Tổ Bịp
- 2824 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 3. Gia nhập gánh xiếc
Gánh xiếc vừa tới làng, tiếng thanh la đã khua vang ầm ĩ. Ở cái xóm nhỏ quanh năm chẳng mấy khi thấy mặt người lạ này, tiếng chiêng trống ấy chẳng khác nào thỏi nam châm hút sạch người già trẻ nhỏ ra ngoài. Gánh xiếc đóng cọc dựng trại ngay giữa sân đập lúa, dựng lên hai cây cột gỗ cao vút, trên đỉnh nối với nhau bằng một sợi dây thừng. Một con khỉ nhanh thoăn thoắt leo tót lên cột, đánh đu qua lại trên dây. Đám trẻ con đứng dưới chân cột vừa ngửa cổ nhìn theo, vừa vỗ tay cười nắc nẻ.
Tôi cũng lân la định ra sát sợi dây xem cho rõ, nhưng Lôi Thải Phượng đã đá cho một cú. Mụ quát:
"Xem cái gì mà xem? Cút về giặt sạch đống quần áo cho tao!"
Chẳng dám phản kháng, tôi lầm lũi quay về, nhét đống quần áo vừa chua vừa khắm của mụ vào chậu gỗ rồi bưng ra bờ sông đầu làng. Bên sông có cây bồ kết già, dân làng mỗi lần giặt giũ lại hái vài quả, đặt lên lớp vải ướt rồi dùng chày gỗ đập bồm bộp. Nước bồ kết ngấm vào từng thớ vải, đánh bật hết vết bẩn. Thời đó, lấy đâu ra xà phòng, quả bồ kết chính là thứ duy nhất để làm sạch quần áo.
Khúc sông chẳng cách sân đập lúa là bao. Gió đưa tiếng trống và tiếng cười đùa rộn rã của đám trẻ lọt vào tai tôi. Đời tôi chưa từng được xem xiếc lần nào. Nghe những âm thanh ấy, tôi biết chắc ngoài kia đang vui lắm.
Giặt xong, tôi bưng chậu quần áo nặng trịch về làng. Xóm làng vắng ngắt không một bóng người, nhà nào nhà nấy đều khóa cửa im lìm để ra xem xiếc. Lúc đi ngang nhà lão Lưu, tôi chợt thấy một bóng người từ trên cây ngô đồng sau tường bao nhảy vọt lên bờ tường. Biết là gặp phải kẻ trộm, tôi chẳng dám lên tiếng hô hoán, vội lách mình trốn vào cái nhà xí lộ thiên ven đường.
Nhà xí ở đây đều xây ngoài tường bao, vách đắp bằng gạch bùn xộc xệch với những khe hở nhỏ. Qua khe hở, tôi thấy tên trộm men theo tường nhà lão trùm Lưu, trèo lên cây hòe trước cửa rồi tuột xuống đất biến mất.
Đợi gã đi khuất hẳn, tôi mới dám ló mặt ra. Tên trộm này khôn thật, biết rõ nhà lão Lưu giàu nhất vùng, cả làng chỉ có hai con la thì đều nằm trong chuồng nhà lão cả. Hắn cũng rất biết chọn thời điểm, vừa vặn đúng lúc cả làng đều đã kéo nhau đi xem xiếc, trong làng chẳng còn lấy một bóng người, hắn ta cứ thế mà ung dung ra tay chẳng chút lo ngại.
Về đến nhà, tôi vắt quần áo lên sào rồi hớt hải chạy ra sân phơi lúa, lòng thầm nhủ ít nhất cũng phải xem được đoạn cuối. Nhưng chân vừa chạm sân phơi lúa, tôi đã bị Lôi Thải Phượng trông thấy. Mụ đang bế con, mặt mày hầm hầm bước tới chặn đường:
“Thằng nhóc như mày thì xem xiếc cái gì, mày có xem cũng chẳng hiểu đâu! Mau đi cắt cỏ cho heo ngay, nếu không đầy sọt thì đừng có vác mặt về nhà”
Trong nhà có nuôi một con heo mọi đã mấy tháng tuổi, ngày nào tôi cũng phải đi cắt cỏ về cho nó ăn. Thường ngày tôi hay đi cùng đám bạn trong làng, nhưng hôm nay gánh xiếc về, đứa nào đứa nấy đều mê mẩn đứng xem, chỉ có mình tôi bị mụ Lôi Thải Phượng hành hạ.
Không dám cãi nửa lời, tôi lủi thủi về nhà vác liềm và sọt ra đi. Lúc bước qua cửa, tôi bực mình nhổ toẹt một bãi đàm vào ngay giữa đống quần áo mụ vừa bắt tôi giặt sạch.
Nơi chúng tôi thường cắt cỏ gọi là Tổ Quạ. Đó là một gò đất cao với rất nhiều tổ quạ trên ngọn cây. Cỏ ở đó mọc xanh rì tươi tốt, cắt mãi không hết, nên tôi lại tìm đến đó.
Đứng trên đỉnh gò, tôi có thể trông thấy toàn cảnh xóm làng và sân đập lúa phía xa. Buổi diễn đã hết, dân làng lục tục kéo nhau về. Người của gánh xiếc bắt đầu khuân vác đồ đạc lên hai cỗ xe ngựa rồi giục xe rời khỏi làng.
Con đường duy nhất dẫn ra khỏi vùng núi này hẹp đến mức chỉ vừa đủ cho một chiếc xe ngựa đi qua. Nhìn hai cỗ xe cứ thế xa dần, xa dần đến khi chỉ còn là những chấm nhỏ, trong đầu tôi bỗng lóe lên một ý nghĩ: Trốn đi, chạy theo gánh xiếc thôi!
Tôi quẳng cái sọt xuống một hố sâu đen ngòm, tay nắm chặt chiếc liềm, lao xuống gò rồi thục mạng đuổi theo con đường mòn dẫn ra khỏi núi.
Xe ngựa của gánh xiếc chạy rất nhanh trên con đường quê khúc khuỷu, dập dềnh như con thuyền nhỏ cưỡi sóng. Rõ ràng thấy họ ngay trước mắt, vậy mà chỉ chạy một đoạn tôi đã bị bỏ lại xa tít. Tôi thở dốc như cá mắc cạn, mấy lần định quay đầu về làng, nhưng rồi lại thôi. Cái sọt đã bị tôi quăng xuống hố sâu, giờ mà vác cái xác không về, Lôi Thải Phượng sẽ đánh gãy chân tôi mất.
Không còn đường lui nữa, chỉ có nước đuổi theo!
Xe ngựa bắt đầu vào đường đèo quanh co nên đi chậm lại. Lúc tôi đuổi tới chân núi thì xe đã lên đến lưng chừng; khi tôi lên tới lưng chừng thì xe đã tới đỉnh; và khi tôi lên đến đỉnh thì xe đã xuống tới chân núi bên kia. Cứ đuổi theo kiểu này, đến khi nào tôi mới bắt kịp?
Tôi nảy ra một kế: chạy theo lối tắt.
Không leo theo đường mòn nữa, tôi đâm chéo qua sườn núi. Dưới chân núi vốn chẳng có đường đi, tôi cứ thế lao vào bụi rậm. Nhiều đoạn gai góc bủa vây không cách nào qua nổi, cũng may có chiếc liềm cầm tay để phát cây mở đường. Vốn dĩ mang liềm để phòng sói rừng, chẳng ngờ giờ lại hữu dụng theo cách này.
Sườn núi toàn là những khe rãnh sâu hoắm, dù không rộng nhưng nhìn xuống hun hút, ném hòn đá xuống phải một lúc lâu mới nghe thấy tiếng vọng lại. Tôi lùi lại lấy đà rồi liều mạng nhảy qua. Có mấy lần chỉ thiếu một phân nữa là rơi xuống vực, ngoảnh lại nhìn cái khe mà mồ hôi đổ ra như tắm.
Dưới thung lũng còn có một con suối, nước từ đỉnh núi chảy xuống trong vắt nhưng lạnh thấu xương. Vừa bước xuống, bắp chân tôi đã bắt đầu bị chuột rút. Dòng nước chảy xiết làm tôi ngã mấy lần, suýt nữa thì bị cuốn trôi xuống thác nếu không kịp bám vào những cành cây chìa ra sát mặt nước.
Cuối cùng, khi sang được phía bên kia núi và đặt chân lên con đường mòn, tôi thấy bóng xe ngựa vừa trờ tới. Tôi vung tay gào thét, ra hiệu cho họ dừng lại. Một cái đầu ló ra khỏi thùng xe nhìn tôi, nhưng chiếc xe không những không dừng mà còn chạy nhanh hơn sau một tiếng roi vun vút.
Lạ thật, họ thấy tôi sao lại không dừng, mà lại còn chạy như ma đuổi thế kia?
Đường xuống núi vẫn là đường đèo, vòng vèo hơn nhiều so với phía bên kia. Tôi lại đánh liều lao thẳng xuống sườn dốc, cuối cùng cũng chặn được ngay trước mũi xe.
Chiếc xe khựng lại. Hai gã đàn ông nhảy xuống, tay lăm lăm thứ gì đó trông như gậy gỗ, hầm hầm tiến về phía tôi. Tôi run cầm cập, lòng đầy kinh hãi. Chẳng hiểu sao một đứa trẻ chặn xe lại khiến họ giận dữ đến thế.
Một gã chỉ gậy vào mặt tôi quát:
"Làm cái gì đấy? Sao lại chặn xe?"
Gã còn lại thì mắt cứ láo liên nhìn quanh như thể đang tìm kiếm ai đó.
Lúc đuổi theo thì hăng hái là thế, giờ đối mặt với vẻ hung tợn này, tôi bắt đầu thấy sợ. Tôi có làm gì đâu mà họ lại nóng nảy làm vậy?
Tôi mếu máo:
"Làm ơn mang con theo với, việc gì con cũng làm được."
Gã cầm gậy dùng đầu gậy nâng cằm tôi lên:
"Chúng mày đi mấy đứa?"
Gã kia vẫn chưa thôi quan sát xung quanh, vẻ mặt căng thẳng như thể sắp lâm trận đến nơi.
Tôi đáp:
"Chỉ có mỗi mình con thôi."
Gã cầm gậy gằn giọng:
"Mày dám nói láo, ông bẻ cổ mày đầu tiên."
Gã quan sát lúc này mới lên tiếng:
"Hết người rồi, chỉ có thằng nhóc này thôi."
Gã cầm gậy bỗng đổi sắc mặt, giọng dịu đi đôi chút:
"Sao lại muốn đi theo bọn tao?"
Tôi sụt sịt:
"Con mà không đi, cha mẹ nuôi sẽ đánh con đến chết mất."
Hai gã cười khẩy, chẳng buồn đoái hoài đến tôi nữa mà leo lên ngồi hai bên càng xe. Gã im lặng nãy giờ vung chiếc roi dài, một tiếng "chát" vang lên, xe ngựa lại tiếp tục hành trình.
Tôi đứng trơ trọi giữa ánh hoàng hôn đang nhạt dần, nhìn chiếc xe khuất dần về phía xa mà lòng đầy hoang mang. Nhưng rồi nghĩ lại, đã đến nước này thì dù là hố sâu hay vực thẳm cũng phải nhảy, thế là tôi lại cắm đầu chạy theo sau xe.
Trời tối hẳn, mồ hôi vã ra như tắm, miệng tôi há hốc để thở, chẳng khác gì con cá mắc cạn trên bãi cát. Tưởng chừng như sắp đổ gục đến nơi thì ơn trời, trước mặt hiện ra một thị trấn nhỏ. Xe ngựa dừng lại ngay đầu trấn.
Trấn này có chừng vài chục hộ dân, ánh đèn đã thắp lên loang loáng, mùi thức ăn thơm phức thoang thoảng trong gió đêm. Thời đó, một nơi như thế này đã được coi là sầm uất lắm rồi. Ở đây có cửa hàng tạp hóa, tiệm mì và một quán trọ. Trước cửa quán trọ treo chiếc đèn lồng đỏ dán giấy, soi rõ bốn chữ lớn phía trên: "Khách Sạn Đồng Xuân".
Xe ngựa không vào trấn ngay mà dừng lại bên ngoài. Một người xuống xe, rảo bước vào trong trước, những người còn lại đứng chờ. Chừng hút hết một bi thuốc, từ trong trấn vang lên hai tiếng huýt sáo lảnh lót, bấy giờ đoàn xe mới bắt đầu tiến vào.
Gánh xiếc này quả là quái lạ.
Đêm đó, tôi chỉ được ăn nửa cái bánh bao thừa của một người trong đoàn nhường cho. Ăn xong, cả bọn chui vào ngủ chung một phòng. Hai người phụ nữ kia tôi nom không rõ mặt, vì họ chẳng lúc nào bước ra khỏi vùng sáng của ngọn đèn dầu đặt trong hốc tường.
Bọn họ ngủ trên kháng, còn tôi nằm dưới đất. Chạy suốt cả ngày trời, vừa đặt lưng xuống là tôi đã chìm sâu vào giấc ngủ.
Nửa đêm, vì buồn tiểu nên tôi tỉnh giấc. Chẳng dám thắp đèn, thấy mảnh trăng tàn treo lơ lửng trên không, tôi run cầm cập bước ra khỏi phòng. Ngoài sân, trăng đã lẩn khuất sau màn mây, để lộ bầu trời đầy sao lấp lánh. Dải ngân hà vắt ngang trên cao cảm giác như ở gần ngay trước mắt. Nhờ ánh sao mờ ảo, tôi lần ra góc tường. Vừa định giải quyết thì bỗng nghe thấy tiếng hai người đàn ông trò chuyện trong căn phòng gần đó.
Cả hai đều nói giọng địa phương, nhưng nội dung thì tôi mù tịt.
"Tiêm đẩu bàn nhi có sáng không?"
"Bàn nhi được lắm."
"Coi chừng Ưng Trảo Tôn đấy."
"Tất nhiên rồi."
Những lời ấy làm tôi nhức cả đầu, chẳng hiểu họ đang ám chỉ điều gì. Nhưng vì phía dưới đang căng tức không chịu nổi, tôi mặc kệ tất cả, cứ thế đứng vào góc tường mà xả. Tiếng nước chảy róc rách giữa đêm thanh vắng nghe rõ mồn một, đến chính tôi còn giật mình. Tôi thầm nhủ: "Mau lên, dừng lại mau!", nhưng lực bất tòng tâm.
Căn phòng bất ngờ sáng đèn, hai gã đàn ông bước ra, xách đèn dầu soi thẳng vào mặt tôi. Một gã tặc lưỡi:
"Hóa ra là cái thằng ranh này, làm lão tử cứ tưởng ai, đúng là hú vía."
Nói đoạn, họ lại xách đèn quay vào. Tôi cứ ngỡ mình sẽ ăn một trận nhừ tử, không ngờ họ chẳng hỏi lấy một câu đã bỏ đi luôn.
Tôi lủi thủi mò về chỗ cũ, nằm vật xuống đất nhưng trong đầu cứ lẩn quẩn mấy chữ "Tiêm đấu", "Bàn nhi ", "Ưng Trảo Tôn"... Đó rốt cuộc là cái gì?
Bọn họ làm nghề gì thế?
Nghĩ ngợi một hồi, cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi lại thiếp đi lúc nào không hay.
Khi tôi tỉnh dậy thì mặt trời đã lên cao, ngôi lầu gỗ trên cổng tiệm trọ được ánh bình minh nhuộm đỏ rực. Trong sân tiệm người ra kẻ vào tấp nập, người thắng yên ngựa, kẻ quẩy gánh hàng hóa kêu kẽo kẹt rời đi. Đêm qua, căn phòng chúng tôi ở có chừng sáu bảy người, trong đó có hai người nữ. Giờ nhìn kỹ mới thấy hai cô gái này xinh đẹp vô cùng, từ vóc dáng, nét mặt đến mái tóc đen nhánh, đều khiến người ta không thể rời mắt. Đời tôi chưa từng thấy ai đẹp đến thế, ngay cả mẹ tôi cũng không bằng, còn hạng thô kệch như mụ Lôi Thải Phượng lại càng không có cửa để so bì.
Hai cô gái đẹp vừa bước ra sân, tôi cũng bám theo sau. Tôi thấy trước cửa căn phòng mình tiểu bậy đêm qua có hai gã đàn ông đang đứng. Họ có thân hình cao ráo, mặt mày cũng khôi ngô, ánh mắt vừa chạm vào hai cô gái là như bị dán chặt vào đó. Tôi đoán, hai kẻ nói chuyện đêm qua chính là bọn họ.
Hai gã tiến lại gần, coi tôi như không khí, đi thẳng đến trước mặt hai cô gái chào hỏi:
"Hai em gái đây là người ở dải nào thế?"
Một trong hai cô đáp lại bằng giọng lạnh lùng:
"Núi chia hai ngả, nước chảy đôi bờ, không cùng đường thì đừng có hỏi nhiều."
Hai gã nọ cười cười:
"Hóa ra đều là dân trong nghề, hay là để lại cái danh tính cho biết nhau nhỉ?"
Hai cô gái chưa kịp trả lời thì từ cửa tiệm, một gã đàn ông thấp đậm, chắc nịch bước ra. Gã hắng giọng một tiếng đầy uy quyền, hai cô gái liền lẳng lặng quay vào phòng. Gã đàn ông này lách qua giữa hai kẻ kia, cố tình dùng vai huých mạnh một cái. Dù gã thấp hơn họ hẳn một cái đầu, nhưng cú va chạm khiến hai gã kia lảo đảo lùi lại mấy bước, mặt đều biến sắc. Gã đàn ông thấp đậm chẳng thèm ngoảnh đầu, chỉ quẳng lại một câu:
"Đường cái quan rộng thênh thang, mỗi bên đi một nửa. Biết điều thì ngậm miệng lại."
Hai gã đẹp mã nhìn nhau rồi lủi thủi quay về phòng, đóng sầm cửa lại. Tôi liếc thấy trên vách tường trước cửa phòng họ, vệt nước tiểu đêm qua của mình vẫn còn chưa kịp khô.
Sau này tôi mới biết, gã đàn ông thấp đậm kia chính là chủ gánh xiếc, tên Cao Thụ Lâm. Còn hai cô gái xinh đẹp kia là trụ cột của gánh xiếc, tên gọi Thanh Nhi và Thúy Nhi.
Hai gã đỏm dáng kia tên gì thì tôi không rõ, về sau cũng chẳng bao giờ gặp lại, nhưng những lời nói bí hiểm đêm ấy cứ in đậm trong trí nhớ của tôi. Phải đến mười năm sau, tôi mới biết lai lịch của bọn chúng, và hiểu được những lời chúng nói đêm đó có nghĩa là gì.
Bọn chúng là đám "trai lơ" hành nghề lừa đảo, chuyên đi tìm những tiểu thư nhà giàu để lừa tình lừa tiền.