Tổ Bịp

  • 5050 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 39. Kẻ trộm ngựa trên thảo nguyên
Nhà lao mỗi ngày cho tu nhân đi hóng gió một lần, cơm nước hai bữa. Những lúc hóng gió, đám tù nhân mới được ra sân hít chút khí trời; còn đến giờ ăn, thứ cháo loãng nấu từ loại gạo mốc được đưa qua khe cửa sắt. Chúng tôi cứ thế vục mặt ăn trong căn buồng giam nồng nặc mùi xú uế của phân tiểu và hơi ẩm mốc.
Rốt cuộc cũng đợi được đến đêm, lão Đồng mở khóa, tôi lẻn ra sân nhà lao.
Sát tường rào có một cây cổ thụ, tôi thoăn thoắt mấy cái đã leo tót lên cành cao. Thấy trong sân không có động tĩnh, tôi men theo cành lá bò lên mái nhà. Cứ ngỡ leo xuống phía bên kia mái là thoát ra ngoài, nào ngờ dưới dãy nhà này lại là nơi ở của đám cai ngục. Nhìn bóng bọn chúng đi lại bên dưới, tôi dán chặt mình vào mái ngói, chẳng dám phát ra nửa tiếng động.
Chẳng rõ đã đợi bao lâu, khi dãy nhà phía dưới im lìm không còn tiếng bước chân, vầng trăng từ tầng mây hé ra khuôn mặt bệch bạc, tôi bèn bám lấy đầu rui hiên nhô ra, thả mình lơ lửng rồi nhẹ nhàng nhảy xuống mảnh sân nhỏ của đám cai ngục.
Mảnh sân ấy có một cánh cổng, đêm đó cửa không khóa, có lẽ chúng không thể ngờ lại có kẻ dám đào tẩu qua lối này.
Tôi đẩy cổng bước ra ngoài, nhìn ánh trăng trải tràn mặt đất, cảm giác bản thân như sắp bay bổng lên. Luồng sinh khí của tự do mới thanh khiết làm sao.
Phía sau bức tường ngục là thảo nguyên bao la. Dưới ánh trăng, ngọn cỏ dập dềnh tựa hồ đại dương sóng cuộn. Tôi mặc sức lăn lộn trên thảm cỏ, lăn đi thật xa, làm kinh động đến một con thú nhỏ không tên, khiến nó kêu ré lên rồi lủi mất dạng.
Quả thực, chẳng có gì quý giá hơn sự tự do.
Lát sau, lăn lộn đến thấm mệt, tôi hổn hển bò dậy, lững thững bước đi không định hướng. Chùa Xích Phong nằm ở phương nào, tôi lại quên chưa hỏi lão Đồng. Thôi thì đêm nay cũng chẳng nhất thiết phải tới đó ngay, cứ dạo quanh một phen xem sao.
Đi chừng mười dặm, tôi thấy một cụm lều mông cổ nằm im lìm trong tĩnh mịch. Bên ngoài có một chuồng ngựa, tôi chui vào trong, nghe thấy tiếng ngựa phun phì phì qua mũi. Chuồng này nuôi khá nhiều ngựa. Mấy đêm liền nghe lão Đồng kể chuyện khiến tôi mệt lử, chi bằng cứ đánh một giấc ở đây đã.
Tôi vớ được đống cỏ khô, rải xuống đất làm nệm rồi nhanh chóng thiếp đi.
Trong cơn mơ màng, tôi chợt nghe thấy tiếng bước chân sột soạt trong chuồng. Phải chăng chủ nhà đến thêm cỏ? Cơn buồn ngủ tan biến sạch sành sanh, tôi nhẹ nhàng ngồi dậy. Tuy nhiên, đống cỏ khô dưới thân vẫn phát ra tiếng lạo xạo.
Tiếng bước chân sột soạt kia đột ngột dừng lại. Không gian rơi vào im lặng đến rợn người. Thi thoảng, chỉ còn tiếng ngựa thở hắt ra nồng hơi ẩm. Tôi biết đối phương đang nấp đâu đó trong bóng tối, và gã cũng biết sự hiện diện của tôi. Đôi bên cùng dò xét, cùng nín thở, không ai dám cử động hay phát ra tiếng động nào.
Thời gian tựa hồ ngưng đọng, không khí căng thẳng đến mức chỉ cần quẹt một que diêm là có thể bùng cháy.
Sau cùng, đối phương không chịu nổi trước, tôi nghe thấy tiếng gã rón rén dịch chuyển ra phía cửa. Tôi đoán gã không phải chủ nhà, bởi nếu là chủ, gã đã hô hoán từ lâu. Có lẽ đây là một kẻ trộm ngựa.
Tôi cất tiếng thử dò xét:
"Có phải kẻ cật cách niệm không?"
Đối phương thở phào một tiếng nhẹ nhõm, đáp:
"Hóa ra là Bài Cầm."
Tôi hỏi gã có phải người trong giang hồ không, gã bảo hóa ra đều là anh em cả.
Chợt, từ trong lều Mông Cổ vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch, tiếng giày dạ nện trên mặt đất. Chúng tôi kinh hãi chui tót ra khỏi chuồng ngựa, co giò chạy biến đi thật xa. Ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy một gã đàn ông cao lớn, một tay cầm đèn bão, một tay lăm lăm cây đinh ba từ trong lều bước ra.
Khi đã cắt đuôi được hiểm nguy, chúng tôi đứng lại giữa thảo nguyên, tôi hỏi:
"Gã từ đâu tới?"
Gã đáp:
"Từ Thừa Đức, còn anh bạn? Xưng hô thế nào?"
Tôi bảo:
"Tôi từ Đại Đồng tới, tên Ngai Cẩu."
Gã nói:
"Tôi là Nguyên Mộc."
Ngai Cẩu, Nguyên Mộc, hai cái tên nghe đều khờ khạo, chẳng khác nào lũ ngốc. Tôi bất giác bật cười.
Tôi lại hỏi:
"Gã vào chuồng ngựa làm gì? Trong đó có đồ gì đáng giá mà lấy?"
Nguyên Mộc đáp:
"Anh là người Sơn Tây, rõ là không rành sự đời rồi. Tôi sống ở thảo nguyên đã lâu, biết rõ nội tình. Nhà này nuôi được một con Bách Xá Thiết Đề mã."
Tôi thắc mắc:
"Bách Xá Thiết Đề mã là loại gì?"
Nguyên Mộc giảng giải:
"Ngựa Mông Cổ là loài ngựa tốt nhất thế gian, chúng chịu thương chịu khó, chạy nhanh như cắt, lại cực kỳ tinh khôn. Ngày tuyết lớn, chúng biết cào tuyết tìm cỏ khô; thậm chí lúc không có thức ăn, chúng còn ăn cả phân mình để cầm hơi. Thành Cát Tư Hãn năm xưa chính là nhờ loài ngựa này mà chinh phục cả thiên hạ."
Lại một lần nữa tôi nghe thấy danh tự Thành Cát Tư Hãn. Nhân vật này quả thực thần kỳ, đi đâu trên thảo nguyên cũng nghe người ta nhắc tên.
Nguyên Mộc nói tiếp:
"Trong giống ngựa Mông Cổ, quý nhất có bốn loại: ngựa đen A Ba Cát, ngựa Ô Chu Mục Thấm, ngựa Ô Thẩm và ngựa Bách Xá Thiết Đề. Hai loại đầu sản sinh ở Tích Lâm Quặc Lặc, loại thứ ba ở Ngạc Nhĩ Đa Tư, còn loại thứ tư ở ngay Xích Phong này. Trong đó, ngựa Bách Xá Thiết Đề là danh giá nhất, vốn là ngựa chuyên dụng của đội cấm vệ quân dưới trướng Thành Cát Tư Hãn. Móng của chúng cứng cáp dày dặn, chẳng cần đóng móng sắt mà đi trên núi cao vực thẳm hay bãi đá lởm chởm vẫn bình ổn lạ thường, bởi thế mới có tên là Bách Xá Thiết Đề mã."
Thật không ngờ, chuyện xem ngựa cũng lắm công phu đến thế. Tôi tò mò:
"Sao gã lại am tường về ngựa Mông Cổ vậy?"
Nguyên Mộc nói:
"Tôi là tặc trộm ngựa. Chỉ trộm ngựa, tuyệt không đụng tới thứ khác."
Tôi chợt nhớ lời sư phụ Hổ Trảo từng dạy, trong giang hồ có hạng đạo tặc chỉ chuyên trộm duy nhất một loại đồ vật. Loại này thường tay nghề chẳng ra sao, toàn nhắm vào những thứ dễ ra tay. Giang hồ gọi chung hạng này là tạp tặc.
Có kẻ chuyên trộm gà, mặc áo khoác dài đi ngoài làng, thấy gà đang kiếm ăn liền rắc gạo ngâm rượu xuống đất. Gà ăn vào say bí tỉ, gã chỉ việc tống chúng vào túi quần bên trong áo khoác. Có kẻ một lúc trộm được cả bảy tám con. Giang hồ gọi là "Hái đào mao".
Có kẻ chuyên trộm nông sản chín ngoài đồng, gọi là "Mót đầu lều".
Có kẻ giả dạng hành khất, vào nhà người ta thấy gì vớ nấy, gọi là "Gắp rác rưởi".
Có kẻ chuyên trộm bô tiểu đặt sau nhà, miền Nam gọi là thùng phân, miền Bắc gọi bình nước tiểu, giang hồ gọi là "Gắp đầu lợn thối".
Lại có kẻ chuyên trộm quần áo phơi ngoài sân, gọi là "Thả giấy trắng".
Kẻ chuyên trộm trang sức vàng bạc trên người phụ nữ giữa chốn đông người, gọi là "Hái anh đào".
Kẻ chuyên trộm chậu gỗ lớn nhỏ đặt ngoài cửa, gọi là "Làm trăng rằm".
Kẻ chuyên trộm quần áo đang ngâm ngoài cửa chưa kịp giặt, gọi là "Hái hoa sen".
Hạng tạp tặc này thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong giới đạo tặc, bị người trong nghề coi khinh. Trong thiên hạ, hèn nhất là ăn mày; trong giới trộm cắp, hèn nhất là tạp tặc. Giang hồ gọi chung bọn chúng là Hắc Yêu.
Ngoài trộm mấy thứ đồng nát rẻ tiền, tạp tặc cũng trộm cả gia súc.
Có kẻ lẻn vào chuồng cừu, tay tẩm mật ong đưa vào miệng con cừu đầu đàn. Thấy vị ngọt, con đầu đàn sẽ đi theo gã, cả đàn cứ thế nối đuôi nhau ra ngoài. Cứ vậy, kẻ trộm dắt cả đàn rời chuồng. Con đầu đàn dễ nhận ra nhất, con nào to nhất, sừng dài nhất chính là nó.
Có kẻ lẻn vào chuồng bò, nhét đậu Hà Lan vào miệng bò, nhân lúc nó đang ăn thì cởi dây thừng dắt đi. Bò đi chậm, sợ chủ nhà đuổi kịp, kẻ trộm dùng gậy chọc vào hậu môn cho nó lồng lên chạy. Bọn trộm bò thôn quê đều làm như thế cả.
Kẻ trộm lợn thì nhảy vào chuồng, cho lợn ăn đồ ngâm rượu khiến chúng say mèm. Lợn nhỏ thì bọc áo cõng lên vai; lợn to thì khiêng lên xe ba gác, đắp chăn kín mít. Đi đường ai hỏi, cứ bảo là đang chở người bệnh.
Kẻ trộm ngựa chui vào tàu ngựa, dùng ngón tay gãi ngứa cho ngựa thuần tính, rồi dùng bông gòn bọc móng ngựa lại để dắt đi không gây tiếng động. Vừa ra khỏi tàu ngựa, gã liền phi thân lên lưng, thúc ngựa chạy cuồng nhiệt. Kẻ trộm ngựa không chỉ phải hiểu tập tính của ngựa mà còn phải có kỹ thuật cưỡi điêu luyện.
Nguyên Mộc là tặc trộm ngựa, thảo nào gã hiểu rõ giống ngựa Mông Cổ đến vậy.
Trong nghề trộm cắp, Nguyên Mộc thuộc hạng tạp tặc thấp nhất, hạng này không môn không phái, như lũ cô hồn dã quỷ vất vưởng trong đêm, thường hành động đơn độc hoặc đi theo nhóm nhỏ cũng toàn hạng tạp tặc như mình. Những kẻ có chút địa vị trong nghề đều chẳng thèm giao du với hạng này. Tạp tặc chỉ xứng kết bầy với tạp tặc, nương tựa lẫn nhau, chẳng khác nào quạ đậu lưng lợn, đứa nào cũng đen như nhau cả. Hạng này đến nay vẫn còn, thường xuất hiện ở nông thôn hay ngoại thành, chủ yếu trộm gia súc.
Trộm cắp là một nghề đòi hỏi kỹ thuật, tạp tặc là hạng kém cỏi nhất, nên địa vị mới thấp nhất là vậy.
Bậc cao nhất trong nghề là Đại phiêu bả tử, giang hồ còn gọi là Đại phát gia. Đại phiêu bả tử xưng bá một phương, dưới trướng lâu la đông đảo, mỗi đứa cai quản một vùng. Đại phiêu bả tử không trực tiếp ra tay hành sự, gã xuất hiện dưới danh nghĩa người thành đạt, kẻ giả làm hương thân, người đóng vai thương gia. Mạng lưới quan hệ của Đại phiêu bả tử vô cùng chằng chịt, ăn thông cả hai giới hắc bạch. Mỗi thành phố, ban ngày là thiên hạ của thị trưởng, ban đêm là giang sơn của Đại phiêu bả tử. Gã hô một tiếng trăm kẻ đáp lời, không việc gì là không làm nổi. Để lên tới vị trí đó, kẻ trộm phải trải qua ngàn vạn thử thách, phải có trong tay vài món tuyệt kỹ. Nghề trộm không có thế tập, tất cả dựa vào bản lĩnh. Nó tạo ra một sân chơi công bằng cho mọi kẻ trộm, cơ hội ngang nhau, bầu không khí dân chủ, cạnh tranh khốc liệt nhưng thành quả rực rỡ; cơ chế ấy thấm sâu vào tim gan mọi kẻ trộm, khiến đám "tặc dân" tâm phục khẩu phục.
Hổ Trảo chính là Đại phiêu bả tử vùng Tấn Bắc, tôi lại là đệ tử chân truyền của sư phụ, xét theo danh hiệu, vai vế của tôi trong giang hồ cũng thuộc hàng cao.
Nơi nào có người, nơi đó có giang hồ. Giang hồ luôn có tôn ti trật tự, và bất kể làm nghề gì, con người ta cũng đều phân định thứ bậc cao thấp.
Tôi đem những trải nghiệm huy hoàng trong nghề trộm cắp của mình ra kể cho Nguyên Mộc nghe, từ chuyện thám thính đến làm tai mắt tại Thường gia đại viện thuở nào. Nguyên Mộc nghe xong nửa tin nửa ngờ, gã hỏi:
"Cỡ như anh? Thế sao anh lại phải ngủ vất vưởng trong chuồng ngựa nhà người ta?"
Tôi biết hạng tạp tặc như Nguyên Mộc đang khinh thường mình, muốn gã tâm phục khẩu phục, ắt phải làm được việc gì đó khiến gã kính nể.
Tôi hỏi:
"Xứ Xích Phong này, nhà ai giàu nhất?"
Nguyên Mộc đáp:
"Phía Đông thành có nhà Chu Đại Thiện Nhân là giàu nhất. Lão vốn là võ cử nhân thời tiền Thanh, tinh thông quyền cước, chẳng ai dám bén mảng tới đó trộm đồ."
Tôi bảo:
"Giờ gã dẫn tôi tới đó, tôi sẽ lấy một món đồ giá trị về đây trước lúc trời sáng cho gã xem."
Nguyên Mộc nói:
"Nếu anh làm được thật, tôi nguyện bái anh làm thầy."
Tôi gạt đi:
"Tuổi tác chúng ta tương đương, tôi cũng chẳng làm thầy gã làm gì, chỉ cần gã giúp tôi dò hỏi tung tích của hai người là đủ."
Nguyên Mộc khẳng khái:
"Việc đó không thành vấn đề."
Nguyên Mộc dẫn tôi đi bộ nửa canh giờ thì tới nhà Chu Đại Thiện Nhân. Xích Phong nằm ngoài quan ngoại, huyện thành nơi đây khác hẳn với trong nội địa. Thành quách trong quan thường có tường cao cửa rộng, còn phố xá ngoài này không có tường thành bao quanh. Trong dãy nhà san sát, có một ngôi nhà cao lớn uy nghi, môn lâu vô cùng bề thế, đó chính là phủ đệ của lão họ Chu.
Tôi đi vòng quanh một lượt, thử kiểm tra ngưỡng cửa, thấy tấm ván ngưỡng cửa không tài nào nạy ra được. Đặc điểm của loại cửa này là khi đóng, người ta chèn tấm ván ngưỡng trước rồi mới sập cánh cửa dày cộp xuống đè lên trên, khiến tấm ván bị cố định hoàn toàn. Cạnh môn lâu có rãnh thoát nước dẫn vào trong sân, nhưng quá hẹp, không thể chui lọt. Muốn vào trong, chỉ có nước trèo tường hoặc khoét vách.
Trong nghề, trèo tường vào gọi là Thiên tặc, khoét vách vào gọi là Địa tặc. Giang hồ có câu quyết: "Đại lộ triều lưỡng biên, các tẩu nhất điều tuyến." (Đường lớn chia hai ngả, mỗi kẻ đi một đường). Thiên tặc không làm việc của Địa tặc và ngược lại. Tôi là đệ tử của Đại phiêu bả tử Hổ Trảo, lẽ dĩ nhiên chọn cách "lên trời" chứ chẳng thèm chui xuống đất. Lại có câu: "Ưng phi cao thiên, xà nhập địa huyệt." (Ưng bay trời cao, rắn chui hang đất). Thiên tặc thường khinh khi Địa tặc, mà Địa tặc cũng chẳng đủ bản lĩnh để leo cao. Trèo tường là một môn thủ pháp cao siêu, không qua rèn luyện khổ cực, không có chút khinh công thì đừng hòng mơ tới.
Tường nhà lão họ Chu cao hơn một trượng, tôi bảo Nguyên Mộc ngồi xổm xuống, đợi tôi đạp lên vai gã thì gã đứng dậy. Sau đó, tôi lùi lại mười mấy mét, đột ngột phát lực chạy nước rút, khi chân vừa chạm vai Nguyên Mộc, tôi nhún người, gã đứng phắt dậy, mượn sức bật đó tôi vọt lên cao, một tay bám lấy bờ tường, rồi tay chân phối hợp nhịp nhàng bò lên như một con thạch sùng.
Cách dùng người làm thang để leo tường này là bài học vỡ lòng ngày trước, với tôi chẳng có gì khó khăn, chỉ là ban nãy dùng sức hơi quá khiến vết thương do cai ngục đánh lại đau rát, chắc là vảy vừa đóng đã bị toác ra rồi.
Tôi áp sát thân mình vào mặt tường, quan sát động tĩnh phía trong. Sân vườn im lìm, ngược lại phía ngoài tường có chút biến động. Dưới ánh trăng, tôi thấy Nguyên Mộc đang há hốc mồm, gương mặt lộ vẻ kinh ngạc tột độ.
Tôi lấy một viên đá chuẩn bị sẵn trong túi ném vào trong sân. Không gian vẫn tĩnh lặng như tờ. Tôi lộn người qua tường, trượt nhẹ xuống sân.
Nấp dưới chân tường một lát, thấy quả thực không có gì bất thường, tôi mới từ từ đứng dậy, lẻn tới sau cổng, rút chốt, tháo then, hé mở cánh cửa lớn. Nguyên Mộc rón rén bước vào, vỗ vai tôi thì thầm:
"Anh, anh giỏi thật, hôm nay tiểu đệ đúng là được mở mang tầm mắt."
Tôi khẽ đáp:
"Chút tài mọn này thấm tháp gì, gã cứ xem tiếp đi."
Tôi khép hờ cửa chính rồi mới đi vào sân. Thiên tặc khi lọt vào trong sân phải luôn hé cửa để dự phòng đường lui lúc nguy cấp. Đây là bài học bắt buộc trong nghề mà tôi từng đề cập.
Hậu viện nhà lão Chu có một gian đại phòng cửa nẻo đóng chặt, đồ đạc quý giá và cả gia đình lão chắc đều ở trong đó. Muốn vào gian phòng này, vẫn phải dùng đến thủ pháp của Thiên tặc.
Sau đại phòng có một cây đại thụ, tán lá rậm rạp. Cạnh đó là gian chứa đồ lặt vặt với đủ loại nông cụ. Tôi tìm thấy một cuộn thừng dài và một thanh gỗ, quấn chúng quanh eo rồi thoăn thoắt leo lên cây, từ cành cây bước lên mái đại phòng.
Trên mái có ống khói. Tôi buộc dây thừng vào giữa thanh gỗ, gác thanh gỗ ngang miệng ống khói rồi đu người chui vào. Ống khói rất hẹp, vừa vặn cho thân hình tôi len lỏi. Thực ra để trượt xuống thì chẳng cần dây thừng, nhưng dây thừng là bảo hiểm, lỡ bị chủ nhà phát hiện không chạy thoát ra cửa được thì còn có đường leo ngược lại mái nhà. Sợi dây ấy chính là đường sống.
Mùi khói ám nồng nặc khiến tôi suýt nữa thì hắt hơi. Nếu hắt hơi lúc này là hỏng việc, bởi ống khói thông với bệ lò, bệ lò lại thông với phòng ngủ, tiếng động sẽ khuếch đại khiến chủ nhà thức giấc ngay lập tức.
May thay, tôi bóp mũi, nuốt ngược cái hắt hơi vào trong.
Men theo ống khói, tôi chui được vào bệ lò. Lối ra của bệ lò có một cánh cửa gỗ nhỏ, có thể rút ra từ bên ngoài hoặc bên trong. Tôi lấy sợi dây thép lão Đồng đưa cho ban sáng, lão bảo dùng để mở khóa, giờ lại phát huy tác dụng. Tôi lách dây thép qua khe cửa bệ lò, từ từ kéo ngược lại, cánh cửa gỗ dần dần ngả vào phía trong.
Cửa bệ lò có tay nắm ở mặt ngoài, mặt trong thì không. Nếu đẩy cửa ra phía ngoài, nó sẽ rơi xuống đất gây tiếng động kinh động chủ nhà.
Rút được cửa bệ lò, tôi lóp ngóp chui ra. Một luồng trăng lọt qua khe cửa sổ, tôi thấy một đôi nam nữ trên giường đất đang ngủ say nồng.
Tôi bò sát dưới gầm giường, nương theo ánh sáng lờ mờ quan sát, thấy trên chiếc bàn bát tiên giữa phòng bày biện đủ loại trâm cài, vòng tay, hoa tai, dây chuyền... hẳn là của người đàn bà trên giường tháo ra trước lúc đi ngủ. Tôi vớ đại một chiếc áo bên cạnh, bọc toàn bộ đống trang sức ấy lại rồi nhẹ nhàng mở cửa phòng, bước ra sân.
Nguyên Mộc đang bồn chồn đợi sẵn.
Tôi giao đống trang sức cho gã, bảo gã ra bằng cửa chính, còn mình thì đóng cửa sân, cài chốt lại, rồi tìm một thanh gỗ tựa vào tường để leo ra ngoài.
Làm tặc cũng phải có "đạo đức nghề nghiệp", trộm xong phải đóng cửa nẻo cho người ta, tránh để họ bị mất cắp thêm hoặc gặp tai nạn ngoài ý muốn. Giáo dục tôi nhận được chính là: Đạo diệc hữu đạo.
Ra khỏi huyện thành Xích Phong, Nguyên Mộc phục tôi sát đất, gã thốt lên:
"Anh à, hôm nay đệ mới thấy thế nào là bậc thầy thượng thủ."
Tôi nén nỗi đắc ý trong lòng, hờ hững bảo:
"Mấy trò vặt vãnh thôi."
Quả thực với chúng tôi, chút tiểu kỹ này chẳng đáng là bao. Thuở huấn luyện ở Đại Đồng, không biết chúng tôi đã chui qua bao nhiêu cái ống khói. Hồi đó còn có bài tập cuộn chiếu tre lại to bằng mâm hoa quả, dựng sát tường, chúng tôi phải chạy lấy đà leo lên tường rồi nhảy tót vào trong lòng chiếu mà không để nó rung rinh. Chui chiếu tre còn khó gấp vạn lần chui ống khói, vậy mà chúng tôi đều vượt qua cả.
Nguyên Mộc nói:
"Trước đây tôi thấy người ta trộm trang sức trên phố, mỗi lần chỉ lấy được một món. Thế mà anh giơ tay một cái là lấy được cả bộ, toàn bằng vàng ròng, bán đi khối tiền."
Tôi giảng giải:
"Mấy kẻ gã nói chỉ là hạng tiểu đạo thôi. Trộm được trâm vàng gọi là "Chốt", trộm nhẫn vàng gọi là "Tuốt vòng tay", trộm hoa tai gọi là "Kéo buồm", trộm dây chuyền gọi là "Niệm hạt Phật", trộm ví tiền gọi là "Da", trộm vàng nạm kim cương gọi là "Thêm hoa rượu". Bọn chúng ra tay chỉ lấy được một món, muốn lấy cả bộ thì phải làm theo cách của tôi."
Nguyên Mộc kính phục không thôi. Tôi bảo gã:
"Trời sáng gã đem mấy thứ này đi nơi khác mà bán, lấy tiền làm lộ phí cho hai anh em. Anh em cùng làm ăn, cứ chia đôi mỗi người một nửa."
Nguyên Mộc hỏi:
"Có cần giữ lại ba ngày không?"
Tôi đáp:
"Chúng ta là hạng 'khách vãng lai', không giữ, bán sạch." Khách vãng lai là tiếng lóng chỉ những kẻ trộm lưu động, gây án xong là biến mất, khiến vụ án trở thành án treo không lời giải.
Nguyên Mộc hỏi:
"Anh, anh muốn đệ nghe ngóng về hai người nào?"
Tôi nghiêm giọng:
"Hai người này vô cùng quan trọng với tôi. Một là vợ tôi, bị quan phủ bắt đi, gã hỏi xem bị giam ở đâu; hai là sư tổ của tôi, một lão hành khất người Nhạn Bắc, chân bị thọt một bên."
Nguyên Mộc quả quyết:
"Anh cứ đợi tin của đệ đêm nay."
Lúc trời gần sáng, tôi quay lại phía ngoài ngục. Thời đó ngục thất chỉ có tường cao chứ chưa có điện lưới. Tường ngục cũng chẳng cao hơn tường nhà lão Chu là mấy. Tôi trộm một cây liềm của nhà dân gần đó, khoét mấy cái hốc trên tường rồi cứ thế tay chân luân phiên bám vào mà leo lên.
Về tới cửa buồng giam, thấy không có gì khả nghi, tôi rút dây thép ra hí hoáy mở ổ khóa. Thế nhưng chẳng hiểu sao, loay hoay mãi mà khóa vẫn trơ trơ. Bất đắc dĩ, tôi phải gõ nhẹ vào cánh cửa sắt gỉ sét. Lão Đồng choàng dậy, đón lấy sợi dây thép từ tay tôi, chỉ một cái khều nhẹ, ổ khóa đã bật mở.
Lão Đồng cằn nhằn:
"Đã bảo bao nhiêu lần rồi, đầu dây thép phải chạm đúng lẫy khóa mới mở được, sao gã lại đần độn thế không biết."
Mắng xong, lão mới hỏi:
"Tìm thấy chùa Xích Phong chưa? Tình hình thế nào?"
Tôi đáp:
"Lão có bảo chùa ở đâu đâu, tôi tìm cả đêm chẳng thấy."
Lão Đồng gắt:
"Gã đúng là vừa đần vừa ngốc, phí hoài cả một đêm. Tôi không bảo thì gã không biết đường mà hỏi người ta à? Mũi để làm cảnh sao? Ra khỏi ngục cứ đi thẳng về hướng Bắc là thấy."
Tôi thầm nghĩ, tuy không tìm thấy chùa nhưng tôi đã tìm được người quan trọng hơn nhiều, trong lòng sướng âm ỉ. Với tôi, mũ đồng gì đó, Thành Cát Tư Hãn gì đó, hay sứ mệnh thần thánh gì đó đều là hư vô. Điều tôi quan tâm duy nhất là Yến Tử và lão khất cái.
Tôi hạ quyết tâm, chỉ cần tìm được tung tích Yến Tử và lão sư tổ, tôi sẽ lập tức cao chạy xa bay. Lão Đồng muốn lợi dụng tôi trộm mũ đồng cho lão, đâu có biết tôi cũng đang lợi dụng lão. Mũ đồng thì liên quan gì đến tôi chứ?
Còn về viên kim cương lớn, tôi tin chắc lão Đồng chỉ bốc phét, lão lấy tư cách gì mà giúp tôi tìm được nó? Chỉ cần tìm thấy Yến Tử và lão sư tổ, lo gì không tìm được kim cương.
Tôi thầm đắc ý: Lão Đồng cứ ngỡ tôi đần, thực ra tôi chẳng đần chút nào, đây gọi là đại trí nhược ngu, thủ ngu tàng chuyết mà thôi.
Cả đêm không ngủ khiến tôi mệt lử, nhanh chóng chìm vào giấc nồng giữa tiếng lầm bầm của lão Đồng.
Trời sập tối, tôi lại lẻn ra ngoài. Lần này tôi không đi lối cũ vì quá nguy hiểm. Tôi tìm lại cây liềm giấu trong bụi cỏ từ tờ mờ sáng, chọn một đoạn tường vắng vẻ khoét hốc rồi thoát ra.
Tại nơi chia tay lúc rạng sáng, tôi gặp lại Nguyên Mộc. Đó là một con đường nhỏ, cạnh đường có một gian nhà gỗ bỏ hoang, chúng tôi chui tọt vào trong.
Nguyên Mộc rút ra một xấp tiền giấy, bảo đó là tiền bán trang sức. Gã định đưa cho tôi, nhưng tôi bảo:
"Gã cứ giữ lấy, khi nào cần tôi sẽ hỏi."
Tôi nóng lòng hỏi tiếp:
"Có tin tức gì về vợ và sư tổ tôi chưa?"
Nguyên Mộc nói:
"Ở Xích Phong có một nhà lao nữ, trong đó chỉ giam chừng bảy tám người, có một người là đồng môn của chúng ta. Trưa nay tôi đi thăm nuôi, hỏi thăm xem mấy ngày qua có người đàn bà lạ nào mới vào không. Cô ta bảo, mấy ngày trước có một nữ nhân cao ráo, xinh đẹp được đưa vào, nhưng chỉ ở đúng một ngày đã vượt ngục trốn mất. Giọng nói của cô ta thuộc vùng Sơn Tây, liệu có phải là chị dâu không?"
Tôi mừng rỡ:
"Nghe mô tả thì đúng là nàng rồi. Nhưng nàng làm cách nào mà thoát ra được?"
Nguyên Mộc đáp:
"Nàng lợi dụng lúc thả gió ban ngày để vượt tường. Người đồng môn của tôi kể rằng chị dâu thân thủ cực kỳ phi phàm, bức tường nhà vệ sinh cao một trượng mà nàng nhún người một cái là lên tới đỉnh, sau đó dùng quần áo xé ra bện thành dây, treo lên cành cây rồi đu người như chơi xích đu mà vọt ra ngoài. Đến khi cai ngục phát hiện thì nàng đã biến mất tăm tích."
Lòng tôi nhẹ nhõm hẳn. Người đó chắc chắn là Yến Tử, từ thân thủ, giọng nói đến vóc dáng đều không thể sai lệch. Nhưng sau khi thoát khỏi lao nữ, nàng đã đi đâu?
Tôi chợt nhớ lại một đêm nọ, có bóng người thoáng qua ngoài ngục nam khiến lính canh nổ súng, bóng người đó là ai? Phải chăng chính là Yến Tử?
Tôi tin chắc Yến Tử vẫn đang ở Xích Phong, nàng tuyệt đối không đi xa vì biết tôi còn đang bị giam cầm.
Tôi hỏi tiếp:
"Còn tung tích sư tổ lão khất cái thì sao?"
Nguyên Mộc đáp:
"Nghe mấy anh em trong Cái bang địa phương kể lại, năm kia ở Xích Phong có một lão khất cái ghé qua, dáng vẻ y hệt người anh kể, chân thọt một bên nhưng thân thủ nhanh nhẹn, chạy nhảy như bay. Bang chủ Cái bang đích thân nghênh tiếp lão tại tửu lầu sang trọng nhất Xích Phong. Theo quy củ của Cái bang, chỉ khi có Bang chủ phương khác tới, Bang chủ sở tại mới ra mặt tiếp đón. Thế nên tôi đoán lão khất cái chắc hẳn là Bang chủ Cái bang vùng nào đó."
Tôi hỏi:
"Vùng nào?"
Nguyên Mộc nói:
"Chuyện đã lâu, anh em trong bang cũng quên mất rồi, mà Bang chủ năm ngoái lại gặp nạn qua đời. Thảo nguyên này mênh mông bát ngát, từ Đông sang Tây dài tới mấy ngàn dặm. Để tôi dò hỏi thêm cho anh."
Chợt, từ đằng xa vang lên một tiếng huýt sáo xé tan màn đêm tĩnh mịch, thanh âm sắc lạnh và vang vọng lạ thường. Biết đó là tín hiệu liên lạc của các bang phái giang hồ, tôi vội kéo Nguyên Mộc rời khỏi nhà gỗ, nép mình vào bụi cỏ rậm rạp phía sau.
Đám cỏ cao lút đầu, chúng tôi nằm rạp xuống đất, toàn thân được che phủ hoàn toàn trong bóng tối.

 

(Tổng: 5050 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0