Tổ Bịp
- 5412 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 83: Âm mưu lớn hơn
Mười ngày sau, tôi đặt chân đến Cáp Mật. Tuy nhiên, nơi này vẫn chưa phải đại bản doanh của Mạc Da giáo. Dân bản xứ kháo nhau rằng thánh điện của giáo phái này nằm tại một tòa thành nhỏ có tên là A Mỗ Đức Lặc.
Tôi men theo đường núi đi thêm một ngày nữa, dọc đường đâu đâu cũng thấy những dòng người đổ về thánh điện triều bái. Dọc đường đi đâu đâu cũng thấy những người hành hương tìm về thánh điện, họ dìu người già, dắt trẻ nhỏ, phong trần mệt mỏi, nhưng trên khuôn mặt lại hiện lên vẻ sùng kính và khao khát đến tột độ. Việc tìm kiếm thánh điện chẳng có gì khó khăn, cứ việc bám gót đám người đã bị tẩy não kia là xong.
Thánh điện được xây dựng trên một sườn dốc cao, mang dáng vẻ vô cùng hùng vĩ và tráng lệ. Vô số tín đồ quỳ rạp trên sườn núi, xếp hàng dài chờ hôn lên những bậc thềm đá dẫn vào thần điện. Họ khóc lóc, gào thét, nước mắt đầm đìa. Khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy tâm can chấn động sâu sắc và không thể nào lý giải nổi.
Tôi dắt ngựa đứng dưới chân núi, đợi mãi đến khi mặt trời khuất bóng đằng tây mới thấy họ lần lượt rời đi. Lúc bấy giờ, cánh cổng lớn màu trắng vừa cao vừa dài của thánh điện cũng từ từ khép lại. Hai cánh cửa dày cộp ngăn cách hai thế giới: Lệ Mã ở bên trong, tôi ở bên ngoài. Lệ Mã nơi thánh điện, tôi chốn hồng trần. Tôi và nàng chỉ cách nhau gang tấc, mà tựa hồ như xa tận chân trời.
Tường bao của thánh điện cao đến năm sáu trượng, cổng lớn đóng chặt, tôi không tài nào vào được. Trước kia, nỗi nhớ là một thứ phương ngữ trắc trở, tôi ở đầu này, Lệ Mã ở đầu kia; sau này, nỗi nhớ là một khúc giang hồ, tôi ở bờ này, Lệ Mã lại ở bờ kia; còn bây giờ, nỗi nhớ là một bức tường cao sừng sững, tôi ở bên này, Lệ Mã ở bên kia.
Đêm hôm ấy, tôi đứng chôn chân ngoài thánh điện cho đến tận lúc bình minh.
Trời vừa hửng sáng, cánh cổng thánh điện ầm ầm mở ra. Mỗi người ra vào đều vén trường bào lên, để lộ tấm mộc bài bên hông. Có người mặc áo đen, có người mặc áo trắng. Đó là Hắc bào kỵ sĩ và Bạch bào kỵ sĩ. Chỉ có hai loại người này mới được phép ra vào thánh điện.
Tôi dán mắt vào một gã Bạch bào kỵ sĩ. Tôi cũng có chút thiện cảm với Hắc bào kỵ sĩ, bởi họ từng quỳ gối trước chúng tôi và tha cho chúng tôi đi; nhưng tôi lại vô cùng căm hận đám bạch bào kỵ sĩ, vì chính bọn hắn đã bắt Lệ Mã đi.
Gã Bạch bào kỵ sĩ kia đi xuống núi, bước vào khu chợ dưới chân đồi. Tôi dắt ngựa, giữ khoảng cách vừa phải mà bám theo hắn. Hắn bước đi nghênh ngang, vác cái mặt lên trời, hoàn toàn không hay biết có người đang theo dõi phía sau.
Thấy gã bạch bào kỵ sĩ đi vào nhà xí, tôi vội buộc ngựa bên ngoài, ngó nghiêng thấy bốn bề vắng lặng bèn lẻn vào theo. Trong nhà xí vừa khéo chỉ có mỗi mình gã. Gã cởi thắt lưng, quay mặt vào tường trút nỗi buồn. Tôi lao từ phía sau tới, chộp lấy cổ hắn bóp mạnh. Gã chẳng kịp kêu tiếng nào đã lăn ra ngất xỉu. Tôi lột bộ bạch bào của hắn khoác lên người, lại gỡ tấm thẻ bài đeo vào thắt lưng mình rồi ung dung tiến về phía thánh điện.
Tôi ẩn mình trong thánh điện suốt bảy ngày. Ban ngày, tôi chui vào ngủ trong một căn phòng rất lớn nhưng không một bóng người, đến đêm mới lặng lẽ mò ra.
Căn phòng ấy rộng mênh mông, hình dáng tựa như chiếc lều của người Mông Cổ nhưng bên trong tuyệt nhiên không có lấy một cây cột chống. Nơi đây thờ phụng rất nhiều bài vị, trên bài vị còn có chân dung, toàn là hình vẽ các bà lão. Những dòng chữ viết trên đó ngoằn ngoèo như nòng nọc, tôi chịu chết không đọc được. Có lẽ là chữ Ba Tư, và nơi này chính là từ đường thờ phụng các đời giáo chủ của Mạc Da giáo.
Đêm đêm, dưới sự che chở của màn đêm đen đặc như mực, tôi lùng sục khắp mọi ngóc ngách của thánh điện để tìm nơi giam giữ Lệ Mã nhưng mãi vẫn không có dấu vết nào. Đôi khi, tôi còn ngờ vực liệu Lệ Mã có thật sự bị đưa về đây không, thậm chí còn định lẻn ra ngoài tìm kiếm. Mãi đến ngày thứ tám, tôi mới nhìn thấy nàng.
Hôm ấy dường như đang tổ chức một nghi thức nào đó, Lệ Mã đứng trên đài cao, nhận sự đảnh lễ của hàng ngàn hàng vạn người. Phía sau nàng là một đám thiếu nữ mặc áo voan trắng. Dù Lệ Mã vẫn che mặt, vẫn khoác bộ trường bào rộng thùng thình, nhưng tôi chỉ cần liếc mắt là nhận ra ngay. Dáng đứng ấy, điệu bộ ấy, không lẫn đi đâu được. Chiếc áo không kiểu cách và lớp mạng che mặt mỏng manh vẫn chẳng thể nào che lấp được vẻ quyến rũ và cao quý của nàng. Sự quyến rũ và cao quý ấy toát ra từ trong cốt tủy.
Tôi thấy Lệ Mã đi vào một ngôi nhà có mái chóp nhọn hình tam giác rồi không thấy trở ra nữa. Đám thiếu nữ vây quanh nàng cũng mất hút theo. Mãi đến tận đêm khuya, họ vẫn chưa ra.
Tôi lẻn vào ngôi nhà đó nhưng chẳng thấy bóng dáng Lệ Mã hay đám thiếu nữ đâu. Gian nhà khổng lồ trống huơ trống hoác, lạnh lẽo không một bóng người. Cực chẳng đã, tôi đành quay lại nơi ẩn náu cũ.
Gian phòng lớn này tuyệt nhiên không có ai bén mảng tới, ban ngày dù có người đi ngang qua cũng tránh xa như tránh hủi. Nơi này dường như ẩn chứa một bí mật nào đó. Có lẽ vì đây là nơi thờ phụng bài vị các đời giáo chủ, trong lòng giáo đồ coi là cấm địa nên không dám bước vào. Nếu họ không dám vào, thì đây chính là nơi an toàn nhất. Tôi quyết định sẽ đưa Lệ Mã đến đây ẩn nấp, rồi chờ thời cơ trốn khỏi thánh điện.
Một đêm nọ, tôi lẻn xuống bếp. Tôi đã quá quen thuộc với nơi này vì đêm nào cũng mò xuống kiếm cái bỏ bụng rồi mang về phòng lớn dự trữ. Đêm ấy, tôi tưởng trong bếp chẳng còn ai nên thản nhiên mở vung nồi, chén sạch đĩa cá bên trong. Nào ngờ chưa kịp đặt đĩa xuống thì cửa bếp kẽo kẹt mở, một lão già bước vào. Lão ta vào xong liền dùng tay trái mở vung nồi, thò tay phải vào định bốc, nhưng quờ quạng một hồi chỉ tóm được không khí. Lão chuyển cái vung sang tay phải, lại dùng tay trái bốc, vẫn không có gì. Hai tay cùng bốc, hai tay đều trống rỗng. Lão lầm bầm gì đó trong miệng rồi mới bỏ đi.
Tôi vội vàng chuồn khỏi bếp, nấp vào góc tường nghe ngóng động tĩnh. Lão già kia không quay lại nữa, có lẽ lão nghĩ mình già lẩm cẩm, quên chưa bỏ cá vào nồi cũng nên. Đêm đó, tôi chôm được bao diêm, đèn dầu, dao phay và một miếng sắt tây được đóng trên mặt thớt để cán mì cho dễ. Những thứ này về sau sẽ đắc dụng vô cùng.
Tôi quay về gian phòng lớn, chăm chú ngắm nghía bức chân dung trên bài vị cuối cùng, đó là người tiền nhiệm của Lệ Mã. Tôi tìm mấy khúc gỗ, tỉ mẩn đẽo gọt vài bức tượng nhỏ mô phỏng hình dáng bà ta.
Mấy ngày sau, vào một buổi hoàng hôn, Lệ Mã lại xuất hiện. Nàng bước đi uyển chuyển, theo sau là đám thiếu nữ váy trắng, sau nữa là một toán Bạch bào kỵ sĩ. Mỗi lần Lệ Mã xuất hiện đều vô cùng long trọng, chẳng khác nào bậc đế vương xuất hành.
Màn đêm buông xuống, Lệ Mã vẫn chậm rãi dạo bước trong thánh điện. Đám thiếu nữ phía sau cất tiếng hát, giọng ca trong trẻo như chim hót vờn quanh tầng không. Có lẽ họ lại đang cử hành nghi thức gì đó. Khi đoàn người đi ngang qua cửa căn phòng lớn, tôi âm thầm chui ra. Chẳng ai phát hiện ra tôi, bởi tất cả đều đang mang trong mình trái tim thánh khiết và sùng kính tột độ, mắt không dám nhìn ngang liếc dọc. Tôi lén chạy đến bên Lệ Mã, chộp lấy tay nàng rồi kéo tuột về phía căn phòng lớn.
Sự việc diễn ra quá bất ngờ, tiếng hát của các thiếu nữ tắt lịm, đám Bạch bào kỵ sĩ cũng ngẩn người quên cả truy đuổi. Mãi đến khi chúng tôi chạy tọt vào trong, đóng sầm cửa lại, bọn họ mới hô hoán ầm ĩ, lao tới như nước vỡ bờ. Nhưng cánh cửa kiên cố đã chặn đứng bước chân bọn họ.
Tôi kéo Lệ Mã chạy thẳng lên lầu hai. Nơi đó có một ô cửa sổ mở toang. Đứng từ đây có thể nhìn thấy bầu trời đầy sao và đám đông hỗn loạn bên dưới. Đối diện căn phòng lớn là một tòa lầu mái nhọn. Đây là nơi dùng để cầu nguyện, cũng là kiến trúc cao lớn nhất trong thánh điện.
Đám bạch bào kỵ sĩ đang ồn ào nhốn nháo, ghé tai bàn tán, bỗng nhiên tất cả im bặt, ngẩng đầu nhìn lên tòa lầu mái nhọn. Trên vách tường tòa lầu ấy, hình ảnh một bà lão bất chợt hiện ra. Bà lão từ nơi xa xăm chậm rãi bước tới, thân xác bà xuyên qua những bức tường, khuôn mặt ngày càng rõ nét, cuối cùng đứng sững bất động trên bức tường tòa lầu mái nhọn.
Tất cả mọi người bên ngoài đều quỳ rạp xuống, cúi gằm mặt, không dám nhìn thẳng vào bà lão trên tường. Miệng họ lầm rầm khấn vái, âm thanh rì rầm như đàn ruồi vo ve giữa không trung.
Lệ Mã không quỳ, nàng nhìn tôi bằng ánh mắt nghi hoặc, sau đó ánh mắt đầy vẻ thấu hiểu, cuối cùng chuyển sang tán thưởng. Tôi chỉ tay về phía bà lão trên tường, rồi lại chỉ vào miệng mình. Lệ Mã thông minh tuyệt đỉnh, nàng hiểu ngay tức khắc. Nàng cầm lấy cái loa sắt tây tôi làm, đặt lên bệ cửa sổ, tuôn ra một tràng tiếng Ba Tư.
Đám đông bên dưới kinh hãi tột độ, vội vàng rập đầu lia lịa về phía bà lão trên tường, một số kẻ bắt đầu khóc lóc, tiếng khóc vang dậy cả một góc trời.
Bà lão quay lưng đi, bóng dáng xa dần rồi biến mất. Tiếng khóc bên ngoài cũng nhỏ dần, vài người bắt đầu lục tục đứng dậy. Đột nhiên, từ tòa nhà mái nhọn đối diện khói trắng bốc lên mù mịt, tiếp đó là ánh lửa bùng lên dữ dội. Khói tan, lửa càng cháy to, ai nấy đều kinh sợ. Cùng lúc đó, bốn phía quanh căn phòng lớn chúng tôi đang đứng cũng bắt đầu bốc cháy.
Lệ Mã đè thấp giọng, nói thêm một tràng vào cái loa. Đám người kia lại đồng loạt quỳ xuống, cúi đầu rên rỉ khóc than. Tôi kéo tay Lệ Mã, đạp lên ngọn lửa mà bước ra. Không ai dám ngăn cản, họ quỳ rạp hai bên đường, mắt không dám ngước nhìn. Chúng tôi đi thẳng đến cổng lớn thánh điện. Tay gác cổng vội vàng mở cửa, chúng tôi cứ thế đi thẳng ra ngoài.
Ngọn lửa tiếp tục cháy mãi cho đến tận bình minh. Khi trời sáng rõ, chúng tôi đã phi ngựa chạy được một quãng rất xa, đám Bạch bào kỵ sĩ có muốn đuổi cũng chẳng kịp nữa.
Đêm hôm đó, thứ tôi dùng chính là huyễn thuật của Giang Tướng Phái. Huyễn thuật, ngày nay gọi là ảo thuật, dân gian gọi là trò ma, trò khỉ. Đã gọi là trò thì toàn là giả dối cả.
Người của Phái Giang Tướng ai nấy đều là cao thủ huyễn thuật. Tỷ như, lão thầy bói phán rằng kiếp trước bạn là con rắn, chết đi cũng sẽ hóa thành rắn. Bạn không tin, lão bèn treo một tấm gương đồng lên tường, bảo bạn soi vào. Bạn nhìn vào gương không thấy mặt mình đâu mà chỉ thấy một con rắn. Bạn sợ mất vía, rập đầu hỏi lão cách hóa giải. Lão phán rằng kiếp trước bạn gây nghiệp chướng, nay cần phải chuộc tội mới tránh khỏi kiếp sau lại làm rắn. Bạn hỏi chuộc tội thế nào, lão sẽ bảo bạn đem tiền của chôn ở chỗ này chỗ kia, tuyệt đối không được nói cho ai biết, nếu không phép giải sẽ mất linh. Bạn tin sái cổ. Chân trước bạn vừa đi chôn tiền thì chân sau lão đã đến đào lấy mất. Sau khi chôn tiền, bạn soi gương lại, trong gương không còn con rắn nữa mà chỉ thấy chính mình. Bạn tin chắc rằng tội nghiệt của mình đã được tiền bạc gột rửa sạch sẽ.
Sự thật là thế nào? Chẳng qua Phái Giang Tướng đã dùng huyễn thuật. Lão thầy bói đã vẽ sẵn hình rắn hoặc thú dữ lên gương từ trước. Ở điều kiện bình thường bạn sẽ không thấy được. Khi bạn soi gương, lão chiếu ánh đèn vào gương đồng, hình vẽ sẽ hiện ra. Sau khi bạn chôn tiền xong quay lại soi gương, lão đã lau sạch những hình vẽ đó, nên trong gương chỉ còn thấy hình ảnh của bạn.
Đêm ấy, tôi trộm từ nhà bếp bao diêm, đèn dầu và miếng sắt tây. Tôi cuộn miếng sắt lại thành hình cái loa, một đầu to, một đầu nhỏ, rồi dựa theo bức tranh trên bài vị mà điêu khắc thành một pho tượng gỗ mang hình dáng vị giáo chủ tiền nhiệm, chính là bà lão định truyền ngôi giáo chủ cho Lệ Mã.
Khi bị truy đuổi, tôi thắp đèn dầu, hướng ngọn lửa vào miệng loa nhỏ, đặt tượng gỗ phía trước miệng loa, thế là bóng của bà lão được phóng to in lên bức tường đối diện. Ai nấy đều tưởng giáo chủ hiển linh, lại thêm Lệ Mã giả giọng bà ta phán truyền, thế là chẳng còn ai nghi ngờ gì nữa.
Lúc " giáo chủ" đi xa, tôi lấy thuốc súng đã chuẩn bị sẵn đặt vào miệng loa rồi châm lửa, thuốc súng bùng lên tạo ra màn khói dày đặc. Thuốc súng này lấy ở đâu? Tôi đã cạo lớp thuốc đỏ ở đầu que diêm, tích cóp từng chút một. Diêm cháy được là nhờ ma sát giữa thuốc súng và phốt pho tạo ra lửa.
Thuốc súng cháy xong tỏa ra khói lớn, khói tan thì ánh lửa xuất hiện. Ánh lửa ở đâu ra? Là do lân quang chiếu lên. Lân quang ở đâu ra? Từ xác chết mà ra.
Căn phòng lớn ấy là nơi chứa hài cốt các đời giáo chủ. Tôi cạy nắp từng cỗ quan tài lấy xương khô của họ ra. Những bộ xương nằm đó mấy trăm năm, nay đột ngột tiếp xúc với không khí liền phát ra sáng, dân gian gọi là ma trơi. Ban đêm bạn đi một mình ra bãi tha ma, sẽ thấy ma trơi lập lòe, đó chính là xương cốt phơi ngoài đồng hoang đang phát sáng.
Người Phái Giang Tướng ai cũng là cao thủ giả thần giả quỷ. Trong khoảnh khắc khói lửa mù mịt ấy, tôi ném đống xương ra ngoài cửa. Khói tan, đám Bạch bào kỵ sĩ thấy cửa phòng rực lửa ma trơi thì kinh hãi không dám xông vào, nhờ đó tôi và Lệ Mã mới có thể đạp lên ngọn "lửa" ấy mà thoát thân.
Tôi không biết Lệ Mã đã nói gì với bọn chúng, có lẽ nàng bảo tôi là sứ giả thượng đế xuống đón nàng về thiên cung. Dù sao thì đám kỵ sĩ ấy cũng bị huyễn thuật của tôi dọa cho khiếp vía, chỉ biết nằm rạp xuống đất lạy như tế sao, chẳng có mống nào dám đuổi theo.
Chúng tôi thúc ngựa phi nước đại về hướng Đông, đi gấp ngày đêm. Lòng tôi cứ canh cánh về Niệm Gia Thân. Lão nói sẽ đợi tôi ở Hồng Diêu Bảo; nếu lão đi trước, lão sẽ khắc dấu lên cái cây lớn ở lối ra.
Lệ Mã đã bình an trở về, tảng đá trong lòng tôi cuối cùng cũng được trút bỏ, nhưng một rắc rối khác lại nảy sinh. Niệm Gia Thân bám theo hai kẻ kia, rốt cuộc bọn chúng là ai? Tại sao bọn chúng biết đám hưởng mã của gã gầy ốm muốn diệt trừ tiêu cục của Quang Đầu? Hai kẻ này và hung thủ giết con của gã gầy ốm có quan hệ gì không?
Chúng tôi đến Hồng Diêu Bảo vào một buổi xế chiều. Trên cây liễu lớn chỉ có dấu chữ thập do tôi để lại, hai con chim khách kêu ríu rít trên cành, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng con quạ nào, có lẽ đã bị chúng đuổi đi.
Tôi bước vào Hồng Diêu Bảo, nhìn những vệt nắng chiếu loang lổ vào trong tòa thành cổ kính, khung cảnh tịch mịch và âm u. Tôi lớn tiếng gọi tên Niệm Gia Thân, nhưng đáp lại chỉ là tiếng vọng ầm ầm của chính mình.
Đã lâu như vậy rồi, tôi đi Tây Vực một vòng trở về, Niệm Gia Thân bám theo hai kẻ kia lẽ ra phải về từ lâu và đợi tôi ở đây mới phải. Nếu lão đi rồi, chắc chắn sẽ để lại ký hiệu trên cây. Nhưng trên cây không có ký hiệu mới, chứng tỏ Niệm Gia Thân chưa rời đi, vẫn còn trong Hồng Diêu Bảo. Không thấy tiếng Niệm Gia Thân trả lời, tôi và Lệ Mã chia nhau ra tìm. Nàng tìm phía Đông, tôi tìm phía Tây.
Bất chợt, tôi nghe Lệ Mã thét lên kinh hãi. Tôi vội vã chạy tới, thấy cách Lệ Mã mười mấy mét, trên mặt đất có một người nằm sóng soài, mặt mũi bị chém nát bấy, máu thịt be bét, nhưng bộ quần áo kia thì tôi nhận ra, chính là Niệm Gia Thân.
Trong tay Niệm Gia Thân còn nắm chặt một cành cây nhỏ, cách đó vài bước chân, trên mặt đất có viết một chữ "Thập" (+), nét chữ mảnh mai, nguệch ngoạc. Nếu không nhìn kỹ thì không thể nào nhận ra chữ đó.
Trong phút giây sinh tử, Niệm Gia Thân đã dốc tàn lực viết chữ "Thập" này xuống đất, viết xong lại cố lết ra xa mấy bước. Tại sao lão ấy phải làm vậy? Chữ "Thập" này có nghĩa là gì?
Không, không đúng! Niệm Gia Thân nằm úp mặt xuống đất, chứng tỏ lão ấy đang trên đường chạy trốn thì bị kẻ thù đuổi kịp từ phía sau. Vậy nghĩa là lão ấy chưa kịp viết xong thì đã phải vội vã rời đi. Chữ "Thập" được viết nguệch ngoạc, chứng tỏ lão ấy không có thời gian để viết cho trọn vẹn. Chữ này bắt đầu bằng bộ Thập hoặc nét ngang dọc giống chữ Thập.
Chữ này có liên quan gì đến hung thủ sát hại lão ấy? Chắc chắn Niệm Gia Thân muốn viết chữ để cảnh báo tôi, hoặc muốn cho tôi biết tên hung thủ.
Nhưng nghĩ kỹ lại vẫn thấy không đúng. Hồng Diêu Bảo kín đáo như vậy, dù có đi ngang qua rừng cây bên ngoài cũng chẳng thể biết bên trong có tòa thành cổ, kẻ truy sát làm sao mà mò vào được? Nếu Niệm Gia Thân biết có nguy hiểm, lão tuyệt đối sẽ không dẫn dụ hung thủ vào Hồng Diêu Bảo, vì lão biết tôi sẽ đến đây. Vậy thì chỉ có một khả năng: hung thủ đã âm thầm bám theo Niệm Gia Thân rồi bất ngờ tập kích. Niệm Gia Thân đã biết thân phận hung thủ nhưng không kịp làm ám hiệu, đành viết xuống đất, chữ chưa viết xong đã bị sát hại.
Là kẻ nào đã ra tay tàn độc với Niệm Gia Thân?
Nhìn thi thể đầy thương tích của Niệm Gia Thân, nước mắt tôi lã chã tuôn rơi. Tôi thu liệm xác lão, thấy bàn tay vẫn còn nắm chặt. Phải tốn rất nhiều sức tôi mới gỡ được mấy ngón tay cứng đờ ấy ra, trong lòng bàn tay lão vậy mà lại nắm một mũi tên, trên đó khắc bốn chữ "Long Uy Tiêu Cục". Mũi tên bắn trúng gã gầy ốm hôm nọ cũng khắc chữ "Long Uy Tiêu Cục".
Long Uy Tiêu Cục, chữ đầu tiên là chữ "Long" (龙). Nét khởi bút của chữ "Long" là một chấm và một nét ngang, nếu viết thảo thì rất giống chữ "Thập" (+).
Trời ơi, kẻ giết Niệm Gia Thân là người của Long Uy Tiêu Cục; kẻ giết con của gã gầy ốm cũng là người của Long Uy Tiêu Cục.
Tôi chợt rùng mình kinh sợ. Sao lại như thế được? Báo Tử còn đang ở cùng người của Long Uy Tiêu Cục, liệu anh ấy có bị hại luôn không?
Tôi đứng chôn chân giữa Hồng Diêu Bảo rất lâu, mãi đến khi hoàng hôn buông xuống mới cùng Lệ Mã rời đi. Chúng tôi đi về hướng Đông, ánh chiều tà kéo dài bóng hai đứa trên mặt đất. Nghĩ đến một Niệm Gia Trân đa mưu túc trí, chính tà khó phân từ nay âm dương cách biệt, không bao giờ gặp lại nữa, trong lòng tôi trào dâng một nỗi bi thương vô hạn.
Sau đó, chúng tôi đến Cổ Lãng, nơi này cách Tây Vực cả ngàn dặm, cuối cùng cũng có thể yên tâm nghỉ ngơi trong khách điếm.
Chiều hôm ấy, chúng tôi vào trọ, không ra ngoài nữa. Lệ Mã đi ngủ từ sớm. Những ngày qua dọc đường lúc nào cũng trong trạng thái nơm nớp lo sợ khiến nàng chẳng có giấc ngủ nào trọn vẹn, giờ đây cuối cùng cũng có giây phút bình yên, nàng đã có thể chìm vào giấc mộng
Nhưng tôi thì trằn trọc không sao ngủ được. Lệ Mã không biết Niệm Gia Thân là ai, cũng chẳng biết ân oán giữa tiêu cục và Hưởng Mã, càng không biết gì về âm mưu giết chóc rối rắm này.
Tôi cứ cảm thấy trong chuyện này ẩn chứa bí mật động trời nào đó. Theo suy đoán, Niệm Gia Thân là do đám Quang Đầu giết, vết thương của gã gầy ốm cũng là do nhóm Quang Đầu gây ra. Nhưng ngẫm lại thấy không giống, Quang Đầu là người bộc trực, ruột để ngoài da, tâm địa không gian trá xảo quyệt đến thế. Trực giác mách bảo tôi rằng, những chuyện tàn độc mất hết tính người này dường như không phải do nhóm Quang Đầu làm.
Vậy thì là ai? Tại sao trước lúc chết Niệm Gia Thân lại nắm chặt mũi tên của Long Uy Tiêu Cục? Lão ấy muốn nói với chúng tôi điều gì? Dựa theo nét bút khởi đầu kia, rốt cuộc lão định viết chữ gì?
Đang còn vắt óc suy nghĩ, tôi chợt nghe thấy tiếng động lạ bên ngoài phòng. Đó là tiếng đất vụn trên đầu tường rơi xuống đất, âm thanh rất nhẹ rất khẽ, nếu không phải người trong giang hồ thì tuyệt đối không nghe ra được; mà dù có nghe thấy cũng chẳng ai liên tưởng đến chuyện có người leo tường.
Nửa đêm trèo tường, nhất định là có mưu đồ bất chính.
Thấy Lệ Mã vẫn ngủ say, tôi rón rén bò dậy, dùng đầu ngón tay chọc thủng giấy dán cửa sổ, ghé mắt nhìn ra ngoài. Dưới ánh trăng mờ ảo, tôi thấy hai bóng đen nhảy từ trên tường xuống, nằm rạp dưới đất nghe ngóng. Thời đó ở vùng Tây Bắc, tường gạch thì ít mà tường đất thì nhiều.
Thấy không có động tĩnh gì, hai bóng đen rón rén đi sang dãy nhà đối diện, mở cửa bước vào. Lát sau, đèn trong phòng vụt sáng.
Tôi đoán hai kẻ này là "lão hợp" giang hồ, chắc là khách trọ ở đây. Tôi lẳng lặng ra ngoài, khép cửa lại, rón rén mò sang dãy nhà đối diện, nép mình dưới ô cửa sổ sáng đèn, muốn nghe xem bọn họ nói chuyện gì.
Giọng bọn họ rất nhỏ, nghe không rõ ràng, hình như cũng chẳng phải bàn chuyện giang hồ. Nhưng tính tôi vốn tò mò, đã trèo tường giữa đêm hôm khuya khoắt thì chắc chắn có chuyện mờ ám.
Tôi đứng thẳng dậy, liếm ướt ngón tay út rồi chọc một lỗ nhỏ trên giấy dán cửa sổ. Vừa mới ghé mắt định nhòm vào, đột nhiên từ trong phòng một mũi phi tiêu thép xé gió bay ra, sượt qua đỉnh đầu tôi găm phập xuống đất.
Tôi sợ điếng người, đứng chết trân không dám nhúc nhích. Tôi biết người trong phòng đã nương tay, nếu hắn muốn lấy mạng tôi thì dễ như trở bàn tay.
Trong phòng vọng ra tiếng quát: “Ngật cách niệm lộ số thế nào?”
Tôi đành thành thật trả lời: “Dân hộ tiêu”
Giọng nói trong phòng lại vang lên: “Vào đây”
Tôi vừa bước vào cửa, hai người trong phòng liền đứng bật dậy, thốt lên: “Ngai Cẩu! Sao cậu lại ở đây?”
Tôi kinh ngạc nhìn sang, hóa ra là Thiết Thuyên và Thiết Trụ: “Sao hai người lại ở đây?” – Tôi hỏi.
Thiết Trụ đáp: “Cậu với Nhị đương gia của bọn tôi đi lâu quá, chẳng có tin tức gì. Mọi người lo sốt vó nên cử bọn này đi tiếp ứng”
Hóa ra, Niệm Gia Thân chính là Nhị đương gia của đám Hưởng Mã.
Tôi kể lại những chuyện kỳ quái gặp dọc đường, kể chuyện tìm thấy xác Niệm Gia Thân ở Hồng Diêu Bảo, chuyện mũi tên trong tay lão và cả chữ viết dở dang kia...
Thiết Thuyên đập bàn: “Quả nhiên là do Long Uy Tiêu Cục làm, tôi đã bảo bọn chúng chẳng phải thứ tốt đẹp gì mà”
Thiết Trụ trầm ngâm: "Chuyện này muốn điều tra cho rõ cũng không khó."
Tôi và Thiết Thuyên cùng nhìn hắn ta: "Tra thế nào?"
Thiết Trụ nói: “Chúng ta đuổi theo bọn Quang Đầu, chỉ cần hỏi xem mấy ngày nay có kẻ nào không đi cùng tiêu cục, hung thủ ắt sẽ lòi mặt chuột”
Thiết Thuyên vỗ đùi đánh đét một cái: "Phải lắm!"
Tôi biết đó là cách hay, nhưng nếu thực sự tiêu cục đã hạ độc thủ với Niệm Gia Thân, lẽ nào họ không giữ kín như bưng? Đã giữ bí mật thì dù có hỏi thế nào, họ cũng sẽ khăng khăng là không có ai rời khỏi đoàn vận tiêu nửa bước. Hơn nữa, nhìn vết máu thì Niệm Gia Thân đã chết được mấy ngày rồi, nếu người của tiêu cục giết, giờ này hắn đã quay về nhập bọn từ lâu.
Tuy nhiên, ngoài cách đó ra cũng chẳng còn kế sách nào khả dĩ hơn.
Tôi vẫn bán tín bán nghi chuyện tiêu cục giết Niệm Gia Thân. Nhưng nếu đúng là người của tiêu cục làm, một khi Quang Đầu biết chuyện, tôi tin ông sẽ thừa nhận. Quang Đầu là một hảo hán. Dù sao đi nữa, cứ đuổi kịp tiêu cục đã rồi tính sau.
Ba ngày sau, chúng tôi đến một thung lũng. Thiết Thuyên huýt lên một tiếng dài, từ trong hang đá lưng chừng núi có mấy người bước ra, nhanh chóng tiếp cận chúng tôi.
Điều khiến tôi vạn lần không ngờ là kẻ dẫn đầu đoàn người lại là lão già râu ba chòm. Chính là lão già từng bày cờ thế ở huyện thành Định Biên, kẻ đã bị tôi trộm mất mật thư ngay giữa đêm, và cũng chính là kẻ bị Báo Tử dùng ná thun bắn cho chạy tóe khói.
Lão già râu ba chòm chỉ tay vào tôi, hỏi: "Này, thằng nhóc sao lại ở đây?"
Tôi đáp: “Tôi còn đang muốn hỏi ông đây? Sao lão nhân gia sao lại ở chỗ này?”
Lão già râu ba chòm lớn tuổi hơn tôi nhiều, gọi một tiếng "lão nhân gia" cũng là phải phép.
Lão nhìn tôi bằng ánh mắt giễu cợt. Tôi biết lão đang đắc ý cho rằng ngày trước tôi không nhận ra lão là ai. Tôi cứ tưởng lão là Lão Vinh, hóa ra không phải, lão là Hưởng Mã.
Lão già nhìn tôi, rồi lại nhìn Lệ Mã, giọng cợt nhả: “Lúc đi thì thui thủi một mình, lúc về lại dắt theo cô em xinh tươi. Mày lừa con gái nhà lành lên giường kiểu gì thế hử?
Tôi nhìn Lệ Mã, nàng ngơ ngác nhìn mọi người bằng đôi mắt ngây thơ và thuần khiết. Tôi không muốn họ bàn tán về Lệ Mã. Nàng là thánh nữ, không thể để bất kỳ lời lẽ khiếm nhã nào vấy bẩn. Tôi bảo họ: “Chúng ta mau bàn chính sự đi”
Thiết Trụ kể lại chuyện của Niệm Gia Thân cho Lão già râu ba chòm nghe, lão tức đến mức râu ria run bần bật. Lão gầm gừ: “Hồi trước nếu không có lão phu thì đám lạc đà khách ấy đã bị người ta diệt gọn rồi”
Thiết Trụ hỏi: “Ông đã gặp đám lạc đà khách ấy rồi sao?”
Lão già râu ba chòm đáp: “Gặp rồi chứ sao không. Hồi ở Diêm Trì, bọn họ trúng kế của đám "lão nguyệt", chạy đi tỷ võ với chúng nó, để kẻ địch thừa cơ tập kích suýt nữa thì cướp mất tiêu. Nếu không nhờ bọn ta kịp thời ra tay thì bọn chúng đã đầu một nơi mình một nẻo rồi."
À, tôi nhớ ra rồi. Hoa Diện Ly từng kể hôm chúng tôi tỷ võ với đám lão Nguyệt giang hồ đã trúng phải kế điệu hổ ly sơn, lão đương gia bị chém chết. Sau đó có mấy người cưỡi ngựa đến, ném pháo nổ loạn xạ dọa cho đám lão Nguyệt chạy mất dép.
Thật không ngờ, những người ném pháo hôm đó lại là bọn họ. Nhưng tại sao họ lại cứu chúng tôi? Chẳng phải tiêu cục là kẻ thù của họ sao? Chẳng phải họ được gã gầy ốm phái đi theo dõi tiêu cục sao?
Tôi nghĩ mãi không thông, định mở miệng hỏi nhưng lại thấy không hợp lúc.
Lão già râu ba chòm bảo một người sau lưng: “Mau báo tin về đại bản doanh, nói mọi người chuẩn bị sẵn sàng, làm thịt bọn lạc đà khách này”
Gã này chạy lên lưng chừng núi, thả một con ưng trắng bay vút lên bầu trời xanh thẳm.
Tôi muốn ngăn họ lại nhưng đã không còn kịp. Linh tính mách bảo tôi rằng, sự tình không đơn giản như vậy.