Tổ Bịp

  • 6683 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 65: Ngựa là cơm áo của Tiêu sư
Nửa đêm về sau, Quang Đầu lại sắp xếp đổi ca gác, thay cho tôi và Mắt Hí.
Khi tôi quay về phòng chuẩn bị ngủ, Báo Tử vẫn chưa trở lại. Nghĩ lại mọi chuyện mấy hôm nay, tôi chẳng còn thấy buồn ngủ. Tiêu sư là người hộ tống tiêu, còn bọn hưởng mã chuyên đi cướp tiêu. Hai bên vốn là kẻ thù không đội trời chung. Thế mà tại sao Quang Đầu lại không cho chúng tôi làm khó hưởng mã? Cả hưởng mã phía đông lẫn phía tây đều nhắm vào chuyến tiêu này, vậy rốt cuộc trong số hàng hóa kia đang giấu thứ gì? Nếu quả thật có bí mật bên trong, tại sao Quang Đầu lại giấu chúng tôi, không chịu nói rõ?
Tôi càng nghĩ càng thấy Quang Đầu đáng ngờ. Nếu liều lĩnh đoán thêm một bước, rất có thể ông ta chính là nội gián mà hưởng mã cài vào trong tiêu cục. Chỉ có điều, tôi không biết ông thuộc phe nào. Bề ngoài, ông là nhị đương gia của tiêu cục, phụ trách tuyến đường phía tây; nhưng thực chất, ông và hưởng mã lại chung một giuộc.
Nghĩ đến đây, tôi lập tức tỉnh hẳn ngủ. Tôi phải đợi Báo Tử về, nói hết mọi chuyện với chú ấy, kẻo Quang Đầu lừa chúng tôi rơi vào bẫy. Tốt nhất là đêm nay chúng tôi rời đi ngay.
Ánh trăng rọi qua ô cửa sổ trên mái, chiếu lên người tôi. Cửa phòng mở ra, Báo Tử bước vào, thấy tôi vẫn thức, liền hỏi: “Sao còn chưa ngủ?”
Tôi đáp: “Cháu ngủ không được, thấy trong chuyện này hình như có âm mưu gì đó.”
Báo Tử nói: “Nói nghe xem nào.”
Tôi hạ giọng, kể cho Báo Tử nghe hết mọi nghi ngờ và suy đoán của mình, vừa nói vừa liếc ra cửa, sợ ngoài kia có người nghe lén.
Báo Tử cười, bảo: “Ngai Cẩu đã khôn lớn thật rồi, suy nghĩ cũng chín chắn hơn trước”
Tôi ngượng ngùng nói: “Không hiểu sao, từ sau khi sư tổ và Yến Tử chết, cháu bỗng như trưởng thành, suy nghĩ thấu đáo hơn nhiều chuyện.
Báo Tử gật đầu: “Nghĩ được thế là tốt. Nhưng mọi việc không như cháu tưởng đâu.”
Tôi hỏi: “Vậy là thế nào?”
Báo Tử nói: “Tiêu sư hộ tiêu, hưởng mã cướp tiêu, nhìn bề ngoài tưởng là kẻ thù, nhưng thật ra họ là bạn.”
Tôi ngẩn người, gãi gãi đầu: “Bạn? Sao lại là bạn được?”
Báo Tử khẽ cười: “Cháu nghĩ mà xem, nếu không có hưởng mã, ai cần đến Tiêu sư nữa? Thế nên, hưởng mã chính là cơm áo của Tiêu sư. Tiêu sư không thể đắc tội với hưởng mã, mà hưởng mã cũng sẽ chẳng làm khó Tiêu sư.”
Tôi ngẫm kỹ, thấy đúng là có lý. Hưởng mã và Tiêu sư nương tựa vào nhau, vừa khắc vừa sinh, vừa thù vừa bạn. Tôi chợt nhớ lại cái lần tôi và Yến Tử gặp gỡ hai người ăn mày trên thảo nguyên, họ từng nói về quan hệ giữa sói và thợ săn nơi đồng cỏ. Nếu không có sói, sẽ chẳng có thợ săn; đàn cừu khi ấy sẽ thoái hóa, bệnh tật lan tràn khắp nơi. Mà nếu không có thợ săn, bầy sói sẽ hoành hành, đàn cừu sẽ tuyệt diệt. Sói, thợ săn và cừu, cũng như hưởng mã, Tiêu sư và hàng hóa vậy. Sói chỉ bắt những con cừu già yếu, bệnh tật, để giữ cho đàn cừu khỏe mạnh; Hưởng Mã cũng vậy, chúng có cướp bóc, nhưng chẳng bao giờ ra tay đến mức khiến người ta sợ hãi tột cùng, để rồi đường sá hoang vắng chẳng ai dám qua lại. Bởi đến lúc đó, hưởng mã cũng chẳng còn miếng ăn, chỉ có thể chết đói mà thôi.
Báo Tử nói tiếp: “Cho nên, khi Tiêu sư gặp hưởng mã, nếu không đến bước đường cùng, tuyệt đối sẽ không ra tay giết người. Một khi có mạng người đổ xuống, hưởng mã nào chịu để yên? Tiêu sư thì vẫn phải qua lại trên con đường ấy, mà hưởng mã thì bám theo từng dặm, sớm muộn gì cũng bị chúng tóm được. Hơn nữa, Tiêu sư phân tán khắp nơi, phải bảo vệ hàng hóa nên hành động chậm chạp; còn hưởng mã thì nhanh như gió, tụ tập chỉ trong chốc lát, Tiêu sư làm sao chống lại nổi.”
Tôi nhớ tới hôm bố trí phục kích bọn hưởng mã ở khe “Nhất Tuyến Thiên” cùng Mắt Híp, tim chợt thót lại. Không biết mấy tên tai mắt của hưởng mã có bị đá đè chết không. Nếu thật sự chết rồi, chuyến đường này ắt sẽ sinh lắm rắc rối.
Tôi hỏi Báo Tử: “Mấy tên tai mắt đó đã bị cháu ném đá chết, phải làm sao bây giờ?”
Báo Tử nói: “Yên tâm, chúng nó còn sống cả, không chết tên nào đâu.”
Tôi ngạc nhiên: “Chú biết à?”
Báo Tử đáp: “Quang Đầu sai thằng Đẹn phục kích ở phía sau, đếm kỹ số người theo dõi. Bọn chúng vẫn bám theo đoàn, nhưng không thấy con chim kia đâu, chắc nó đã bay đi trước báo tin rồi.”
Tôi lại hỏi: “Vậy đám hưởng mã này là ai?”
Báo Tử nói: “Chắc là bọn từng ba lần cướp tiêu của chúng ta. Nếu đúng là bọn chúng, thì lần này có lẽ đã chờ sẵn ở Hạ Gia Nham rồi.”
Tôi hỏi: “Tại sao đám hưởng mã đó cứ năm lần bảy lượt làm khó chúng ta? Quang Đầu hay người nào trong tiêu cục từng đắc tội với chúng sao?”
Báo Tử nói: “Không rõ nguyên do. Chú từng hỏi Quang Đầu, ông ấy bảo tiêu cục đi đường này bao năm nay đều yên ổn, chưa từng động đến một sợi tóc của bọn chúng.”
Tôi nói: “Kỳ lạ thật. Đêm nay lại xuất hiện thêm một nhóm hưởng mã khác, chẳng hiểu từ đâu ra nữa.”
Báo Tử lắc đầu: “Chú cũng không rõ.”
Tôi nói: “Đám tai mắt ở huyện Định Viễn nói giọng Thiểm–Cam, còn hưởng mã đêm nay lại nói giọng Kinh–Tấn, chắc chắn không phải cùng một bọn.”
Báo Tử gật đầu: “Đúng thế.”
Tôi lại hỏi: “Rốt cuộc trong đoàn vận tiêu giấu thứ gì mà hai phe đều dòm ngó?”
Báo Tử nhìn tôi, nở nụ cười tán thưởng: “Ngai Cẩu càng ngày càng khôn ngoan, biết suy luận rồi đấy. Nói tiếp xem nào.”
Tôi nói: “Đám hưởng mã tối nay chắc là đã bám theo chúng ta từ Trương Gia Khẩu tới đây. Từ đó đến Ngân Xuyên hơn ngàn dặm đường. Đoàn lạc đà chở toàn trà và muối, chúng nó chẳng ham mấy thứ đó đâu. Rõ ràng là chúng nó biết trong đoàn vận tiêu có bí mật. Vì vậy, cháu dám chắc Quang Đầu đang giấu chúng ta điều gì đó.”
Báo Tử trầm giọng: “Đúng vậy. Trong đoàn, ngoài trà và muối, còn có một tờ ngân phiếu mười vạn đồng bạc. Ngoài Quang Đầu và chú, cháu là người thứ ba biết chuyện này. Phải giữ kín đấy.”
Tôi há hốc miệng, kinh ngạc thốt: “Mười vạn đồng bạc!”
Đó là một số tiền khổng lồ. Thời ấy, lương tháng của một viên cảnh sát chỉ mười đồng; một cân lúa mạch năm xu, một cân thịt lợn hai hào. Mười vạn đồng chẳng khác gì một viên cảnh sát phải làm việc cả ngàn năm! Mười vạn đồng bạc… bảo sao đám hưởng mã vùng Kinh–Tấn lại bám riết như chó săn.
Nhưng chuyện này lại càng kỳ lạ. Tờ ngân phiếu mười vạn ấy vốn là bí mật, trong cả đoàn chỉ có Quang Đầu với Báo Tử biết, vậy mà bọn Hưởng Mã ở vùng Kinh–Tấn lại đánh hơi được, thật khó hiểu.
Tôi hỏi Báo Tử, chú cũng lắc đầu, nói không hiểu nổi.
Tôi lại hỏi: “Mười vạn bạc lớn như thế, là của ai gửi chúng ta hộ tống vậy?”
Báo Tử đáp: “Một viên quan đã từ nhiệm về quê.”
Vừa nghe nói đến chữ “quan”, tôi liền tỉnh cả người, hỏi ngay:
“Thế là tiền tham ô à? Quang Đầu thiếu suy xét quá, sao còn định giữ cả tiền phi pháp nữa chứ?”
Báo Tử nói: “Thực ra, Tiêu sư với thầy thuốc cũng giống nhau cả thôi. Thầy thuốc chỉ lo chữa bệnh, chẳng hỏi bệnh từ đâu mà ra; Tiêu sư thì chỉ lo vận chuyển hàng, không cần biết hàng hóa có nguồn gốc thế nào. Đó là quy củ trong nghề tiêu cục.”
Tôi ghé sát lại, khẽ nói với Báo Tử: “Bây giờ đã có hai nhóm hưởng mã dòm ngó chúng ta, phía trước không biết còn bao nhiêu nữa. Ba chuyến tiêu trước đều thất bại, lần này e rằng cũng chẳng yên. Hay là thế này, chúng ta lấy tờ ngân phiếu mười vạn bạc đó, bỏ đi biệt xứ. Dù sao đó cũng là tiền bẩn, là của tham ô bòn rút mà ra. Cướp lấy của gian, giúp đời, chẳng phải việc tốt hay sao?”
Báo Tử sầm mặt lại, nổi giận: “Nói bậy bạ gì thế! Quang Đầu là ân nhân cứu mạng của chúng ta, giờ người ta gặp nạn, mình phải giúp đỡ, sao lại nhân cơ hội mà hại người? Nếu chúng ta ôm tiền chạy, Quang Đầu biết trông cậy vào ai? Còn vợ con, gia quyến của ông ấy thì sao? Cháu dám nói mấy lời đó trước mặt người khác, coi chừng rước họa vào thân đấy.”
Tôi im lặng, nằm ngửa trên kháng, nhìn lên cửa sổ áp mái. Báo Tử đúng là một hảo hán, trọng nghĩa khí, coi bạn bè như ruột thịt, dám sống chết vì người khác. Nhưng so với Tam sư thúc, tôi vẫn thấy quý Tam sư thúc hơn. Nếu tối nay người ở đây là Tam sư thúc, hẳn ông sẽ đồng ý với kế hoạch của tôi. Nếu là sư phụ Lăng Quang Tổ hay Nhị sư thúc, có lẽ họ cũng đồng ý. Còn nếu là Yến Tử, liệu cô ấy có nghe theo không? Tôi đoán chẳng nổi. Yến Tử ghét ác như thù, chắc sẽ đồng ý thôi; nhưng cô ấy vốn trọng tình nghĩa, cũng không nỡ để Quang Đầu chịu khổ sở.
Mười vạn đồng bạc… thật là một món tiền khổng lồ. Nếu giao thuận lợi đến tay tên quan tham kia, chẳng phải là quá dễ dàng cho hắn sao? Vậy thì còn mặt mũi nào nhìn dân chúng bị áp bức? Làm việc cho kẻ tham ô, khác nào quay lưng với người nghèo khổ. Nhưng để hưởng mã cướp được thì cũng chẳng ổn, vì như thế Quang Đầu sẽ bị xử phạt, mà hưởng mã lại vớ bẫm.
Phải làm sao bây giờ?
Tảng sáng, tôi vừa chợp mắt được một lát thì ngoài cửa sổ gió mưa đã ào ạt nổi lên. Tôi biết Báo Tử đã dậy đi rồi, cũng định theo ra, nhưng mệt quá, đành nằm một chỗ.
Mưa gió dữ dội thế này, chắc hưởng mã sắp có động tĩnh, nên Báo Tử và Quang Đầu mới vội vàng bố trí canh phòng.
Khi tôi tỉnh dậy, trời đã quá trưa. Mưa vẫn chưa dứt. Nghe nói lúc tờ mờ sáng, quả thật có hưởng mã mò tới thăm dò, nhưng thấy trong sân canh gác nghiêm ngặt nên đã rút lui.
Tôi ra sân thì gặp Mắt Híp. Anh ấy mặc bộ đồ bó sát, khí thế hừng hực, có vẻ tiếc vì sáng nay không được đánh một trận sướng tay. Mắt Híp giỏi võ nghệ, lại ham đánh lộn, tôi nghĩ, nếu đồ đệ mà đã như vậy thì chắc sư phụ Quang Đầu của anh ấy còn giỏi hơn nữa. Chỉ là không biết so với Báo Tử thì tài nghệ của ai cao hơn.
Trời mưa lớn, chẳng thể đi đâu, tôi liền nảy ra ý muốn thử xem giữa hai người họ ai giỏi hơn. Tôi hỏi Mắt Híp:
“Giữa sư phụ anh và chú Báo Tử, ai giỏi võ hơn?”
Mắt Híp nói ngay: “Tất nhiên là sư phụ rồi.”
Tôi hỏi: “Anh dựa vào đâu mà dám chắc như thế?”
Mắt Híp nói: “Sư phụ là nhị đương gia của tiêu cục, địa vị cao hơn, dĩ nhiên võ công cũng cao hơn.”
Tôi cười: “Tôi thấy chú Báo Tử vẫn lợi hại hơn.”
Mắt Híp cãi: “Sư phụ mạnh hơn.”
Tôi nói: “Chú Báo Tử mạnh hơn.”
Đúng lúc ấy, anh Đẹn thấy hai chúng tôi cãi nhau đỏ mặt tía tai, bèn chạy tới hỏi nguyên do. Nghe xong thì cười ha hả nói: “Có gì đâu mà phải cãi nhau! Nói hai người họ tỷ thí một trận chẳng phải sẽ biết ngay sao?”
Tôi hỏi: “Tỷ thí ở đâu?”
Anh Đẹn đáp: “Ngay sân phơi lúa đầu làng, rộng rãi thoáng đãng, chỗ đó là tuyệt nhất.”
Tôi nói: “Nhưng mưa to thế này, sân phơi lúa toàn là bùn đất nhão nhoét, tỷ thí thế nào được?”
Anh Đẹn nói: “Cậu em cũng con nhà nông mà nói vậy à? Sân phơi lúa cứng như đá, mưa thế này thì thấm vào đâu!”
Tôi bảo: “Thế thì dẫn em đi xem thử.”
Anh Đẹn nói: “Đi, tôi dẫn cậu đi.”
Anh Đẹn đi trước, tôi và Mắt Híp theo sau. Cả ba rời khỏi đại viện, men theo con đường nhỏ tiến về phía trước, chẳng mấy chốc đã tới giữa làng. Ở đó có một lớp học, thầy giáo đang dạy học trò đọc bài thơ Đường nổi tiếng Phùng tuyết túc Phù Dung sơn chủ nhân, bài thơ này tôi từng học trong trường tư thục thuở nhỏ.
Thầy giáo là một ông lão giọng đã run run, cầm sách đọc lớn:
“Các trò đọc theo ta nhé. Nhựt nhựt nhựt… Nhựt mộ thương sơn dziễn, thiên hàn bạch ốc bần.”
Một loạt giọng trẻ con trong trẻo vang lên, ê a lộn xộn:
“Nhựt nhựt nhựt... Nhựt mộ thương sơn dziễn, thiên hàn bạch ốc bần!”
Ông thầy cau mày, dặn: “Các trò đọc sai rồi. Thầy có đọc ‘nhựt nhựt nhựt’ mấy lần cũng mặc thầy, các trò chỉ được ‘nhựt’ một lần thôi.”
Rồi lại đọc: “Nhựt mộ thương sơn viễn, thiên hàn bạch ốc bần.”
Học trò đồng thanh lặp lại: “Nhựt mộ thương sơn dziễn, thiên hàn bạch ốc bần.”
Chúng tôi đứng ngoài nghe mà ôm bụng cười.
Anh Đẹn nói: “Ông thầy này đã ‘nhựt’ cả buổi, mà tôi chẳng biết rốt cuộc ông định ‘nhựt’ ai nữa.”
Tôi nói: “Đây là bài thơ nổi tiếng đời Đường, tả cảnh một người đi trong đêm tuyết, trú nhờ nhà dân nơi núi Phù Dung. Thơ rất đẹp, như bức tranh vậy. Câu ‘nhật mộ thương sơn viễn’ nghĩa là khi trời chiều xuống, nhìn dãy núi xa càng thêm thăm thẳm.”
Anh Đẹn trêu: “Ngai Cẩu còn là tú tài cơ đấy. Trông bình thường như củ cải trộn ớt, vậy mà không nhìn ra. 
Mắt Híp chen vào: “Đừng xem thường Ngai Cẩu. Bụng chú ấy là một bồ chữ nghĩa thâm sâu đấy. Nếu không bị Lão Tra bán đi, giờ chắc Ngai Cẩu đã là đại thiếu gia rồi.”
Anh Đẹn ngạc nhiên: “Chú em bị Lão Tra bán à?”
Tôi gật đầu.
Anh Đẹn nghiến răng: “Lão Tra đáng chết! Bao giờ gặp mấy tên đó, phải róc xương lột da cho hả giận.”
Tôi nói: “Cả đời em phiêu bạt giang hồ, người đủ loại đều từng gặp, chỉ riêng loại như Lão Tra là em hận nhất. Rồi sẽ có ngày, em quay về quê, xẻo thịt từng đứa một mới hả dạ.
Anh Đẹn và Mắt Híp cùng nói: “Lão Tra chuyên làm những chuyện tán tận lương tâm, chẳng khác nào bọn thái sinh chiết cát.”
Tôi kinh ngạc hỏi: “Các anh cũng biết ‘thái sinh chiết cát’ à?”
Mắt Híp đáp: “Tất nhiên. Trên đường vận tiêu, chỉ cần vào huyện thành lớn là thấy ngay. Tội nghiệp nhất vẫn là mấy đứa nhỏ. Cha mẹ chúng đâu biết con mình bị hành hạ đến thế, vẫn đi khắp nơi tìm kiếm.”
Anh Đẹn nói: “Lần đầu anh đi áp tiêu, đến Ngân Xuyên, tận mắt thấy một đứa bé cụt chân ngồi ăn xin ven đường. Nó ôm chặt lấy chân một người đàn bà, nước mắt ròng ròng mà không nói nổi một lời. Người đàn bà sợ quá hét toáng lên, dân tình kéo đến xem đông nghẹt. Ai cũng quát nó buông ra, nhưng nó chỉ khóc, không nói gì, cứ bám thật chặt. Sau có hai gã đàn ông đến, cạy từng ngón tay nó ra, rồi khiêng đi. Hai tháng sau, anh quay lại Ngân Xuyên, nghe nói đứa bé đó đã bị giết. Hóa ra nó chính là con của người đàn bà hôm ấy. Từ nhỏ đã bị Cái Bang bắt cóc, chặt chân, cắt lưỡi, ép đi ăn xin. Hôm đó, nó nhận ra mẹ, nhưng người mẹ lại không nhận ra con, vì chẳng ai ngờ nổi con mình bị biến thành như vậy. Nó chỉ biết ôm chặt lấy chân mẹ, còn người mẹ thì sợ hãi la lên rồi quay người bỏ chạy.”
Tôi nghe mà toàn thân lạnh toát, tim đau như cắt. Bôn ba giang hồ bao năm, chưa từng thấy chuyện nào tàn nhẫn hơn thái sinh chiết cát. Nhiều năm sau, tôi mới xem một bộ phim Hollywood tên là Triệu phú khu ổ chuột, trong đó cũng có cảnh tương tự.
Chúng tôi đi được một đoạn, mưa đã nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn lất phất. Nhưng trời như vậy vẫn không thể lên đường. Ở vùng Tây Bắc, đường nhựa hiếm lắm, khá lắm thì cũng chỉ là đường trộn xỉ than, còn lại toàn là đường đất. Sau trận mưa lớn, đất mềm nhão như bùn, lạc đà chở hàng nặng, chân lại dài và nhỏ, mỗi bước đều lún sâu, kéo mãi mà không rút lên nổi. Vì vậy, muốn vận tiêu, chỉ đành đợi cho đường khô ráo mới có thể tiếp tục hành trình.
Chúng tôi đến sân phơi lúa thì thấy cả sân vẫn ướt sũng, có vài chỗ còn đọng nước. Theo tập tục miền Bắc, khi lúa đã vào kho, sân phơi lúa ít khi dùng. Lúc này, nông dân sẽ dùng cào sắt cào lại toàn bộ sân lúa, sau đó lấy trục lúa lăn cho thật phẳng, thật chắc để dành cho vụ mùa năm sau. Thế nhưng, hiện giờ sân lúa đang ngập nước, có lẽ người nông dân vừa mới cào xong thì trời đổ mưa lớn, chưa kịp lăn cho nền đất cứng lại.
Không khí sau cơn mưa thật trong lành, phảng phất một mùi hương dịu nhẹ, thanh thoát. Những dãy núi xa xa hay lùm cây ven đường, vì vừa được tắm gội bằng nước mưa, nên trông sáng sủa và rõ nét hơn hẳn. Vài con chim chao lượn trên không, đuổi bắt nhau, rắc xuống mặt đất những tiếng kêu lanh lảnh, vui tai. Chúng tôi cứ thế men theo con đường ướt mưa mà bước, bỗng thấy bên vệ đường có một người mặc áo dài, đeo kính, đang lững thững đi lại. Hai tay anh ta chắp sau lưng, gương mặt toát lên vẻ thư sinh, có phần cổ thủ. 
Anh Đẹn hỏi: “Đại ca ơi, phía trước con đường này có gì vui không?”
Thư sinh đáp: “Cách xưng hô đã sai mà lời nói cũng chẳng đúng. Ngươi chưa hỏi tuổi ta, ta cũng chưa hỏi tuổi ngươi, sao biết ta là đại ca của ngươi? Đáng ra phải gọi là khách quan mới phải. Con đường này dẫn ra bờ sông, nơi có cá chép tung tăng, liễu rủ như khói. Trong mắt ta là cảnh đẹp, nhưng trong mắt ngươi chưa chắc là cảnh đẹp. Cái hay ho của ngươi chưa hẳn là cái hay ho của ta, cái hay ho của ta cũng chẳng phải cái hay ho của ngươi. Vậy nên, khách quan nên hỏi: phía trước có cảnh vật gì mới đúng.”
Gã thư sinh này đúng là hủ lậu đến mức khiến người ta ê cả răng. Phía trước có gì vui thì cứ nói thẳng ra chẳng phải là xong sao? Ấy vậy mà hắn nói một tràng dài dằng dặc, gom lại cũng chỉ có đúng một ý: phía trước có một con sông.
Anh Đẹn và Mắt Híp nhìn nhau. Cả hai đều cười nhạo cái dáng nghèo hèn cổ hủ của gã thư sinh ấy. Trên đời lại có kẻ vừa rườm rà vừa bảo thủ đến thế!
Thư sinh vốn nhạy cảm, thấy vẻ mặt hai người họ, hắn biết mình bị châm chọc, nhưng vẫn nghiêm trang nói: “Người biết kính người, người khác ắt sẽ kính lại; kẻ khinh người, người khác cũng khinh lại. Trời sinh muôn vật, vật nào cũng khác; người chia muôn loại, loại nào cũng riêng. Nhưng có lòng kính người và lòng bao dung thì người khác cũng kính trọng mình.” 
Anh Đẹn và Mắt Híp nghe gã thư sinh vẫn cứ ‘chi hồ giả dã’ nói đạo lý, thì cười khùng khục.
Tôi nói với gã thư sinh: “Hồi tôi học ở trường tư thục, thầy giáo có kể một ví dụ thế này: Ngày xưa có một thư sinh đi buôn xa, vợ gửi thư hỏi chừng nào chàng về. Anh ta dự định tháng sau sẽ trở về, bèn cầm bút viết: ‘Ta về nhà, không phải mồng một thì là mồng hai; không phải mồng hai thì là mồng ba; không phải mồng ba thì là mồng bốn…’ Cứ thế viết mãi, đến ‘không phải hai mươi bảy thì là hai mươi tám; không phải hai mươi tám thì là hai mươi chín’. Rồi dừng lại, không viết ba mươi nữa. Vì tháng ấy là tháng thiếu, không có ngày ba mươi, để khỏi dài dòng, nên mới bỏ đi.”
Anh Đẹn và Mắt Híp nghe xong thì ôm bụng cười lăn cười bò, không đứng dậy nổi.
Gã thư sinh lại chẳng cười, nét mặt nghiêm nghị nói:
“Viết thế đúng là rườm rà quá. Sau câu ‘không phải hai mươi tám thì là hai mươi chín’, lẽ ra phải viết gọn như sau:
‘Tháng sau là tháng thiếu, ta sẽ về trong một ngày nào đó trước ngày hai mươi chín.’ Cuối thư nên thêm một dòng:
‘Thấy thư như thấy người, xin an tâm chờ ngày đoàn tụ.’”
Nghe đến đây, ngay cả tôi không nhịn được cười.
Chúng tôi đi ngang qua gã thư sinh, tiếp tục tiến bước. Hắn vẫn chắp tay sau lưng, ngẩng cao đầu, dáng vẻ oai vệ, trên mặt đầy vẻ tự phụ, cứ như thể mình là Lý Bạch thích ngâm thơ uống rượu, hay là Tô Đông Pha phóng khoáng, hoặc cũng có khi là Đường Bá Hổ thích trêu hoa ghẹo nguyệt. Những người như vậy, mãi mãi sống trong thế giới tưởng tượng của mình, thực ra cũng khá là hạnh phúc.
Quả nhiên, phía trước có một con suối nhỏ. Chúng tôi men theo bờ nước mà đi, gió nhẹ thổi qua mặt, mưa bụi vương trên áo, tiếng chim líu lo bên tai khiến lòng người bỗng chốc bình yên lạ thường. Cả ba vừa đi vừa nói cười, dường như quên mất rằng mình vẫn đang lang bạt giữa chốn giang hồ đầy hiểm nguy.
Đi một quãng khá xa, ai nấy đều thấy đói bụng. Nhưng trước mặt chỉ là đường dài hun hút, chẳng thấy bóng làng mạc, cũng không có nơi nào ăn uống, chúng tôi đành quay lại.
Vừa đến bên bờ suối, bỗng thấy phía trước có một đám người, tiếng cãi vã ầm ĩ. Chúng tôi bước tới gần, chỉ thấy mấy kẻ đang xúm quanh thư sinh nghèo, vừa xô đẩy vừa đánh đập hắn. Thư sinh ôm chặt cặp kính, miệng kêu rên khổ sở chẳng khác gì con chó bị thương.
Ba chúng tôi vội vàng chạy đến, tôi lao lên trước, hỏi:
“Có chuyện gì vậy? Sao lại đánh người?”
Một gã để ria mép trừng mắt quát: “Mày là ai?”
Tôi chỉ vào thư sinh, nói: “Tôi là bạn của anh ấy.”
Gã để ria mép nói: “Đến đúng lúc lắm, tôi cầm thuốc về cho mẹ chữa bệnh, đây là thứ linh đan mua từ tỉnh tốn một trăm đồng, mẹ tôi uống vào sẽ sống lại. Nhưng đường rộng thế kia, vậy mà cái tên thư sinh xấu xa mặt mũi gian xảo này lại va vào tôi, làm đổ thuốc ra đất, ngâm cả vào nước. Hắn phải bồi thường cho tôi một trăm đồng"
Gã thư sinh van vỉ: “Tôi không va vào hắn, chính hắn va vào tôi.” Gã quýnh quáng, quên cả nói kiểu nói chi hồ giả dã, chuyển hẳn sang kiểu nói bình thường như chúng tôi.
Tôi nhìn xuống đất, thấy trên mặt đường có một lớp bột phấn, không rõ là thứ gì. Nhưng tôi biết rõ, gã thư sinh hôm nay gặp phải mấy tên giang hồ. Nói chính xác, là hạng cặn bã trong giang hồ, một đám sái tinh. “Sái tinh” là ám ngữ giang hồ, nghĩa là giả mạo để lừa người. Lớp bột phấn trên đất là giả; việc chữa bệnh cho mẹ gã cũng là giả.
Tôi định nói vài câu ám ngữ để cho bọn họ biết chúng tôi cũng là người trong giới, nể mặt nhau mà thả gã thư sinh đi. Nhưng tôi còn chưa kịp mở miệng thì Mắt Híp đã xông tới, chửi luôn: “Đền cái con mẹ mày đấy, muốn tiền thì tới hỏi tao”
Bọn kia nghe vậy thì lộ ra ngay bộ mặt dữ tợn. Có tên bước sấn tới dí sát Mắt Híp, có tên khoanh tay đứng chực bên cạnh. Mắt Híp giật phắt áo, ném cho tôi, nheo mắt nhìn cả bọn, giọng khinh khỉnh: “Đến đây nào, mấy thằng cặn bã. Mấy hôm nay tao ngứa ngáy tay chân, đang muốn vận động một chút đây.”
Mắt Híp và bọn sái tinh nhìn nhau gườm gườm, sát khí căng như dây đàn, chỉ cần một mồi lửa là bùng nổ. Một mình Mắt Híp đối đầu với năm người mà không tỏ ra sợ hãi. Anh Đẹn thì siết chặt nắm đấm, khí thế hừng hực, chỉ chờ Mắt Híp yếu thế sẽ xông lên tiếp ứng. Tôi tin hai tiêu sư ấy thừa sức đánh gục năm tên sái tinh kia. Nếu đến chuyện này mà Mắt Híp với anh Đẹn còn không lo nổi, thì sau này tốt nhất đừng làm nghề áp tiêu nữa.
Tôi cầm áo của Mắt Híp, đứng bên cạnh quan sát.
Không khí căng thẳng đến mức chỉ cần quẹt một que diêm là có thể bốc cháy. Không ai nói một lời, ánh mắt đều lóe lên sát ý. Đúng lúc ấy, gã thư sinh bỗng cất tiếng can ngăn. Hắn vừa vuốt lại mái tóc rối bời do trận đòn vừa rồi, vừa từ tốn nói:
“Bậc quân tử động khẩu chứ không động thủ, phải bày ra sự thật, phải nói rõ đạo lý, ấy mới là việc nên làm của quân tử. Khổng Tử cũng dạy: ‘Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì bản thân mình không muốn thì chớ làm cho người khác. Nếu ngươi không muốn bị người ta đánh, thì ngươi cũng chẳng được phép đánh người.”
Mắt Híp vẫn nhìn chằm chằm vào năm gã kia, chẳng thèm để tâm đến những lời của thư sinh.
Anh Đẹn thì nghe rõ lắm, hiểu rằng hắn đang can Mắt Híp không được đánh nhau, liền nổi khùng quát lớn:
“Con mẹ mày, câm miệng lại cho ông!”
Thư sinh chẳng chịu ngậm miệng, vẫn lải nhải không ngừng: “Khổng Tử dạy rằng: ‘Thận ngôn cẩn hành, mới là bậc quân tử’. Thận ngôn tức là không được nói lời thô tục bẩn thỉu làm tổn thương người khác; cẩn hành tức là không được hành xử thô lỗ, không được động chân động tay. Có lý lẽ thì đi khắp thiên hạ, không có lý lẽ thì đi nửa bước cũng khó. Ta đây có đầy đủ lý lẽ, đầy đủ căn cứ, nên mới có thể đứng vững ở thế bất bại.”
Gã thư sinh ấy không chỉ cổ hủ mà còn cố chấp. Hắn ghi nhớ từng lời dạy của Khổng Phu Tử, nhưng lại chẳng hề hiểu giang hồ hiểm ác đến mức nào. Hắn cứ muốn giảng đạo lý với mọi người, nào ngờ kẻ hắn gặp hôm nay là bọn giang hồ “sái tinh” chuyên nghề lừa lọc. Trong mắt bọn chúng, đạo lý chẳng đáng một xu. Đạo lý chỉ để nói với kẻ còn biết phải trái, chứ bọn ấy thì hiểu thế nào là lẽ phải đâu. Nói đạo lý với chúng, khác nào nước đổ lá khoai, uổng công vô ích mà thôi.
Trong khi gã thư sinh còn đang thao thao bất tuyệt, bên kia, Mắt Híp đã động thủ rồi.
Năm tên sái tinh lập tức tản ra, vây thành nửa vòng cung. Mắt Híp lao lên trước, ra đòn mở màn đánh thẳng vào tên đứng chính diện. Anh bước nhanh mấy bước, giả vờ tung một quyền. Tên kia giật mình giơ tay đỡ. Nào ngờ cú đấm chỉ là hư chiêu, thực chiêu lại ở chân. Mắt Híp xoay người tung cú “xuyên tâm cước”, bàn chân phóng thẳng vào mặt đối phương. Tên kia chỉ kịp hự một tiếng, thân hình đã đổ vật ngửa ra sau.
Mắt Híp từng bảo tôi, đánh nhau quan trọng nhất là nhanh, nhanh thì chiếm được tiên cơ. Kẻ địch chưa động tay thì ta chưa động tay; kẻ địch vừa có ý động tay, ta sẽ ra tay trước.
Mắt Híp suốt ngày chỉ nghĩ đến chuyện ục nhau, còn bọn “sái tinh” thì ngày ngày nghĩ cách lừa người. Ai nấy đều chuyên tâm một nghề, đã chuyên thì phải tinh. Như thế thì khi đối đầu, bọn sái tinh sao có thể là đối thủ của mắt Híp.
Ngay từ cú chạm đầu tiên, Mắt Híp đã hạ gục một tên. Bốn tên còn lại giật mình kinh hãi, không ngờ đối phương vừa nhanh vừa mạnh đến thế. Gã ria mép hét lớn:
“Cùng lên một lượt! Giết thằng nhãi này cho tao!”
Ba tên kia liền xông cả vào.
Gã thư sinh quay lưng lại, lấy hai tay bịt chặt tai, miệng lẩm nhẩm:
“Khổng Tử dạy rằng: phi lễ chớ nhìn, phi lễ chớ nghe. Những hành vi dã man thế này, tuyệt chẳng phải việc người quân tử nên làm.”
Mắt Híp dồn sức đối phó với bốn gã sái tinh, anh Đẹn thì đứng canh chừng, chỉ có gã thư sinh là chẳng biết nặng nhẹ, cứ đứng một bên mà lải nhải, miệng toàn nhai lại mấy câu giáo điều nguỵ biện của Nho gia, nghe như ruồi vo ve bên tai. Tôi bực quá, bước tới nắm hai tay gã kéo xuống ngang hông, rồi xoay người gã lại, nói: 
“Không được, mày phải nhìn. Không nhìn là không được đâu.”
Gã thư sinh đau đớn rên lên, trông chẳng khác nào bị người ta bẻ gãy lưng.
Bên kia, Mắt Híp một mình đấu bốn mà không rơi vào thế yếu. Anh ấy chỉ đông đánh tây, hư hư thực thực, thân pháp linh hoạt, ra vào nhanh như gió. Ai tới gần anh nhất, kẻ ấy ngã xuống trước. Quyền cước của Mắt Híp không chỉ nhanh mà còn chuẩn, trên mặt bốn gã sái tinh đều in vết bầm đỏ, sưng vù lên, còn mắt Híp thì chẳng hề xây xát gì.
Bốn tên kia thấy đánh không lại, liền đồng loạt lùi về sau, tay cùng đưa về thắt lưng, lần này trong tay mỗi đứa đều có thêm một con dao ngắn.
Anh Đẹn trông thấy bọn chúng rút dao, sợ Mắt Híp sẽ gặp nguy hiểm, liền cúi người chộp hai nắm bùn nhão, ném về phía tên có ria mép gần nhất. Nắm bùn đầu tiên trúng ngay lưng hắn. Hắn tức giận quay ngoắt lại, thì nắm bùn thứ hai của anh Đẹn đã bay tới, dính bệt vào miệng và mũi.
Tên ria mép nổi điên, quệt mạnh bùn trên mặt, gầm lên:
“Đồ vô lại! Ai đánh nhau mà dùng bùn ném thế hả?!”
Anh Đẹn cũng bắt chước giọng hắn hét lớn: “Đồ vô lại! Đánh nhau mà cũng chơi dao à?”
Mắt Híp nhanh trí, thấy Anh Đẹn chiếm được lợi thế, cũng cúi xuống vốc hai nắm bùn, ném thẳng vào mặt tên sái tinh phía trước. Tên này bị bùn che kín cả hai mắt, kêu ré lên, lom khom quờ quạng.
Trong bốn tên Sái tinh, hai tên đã bị bùn bịt kín mặt, hai tên còn lại đứng chôn chân tại chỗ, đánh cũng dở mà không đánh cũng dở. Nhân cơ hội đó, tôi thả gã thư sinh vừa ngu ngốc vừa cứng đầu kia ra, rồi chạy ra bờ sông bẻ một cành liễu.
Khi tôi quay lại chỗ thư sinh thì bên kia cuộc ẩu đả đã tiếp tục. Mắt Híp đấu với hai tên sái tinh, Anh Đẹn đấu với hai tên còn lại. Vì trong tay có dao, bọn sái tinh càng thêm liều lĩnh. Lại có một đứa, chắc dính đòn khá nặng của Mắt Híp, lúc này mới lồm cồm bò dậy, một tay xoa xoa khuôn mặt bê bết máu, tay kia rút một con dao giấu ở thắt lưng.
Tôi lao đến sau lưng hắn, vung cành liễu lên quật túi bụi xuống đầu. Hắn đã bị Mắt Híp đá một cú đau điếng, nay lại bị tôi quật cho một trận tơi bời, cành liễu vừa mềm vừa rậm, quất lên người phát ra tiếng vun vút, khiến hắn đau đến lăn lộn dưới đất, gào thét thảm thiết.
Cành liễu dài ngoằng, cành lá rậm rạp, quất lên người chẳng hề theo chiêu thức nào, nhưng so với con dao trong tay bọn sái tinh thì lợi hại hơn gấp bội.
Tôi cứ thế vung cành liễu loạn xạ, thấy tên nào là quật tên đó. Đám sái tinh tránh được quyền cước của Mắt Híp và Anh Đẹn nhưng không tránh được cành liễu của tôi; mà nếu tránh được tôi, cũng sẽ trúng ngay nắm đấm của họ.
Cuối cùng, năm gã sái tinh đồng loạt la lên: “Hôm nay đúng là xui xẻo, bay mất trăm đồng rồi!” Dứt câu, cả bọn quay đầu chạy tán loạn. Đuổi sạch được năm thằng, ai nấy đều hả hê. Chúng tôi cùng bước lại chỗ gã thư sinh, dùng tay lau bùn đất dính trên người. Chúng tôi thì mừng rỡ, còn gã thư sinh lại chẳng thấy vui. Hắn cau mày nói: “Đánh nhau, ẩu đả là việc của kẻ man di, tuyệt chẳng phải hành vi của bậc quân tử.”
Cả bọn vừa bực mình vừa buồn cười. Nếu không có chúng tôi tới kịp, hôm nay thư sinh đã bị đám sái tinh ấy lừa mất trăm đồng. Nếu hắn không có tiền, chắc đã bị đập tới sống dở chết dở. Chúng tôi cứu gã, vậy mà gã không biết ơn, còn bảo chúng tôi chẳng phải quân tử.
Nhìn bộ dạng thư sinh, tôi chợt nhớ tới Đường Tăng.
Mắt Híp chỉ tay vào thư sinh nói: “Loại người như mày đáng bị đám sái tinh kia đánh chết lắm.”
Gã thư sinh nói: “Cổ huấn dạy rằng: Người khác bất nhân, ta không thể bất nghĩa. Lấy đức báo oán, lấy lẽ phục người, đó mới là chính đạo trên đời.”
Anh Đẹn lập tức đáp: “Mày đi mà giảng cái chính đạo cho mấy thằng sái tinh kia nghe ấy, đừng có mà dạy đời chúng tao.”
Gã thư sinh nói: “Phật tổ xả thân nuôi hổ, cắt thịt nuôi chim ưng, thánh nhân chu du các nước, biết không thể làm mà vẫn làm, bậc hậu bối như chúng ta nên noi theo, mới có thể cứu giúp chính nghĩa.”
Loại người này giống như hòn đá kê chân trong nhà xí: vừa hôi vừa cứng, vừa nghèo vừa cổ hủ nhưng vẫn tưởng mình nắm giữ chân lý; có nói bao nhiêu cũng vô ích. Tôi chửi: “Cái đồ mọt sách chết tiệt, đáng ra mày phải bị đánh chết từ hồi nãy rồi.” 
Chúng tôi tức giận quay người bỏ đi, vừa bước được mấy bước thì gã thư sinh bỗng gọi giật lại phía sau:
“Chư vị khách quan, xin dừng bước.”
Cả bọn đồng loạt quay đầu. Mắt Híp hỏi:
“Mày còn muốn nói gì nữa?”
Thư sinh ra vẻ đắc ý, chắp tay sau lưng nói:
“Ta có một bài tứ tuyệt ngẫu hứng, kính tặng chư vị khách quan, mong các vị ghi nhớ trong lòng, mãi bước trên con đường chính đạo nhân gian.”
Tôi khom người, giả bộ cung kính:
“Thì ra là đại tài tử ẩn thân nơi đây, thất kính, thất kính! Đại tài tử thiên tư mẫn tiệp, xuất khẩu thành thơ, chúng tôi xin được cung kính rửa tai lắng nghe.”
Thư sinh lắc lư đầu, giọng ngân dài:
“Giữa trưa lê bước đường lầy. Gặp ba khách lạ, ghé dừng nơi đây. Vừa quen thoáng đã chia tay. 
Đến đây, y dừng lại cố nghĩ câu cuối mà chẳng ra. Nhìn cái vẻ bối rối, đỏ mặt tía tai của y, chúng tôi chỉ muốn phá lên cười, nhưng lại cố nhịn.
Thư sinh bỗng vỗ mạnh vào mông, kêu lên đầy phấn khích:
“Có rồi! Câu cuối là: ‘Lời ta gửi lại, nhớ cho kỹ vào!”
Ngâm xong, y thở phào một hơi, gương mặt giãn ra, toát lên vẻ khoan khoái tột độ, hệt như vừa xì ra một hơi rắm dài, chẳng phát ra tiếng nào.
Gã thư sinh hỏi chúng tôi: “Thế nào? Bài thơ ta vừa ứng khẩu thấy có được không?”
Tôi nói: “Xin thứ lỗi cho bọn phàm phu mắt kém, thật tình chẳng nhận ra rằng trước mắt đây chính là Lý Bạch tái thế, Đỗ Phủ trùng sinh. Bài thơ của tiên sinh, e rằng cả Lý Bạch lẫn Đỗ Phủ cũng đành cúi đầu chịu thua. Tôi lấy nhân cách của mình ra đảm bảo, không chỉ hai vị ấy, mà toàn bộ thi nhân đời Đường cũng chẳng ai viết nổi một bài như thế!”
Thư sinh phấn khích hỏi dồn: “Thật vậy sao? Thật vậy chứ?”
Tôi mỉm cười đáp: “Dĩ nhiên là thật rồi.”
Thư sinh ngẩng cao đầu, vẻ mặt đầy tự mãn và kiêu ngạo, nói: “Chỉ hận chẳng sinh vào đời Đường, để còn được cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ so tài cao thấp.”
Nghe y nói vậy, tôi vội kéo Mắt Híp và anh Đẹn rời đi. Đến khi rẽ qua một khúc quanh, thấy bóng thư sinh đã khuất khỏi tầm mắt, chúng tôi mới phá lên cười sảng khoái.

 

 

(Tổng: 6683 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0