rúm người lại, tưởng làm thế sẽ bớt đau.
Đại Hòa Thượng ra tay nhanh như chớp giật, tên kia chẳng thể nào tránh nổi.
Lão lại hỏi:
"Mày là ai?"
Hắn vẫn khăng khăng: "Em là kẻ cắp."
Đại Hòa Thượng thở dài, vẻ mặt đầy bi thiên mẫn nhân. Lão lại cầm kim, vê nhẹ rồi đi vòng quanh hắn. Hắn biết lão đang giở trò nhưng chẳng biết lão làm thế nào.
Đại Hòa Thượng lầm rầm:
"Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách."
Báo Tử nghe lão hòa thượng thành kính niệm kinh mà suýt phì cười. Đây là câu đầu của Tâm Kinh, ý bảo Bồ Tát cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ nạn. Lão hòa thượng tự coi mình là Bồ Tát để "độ" tên này đây mà.
Đại Hòa Thượng trông giống hòa thượng nhưng thực ra không phải. Tóc lão là bị rụng sạch chứ không phải cạo. Đại Hòa Thượng chỉ là biệt danh giang hồ, danh phận thực sự của lão là lang trung. Thầy thuốc giỏi thế mà không chữa nổi chứng rụng tóc của mình, mới thấy ba cái loại thuốc mọc tóc trên đời toàn là lừa đảo.
Niệm xong, lão bất thần châm một kim vào huyệt Tiếu Huyệt ở thắt lưng hắn.
Tên kia bỗng cười khanh khách, lăn lộn dưới đất. Càng lăn càng cười dữ dội, cười đến mức không thở ra hơi, nước mắt đầm đìa, người run bần bật. Cuối cùng hắn phục xuống đất, dập đầu lia lịa:
"Đại sư cứu con, đại sư cứu con với!"
Đại Hòa Thượng mặt không cảm xúc, hỏi lại: "Mày là ai?"
Hắn hổn hển đáp: "Con là hưởng mã."
"Ai phái mày đến?"
"Nhị đương gia phái con đến."
"Nhị đương gia của chúng mày đâu?"
"Đang đợi con ở bên ngoài."
"Đến đây làm gì?"
Hắn chỉ vào Báo Tử, vừa cười vừa nói: "Đến để giết gã này."
"Không quen không biết, sao lại muốn giết?"
"Có người bỏ tiền mua mạng gã."
"Ai?"
"Đại công tử của tiêu cục Long Uy."
Báo Tử ngồi trên ghế, bề ngoài bình thản nhưng trong lòng nổi bão tố. Anh và tôi đồng hành cùng tiêu cục, bảo vệ họ vượt qua bao phen nguy khốn, không ngờ đại công tử nhà họ lại muốn lấy mạng anh.
Đại Hòa Thượng nhìn Báo Tử như muốn hỏi ý kiến. Báo Tử hiểu rồi, chỉ vì lần đó ở Trương Gia Khẩu anh lỡ lời đắc tội với gã Mũi Hếch, mà hắn nỡ bỏ tiền thuê hưởng mã truy sát suốt dọc đường. Nhưng lúc này Báo Tử vẫn chưa biết đám hưởng mã này có hai mục đích: một là giết anh, hai là cướp mười vạn tiền tiêu.
Báo Tử xua tay, anh không muốn làm khó tên tiểu lâu la tội nghiệp mất ngủ cả đêm lại còn bị châm cứu hành hạ này. Đại Hòa Thượng rút kim ra, hắn nằm bẹp xuống đất thở hồng hộc như cá mắc cạn.
Vừa hồi sức, tên đó đã lóp ngóp bò dậy rồi biến mất tăm. Báo Tử và Đại Hòa Thượng nhìn qua cửa sổ, thấy trên sườn núi xa xa có mười mấy bóng người.
Hôm qua mới có bảy đứa, giờ đã lên hơn mười, rõ là chúng đã có thêm viện binh. Đám này dai như cao dán chó, thật khó cắt đuôi.
Ăn xong, Báo Tử và Đại Hòa Thượng lên đường. Cụ già khuyên can bên ngoài nguy hiểm, nhưng Báo Tử bảo nếu ở lại sẽ mang họa đến cho cụ, anh đi rồi bọn chúng cũng sẽ theo anh mà đi.
Vừa lúc có chiếc xe ngựa đến đón cụ già đi chữa bệnh. Cụ đi về hướng Nam, còn Báo Tử và Đại Hòa Thượng hướng về phía Bắc. Họ chia tay nhau tại ngã tư đường. Đám người kia quả nhiên lẵng nhẵng bám theo Báo Tử và Đại Hòa Thượng về hướng Bắc.