Tổ Bịp
- 3801 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 66. Dọc đường toàn bọn sái tinh
Chúng tôi tiếp tục rảo bước, phía trước bỗng xuất hiện một người gánh hàng đang đi tới. Hai tay gã đánh sang hai bên, chiếc đòn gánh trên vai nhún nhảy theo từng bước chân, phản chiếu ánh nắng lấp loáng như con cá đang quẫy mình trên bãi cát. Hai đầu đòn gánh treo hai thùng gỗ đầy ắp thứ bột khoai nấu đông, chính là món lương phấn.
Đi đường khát cháy cổ, chúng tôi mỗi người gọi một bát. Thứ bột khoai tím thẫm được múc ra, rưới thêm xì dầu, dấm chua, dầu ớt, lại rắc thêm tỏi băm, hành lá vụn rồi nhỏ vào vài giọt dầu thơm. Hai tay bưng bát lương phấn mát lạnh, nước miếng đã chực trào ra trong miệng.
Ăn xong, người bán hàng lại quẩy gánh đi tiếp, chúng tôi cũng tiếp tục hành trình.
Sau cơn mưa, không khí trong lành đến lạ, chim nhỏ chao liệng giữa tầng không khiến lòng người khoan khoái. Một cỗ xe ngựa từ phía trước chạy lại. Người đánh xe là gã đàn ông to lớn, còn ngồi trong xe là một người má khỉ miệng nhọn. Cỗ xe phủ tấm rèm vải kín mít. Kẻ ngồi trong khẽ vén rèm ló đầu ra nhìn chúng tôi rồi lại vội vàng buông xuống.
Thời ấy xe hơi còn là vật xa xỉ, giới nhà giàu ra ngoài chủ yếu dùng xe ngựa. Trên quan đạo, loại xe này chẳng hiếm lạ gì nên chúng tôi cũng chẳng để tâm.
Bỗng từ vệ đường vang lên tiếng "chít chít" ngắn ngủi đầy vẻ kinh hoàng. Tò mò, chúng tôi chạy lại xem thì thấy dưới rãnh cỏ, một con rắn dài hơn thước đang quấn chặt lấy một con chuột đồng. Thân rắn siết càng lúc càng chặt, mắt chuột lồi cả ra ngoài, trông vô cùng thảm thương.
Động lòng trắc ẩn, chúng tôi nhặt cành cây khô bên đường cố tách con rắn ra. Con chuột nằm bẹp trên mặt đất, bụng phập phồng run rẩy, chẳng còn chút sức tàn nào để bò dậy.
Cả bọn định mổ con rắn ra xem trong bụng nó chứa thứ gì, nhưng ngặt nỗi không có dao. Đang lúc loay hoay thì thấy người bán lương phấn hồi nãy thở không ra hơi chạy tới, hớt hải hỏi xem có thấy ai vừa chạy qua đây không.
Tôi hỏi:
• Có chuyện gì thế?
Người bán hàng lau mồ hôi nhễ nhại trên trán, mếu máo:
• Gặp phải phường trộm cắp rồi.
Tôi thắc mắc:
• Đường vắng thế này lấy đâu ra trộm? Mà dù có thật, hắn trốn đi đâu cho thoát được?
Người bán lương phấn kể lể:
• Vừa rồi trên đường, tôi gặp một gã muốn ăn lương phấn. Tôi lấy ghế gỗ cho gã ngồi tử tế. Gã ăn một miếng rồi bảo cho thêm dầu ớt với giấm. Tôi định ra tay thì gã bảo cứ để gã tự ý, muốn ăn cay chua thế nào gã tự biết. Tôi nghĩ cũng phải, bèn để mặc gã. Gã đứng dậy, cúi người chan thêm gia vị vào bát. Đúng lúc ấy, phía sau gã có một gã thanh niên đi tới, nháy mắt ra hiệu cho tôi, lại còn ra dấu bảo tôi đừng nói gì với người đang ăn. Tôi tưởng hai đứa là bạn bè thân thiết nên mới giở trò trêu chọc nhau. Thanh niên kia rút cái ghế dưới mông gã đang ăn rồi chui tọt vào bụi cây bên cạnh. Gã kia trộn xong xuôi, chẳng mảy may nghi ngờ gì cứ thế ngồi phịch xuống, kết quả là ngã ngửa ra một cái đau điếng.
Gã đứng bật dậy, đỏ mặt tía tai cãi vã với tôi, mắng tôi sao lại giở trò tai quái. Tôi bảo không phải tôi, là bạn gã vừa rút ghế đấy chứ. Ai dè gã lại bảo, gã là người nơi khác mới tới đây buôn bán, chẳng quen biết ai ở vùng này cả. Tôi nghe xong mới rụng rời chân tay, biết là bị kẻ trộm nẫng mất cái ghế rồi, thế là vội vã đuổi theo đến tận đây.
Nghe đến đó, tôi lập tức hiểu ra cơ sự. Người mà gã gặp không phải là Lão Vinh chuyên trộm đạo, mà là Lão Nguyệt chuyên nghề bịp bợm. Nếu là Lão Vinh thì tuyệt đối không bao giờ chỉ lấy cái ghế mà bỏ qua gánh hàng. Hơn nữa, một cái ghế đáng bao nhiêu tiền, hạng tay nghề cao như Lão Vinh chẳng bao giờ thèm để mắt đến. Huống hồ nơi này là ngoại ô vắng vẻ, Lão Vinh có điên mới lặn lội xa xôi đến đây chỉ để trộm một cái ghế gỗ cũ kỹ.
Tôi bảo người bán lương phấn:
• Anh mau quay lại xem gánh hàng của mình còn không?
Gã đáp:
• Chắc vẫn còn chứ, tôi nhờ gã khách ăn lương phấn trông hộ rồi.
Tôi đẩy nhẹ vai gã giục giã:
• Không chắc đâu, anh đi xem ngay đi thì hơn.
Người bán lương phấn hấp tấp chạy đi, tôi cùng Mắt Híp và Anh Đẹn bám theo sau. Mắt Híp hỏi tôi:
• Cậu em nói thế là sao? Sao lại đoán gánh hàng mất rồi?
Tôi đáp:
• Nhìn tình hình này, tám chín phần là gã gặp vận đen rồi. Gánh lương phấn ấy chắc chắn bị lừa mất. Bọn đó là một phường chuyên giở trò sái tinh (lừa bịp).
Anh Đẹn hỏi:
• Sao vùng này lắm kẻ lừa gạt thế nhỉ?
Tôi giải thích:
• Em đoán quanh vùng này có một tay giang hồ thứ thiệt, tinh thông đủ loại trò bịp. Đám này chắc đều là đồ đệ của lão. Chúng ở đây mượn người qua đường để luyện tay nghề, đến khi thành thạo mới tản đi khắp nẻo hành tẩu giang hồ.
Chúng tôi vừa đi được vài trăm thước thì nghe tiếng kêu khóc thảm thiết của người bán lương phấn. Chạy đến nơi, chỉ thấy một cỗ xe ngựa đang phóng vút đi, gã đánh xe quất roi vun vút, chẳng ai đuổi kịp.
Người bán hàng vừa khóc vừa kể, lúc gã vừa chạy tới thì thấy gã ăn lương phấn đang khiêng gánh hàng của mình đặt tót lên xe ngựa. Trên xe có kẻ mặt khỉ miệng nhọn đón lấy, rồi cả hai leo lên xe, chạy mất hút.
Thời đó, một gánh lương phấn là cả cơ nghiệp của người bán rong. Chỉ trong chớp mắt, gã đã mất trắng gia sản, đành ngồi phịch xuống đất mà gào khóc. Chúng tôi cũng chẳng giúp được gì, đành bùi ngùi bỏ đi.
Trên đường về, Mắt Híp vẫn vò đầu bứt tai:
• Một kẻ bảo mới tới, sao lại quen được gã đánh xe nhỉ?
Tôi nói:
• Đám ấy vốn cùng một giuộc, chuyên bày trò lừa đảo, chính là hạng Lão Nguyệt trong giang hồ. Nghề của Lão Nguyệt biến hóa khôn lường, người không sành sỏi chỉ cần sơ sẩy một chút là mắc bẫy ngay. Trước đây em từng theo nghề Lão Vinh, mà Lão Vinh với Lão Nguyệt vốn có dây mơ rễ má, nghề của người này lẫn trong nghề của người kia. Cảnh giới cao nhất của nghề trộm thực ra chính là nghề bịp của Lão Nguyệt. Sư tổ của em là một hảo hán, ghét ác như thù, sau này bị quân Nhật hại chết. Lão từng dạy em rằng: "Trộm giỏi nhất là không trộm". Em hỏi không trộm là thế nào, lão mới bảo: "Không trộm tức là lừa. Lừa chính là dàn cảnh, mà dàn cảnh chính là cái đạo của Lão Nguyệt".
Mắt Híp hỏi:
• Ý chú là gã ăn lương phấn đó không phải người nơi xa đến?
Tôi đáp:
• Đương nhiên là không. Đám Lão Nguyệt ấy đều là đồng bọn cả. Tên ăn lương phấn xuất hiện trước để gây lòng tin. Sau đó gã rút ghế mới ló mặt, vừa để dẫn dụ người bán đi nơi khác, vừa tiện tay mang luôn cái ghế. Người bán thấy thế thì tưởng hai đứa quen nhau nên mới đùa nghịch. Theo lẽ thường, không quen biết ai lại làm trò đó? Gã ăn lương phấn ngã sấp mặt liền quay sang trách cứ người bán, lại khẳng định mình chẳng quen kẻ rút ghế. Người bán nghe thế liền hốt hoảng nghĩ mình bị trộm ghế, vội vã đuổi theo. Còn gã ăn lương phấn, nhân lúc chủ gánh chạy đi, liền bê cả gánh hàng đặt lên cỗ xe ngựa chờ sẵn rồi chuồn êm.
Mắt Híp chép miệng:
• Lão Nguyệt cao tay thật, người thường ai mà nghĩ ra nổi trò ấy.
Anh Đẹn tiếp lời:
• Hèn chi bọn Lão Nguyệt sống khỏe giữa chốn giang hồ, mỗi kẻ đều có tuyệt chiêu hộ thân.
Chúng tôi lại tiếp tục lên đường, chẳng mấy chốc cổng thành đã hiện ra trước mắt. Trước cổng có một kẻ bán hàng rong, bày mấy con dao cạo cán gỗ, lưỡi sáng loáng. Giang hồ gọi hạng bán dao cạo này là "khiêu thanh tử".
Ba chúng tôi rời Trương Gia Khẩu đã hơn một tháng, suốt thời gian ấy chưa được rửa mặt tử tế lấy một lần. Mặt bám bụi dày thành lớp, râu ria xồm xoàm, tóc tai rối bời như bụi gai ngoài đồng. Gã bán dao cạo thấy chúng tôi đi tới thì hăng hái rao:
• Dao của tôi sáng bóng như gương, chỉ hai hào một cái! Ba vị ghé xem đi, qua khỏi đây chẳng còn hàng nào tốt hơn đâu!
Chúng tôi lờ đi, cứ thẳng hướng cổng thành mà tiến. Thấy vậy, gã bán dao cạo liền chạy lại mời mọc:
• Nhìn ba vị là biết vừa trải một chặng đường vất vả, dao tôi sắc đến mức thổi đứt cả cọng lông, đúng lúc các vị cần dùng đấy. Ba vị mua lấy ba cái, không thì cũng lấy một cái mà phòng thân chứ?
Thấy gã cứ nằn nì mãi, tôi bèn cầm lấy con dao, đưa lên sát mặt thử một chút rồi lạnh giọng:
• Thứ này gọi là "lý tinh khẩn nhi" (đồ giả).
Gã bán dao ngẩn người:
• Cái gì? Anh nói cái gì cơ?
Tôi bồi thêm:
• Đây là đồ giả.
Mặt gã sầm lại, chặn ngay trước mặt chúng tôi cãi lý:
• Ba vị trông cũng đâu còn trẻ người non dạ gì, sao lại ăn nói hồ đồ thế? Dao của tôi thế nào mà bảo là "lý tinh khẩn nhi"? Cậu nói rõ xem nào!
Tôi vừa nghe gã hỏi thế liền hiểu ngay: gã chẳng phải dân giang hồ. Bởi "lý tinh khẩn nhi" là tiếng lóng, kẻ trong nghề không ai không biết.
Tôi nói:
• Đã không phải hạng "ngật cách niệm" (dân trong nghề) thì tránh ra chỗ khác.
Gã bán dao vẫn không chịu nhường đường, lải nhải không ngớt:
• Tôi bán dao ba chục năm nay, toàn dao thép thật, cắt sắt như bùn, chưa từng ai dám bảo tôi bán đồ giả đồ dối gì hết. Cậu tuổi còn nhỏ mà ăn nói bậy bạ, sau này tôi còn buôn bán ra sao?
Mắt Híp thấy gã nói mãi không thôi, liền đẩy mạnh một cái, quát:
• Tránh ra! Chó khôn không cản đường.
Gã bán dao ôm đống dao loạng choạng lùi lại, mặt lộ rõ vẻ sợ hãi, nói líu ríu:
• Được, được, tôi chịu thua. Nhưng dao của tôi tốt thế này, các anh mua lấy một cái đi, ai mà chẳng cần dùng đến.
Chúng tôi không thèm đáp, sải bước qua mặt gã tiến vào cổng thành. Gã bán dao vẫn ôm đống dao lẽo đẽo đi theo phía sau. Càng đi chúng tôi càng bước nhanh hơn. Gã bán dao có vẻ lưỡng lự, cứ giữ khoảng cách xa xa, không dám lại gần nhưng cũng chẳng chịu bỏ cuộc. Khi chúng tôi bước vào khu đại viện nghỉ chân, quay đầu lại mới thấy gã đã xoay người bỏ đi.
Lúc ấy, chẳng ai trong chúng tôi ngờ được mình đã sa vào cái bẫy tinh vi của Lão Nguyệt. Gã bán dao cạo đó thực chất chính là một tay "ngật cách niệm" thứ thiệt.
Chiều hôm ấy, một đứa trẻ đi vào đại viện, tay cầm phong thư, vừa bước qua ngưỡng cửa đã hét lớn:
• Ai là đại đương gia?
Quang Đầu từ trong phòng bước ra hỏi có chuyện gì. Đứa bé nói:
• Có người ngoài phố nhờ cháu mang lá thư này đến cho đại đương gia.
Quang Đầu nhận thư, liếc qua vài hàng là hiểu rõ nội dung. Đó là một bức chiến thư. Đứa bé vẫn chưa đi, chìa bàn tay lấm lem ra bảo:
• Người nhờ cháu đưa thư bảo là sau khi đọc xong, ngài sẽ thưởng cho cháu ít tiền.
Quang Đầu lấy một tờ bạc đưa cho nó. Đứa bé mừng rỡ cười toe toét chạy biến. Theo quy củ giang hồ, bất kể người đưa đến thư gì, dù là thư mời hay chiến thư, cũng đều phải thưởng tiền cho họ. Đọc xong, Quang Đầu lặng thinh, sắc mặt nặng nề khác hẳn thường ngày.
Chúng tôi thấy lạ bèn vây quanh hỏi chuyện. Quang Đầu nói:
• Có kẻ gửi chiến thư, hẹn trưa mai giao đấu ngoài thành. Nếu không dám ứng chiến thì phải cuốn gói quay về ngay, sau này không được đặt chân lên con đường này nữa.
Báo Tử hỏi:
• Ai gửi thế?
• Không biết.
• Tiêu cục mình ở Diêm Trì có thù oán gì không?
• Không có.
• Vậy dọc đường có đắc tội với ai không?
Quang Đầu lắc đầu:
• Không.
Báo Tử nói:
• Nếu không có thù oán, người ta đâu rảnh mà vô cớ hạ chiến thư. Cứ tùy cơ ứng biến, ngày mai ra xem thế nào đã.
Chẳng ai đoán được kẻ nào đứng sau, cũng không hiểu chúng tôi đã chạm vào vảy ngược của ai. Đã nhận chiến thư thì bắt buộc phải ứng đấu. Giờ chỉ có hai con đường: một là cụp đuôi quay về, hai là liều mình một chuyến. Dù có đánh cũng phải nhớ kỹ: tuyệt đối không được hạ thủ nặng tay, chỉ được "điểm đến là dừng". Nếu để đối phương thương vong, rắc rối sẽ bám theo không dứt. Đoàn vận tiêu đi đường chẳng khác nào người đàn bà gánh trứng, ai cũng có thể chạm vào mình, nhưng mình tuyệt đối không được chạm đến ai.
Sáng hôm sau, ăn xong bữa đầu tiên, chúng tôi lập tức xuất phát. Ở vùng nông thôn Tây Bắc, người ta chỉ ăn hai bữa sáng và chiều, cuộc sống nông phu quanh năm vất vả cực nhọc giữa khí hậu khắc nghiệt.
Địa điểm hẹn gặp là lò gạch bỏ hoang ngoài thành. Lò gạch xây hình tròn như lều Mông Cổ, trên đỉnh có lỗ thông thiên để quan sát hỏa hầu. Đối phương có chừng bảy tám người, chúng tôi cũng tương đương, số còn lại ở nhà giữ hàng. Kẻ cầm đầu bên kia là một gã béo ục ịch, mặt đầy ngang dọc, mỗi bước đi lớp thịt mỡ lại rung rinh. Bên cạnh gã là đám người cao thấp không đều, nhìn qua là biết dân lăn lộn giang hồ.
Bọn chúng đến sớm hơn, đứng chờ trước cửa lò gạch. Thấy chúng tôi, gã béo kéo chiếc ghế mây ra ngồi chễm chệ. Sắp giao đấu mà gã vẫn đủng đỉnh mang theo cả ghế mây, rõ là không coi ai ra gì. Bên chúng tôi có Quang Đầu, Báo Tử, Mắt Híp và tôi. Anh Đẹn ở lại trông hàng.
Vừa đến nơi, tôi đã hiểu ngay nguyên cớ. Trong đám đối phương có gã ria mép bị chúng tôi tẩn cho một trận tơi bời bên bờ sông hôm qua. Tôi và Mắt Híp liếc nhau, lòng thầm kinh hãi. Gã ria mép vừa thấy chúng tôi liền ghé tai thì thầm với gã béo. Ánh mắt gã béo quét về phía tôi, sắc lẹm như chim ưng.
Quang Đầu vẫn chưa hay biết chuyện chúng tôi lén ra ngoài đánh nhau. Nhìn đám này, rõ ràng là phường Lão Nguyệt, vậy gã béo kia chính là đại đầu lĩnh của chúng. Đúng là xui tận mạng, giẫm phải cứt chó mà con chó này lại có chủ.
Tôi chợt ngộ ra tất cả. Chuyện hôm qua là một màn lừa đảo liên hoàn. Bị chúng tôi đánh, bọn ria mép chạy vào thành tìm đồng bọn. Gã bán lương phấn bị lừa sạch gia sản để "dằn mặt" chúng tôi. Gã bán dao cạo ở cổng thành cố tình dây dưa để dò tìm chỗ trọ. Chúng tôi đã hoàn toàn sa vào lưới của Lão Nguyệt. Trong giang hồ, Lão Tra nổi danh về cướp, Lão Vinh nổi danh về trộm, còn Lão Nguyệt nổi danh về bịp, quả nhiên "áo trời không vết may".
Quang Đầu bước lên, chắp tay thi lễ:
• Huynh đệ từ xa tới, không rõ quy củ nơi đây. Nếu có mạo phạm, xin đại ca rộng lòng xá lỗi.
Gã béo hừ một tiếng khinh khỉnh:
• Các ngươi tự phụ là "tiêm quải tử" (cao thủ võ lâm), lại có "vạn nhi" (danh tiếng tiêu cục) nên định cưỡi đầu cưỡi cổ bọn ta à?
Quang Đầu chau mày:
• Đại ca nói vậy là có ý gì?
Gã béo chỉ thẳng vào tôi và Mắt Híp:
• Hỏi hai thằng nhãi kia thì rõ.
Quang Đầu quay lại nhìn Mắt Híp đầy giận dữ, Báo Tử cũng nhìn tôi nghi hoặc. Mắt Híp đỏ bừng mặt không nói nên lời, tôi đành đỡ lời:
• Bọn họ là đám Lão Nguyệt chuyên nghề lừa gạt, trên đường bắt nạt một thư sinh nghèo, chúng tôi thấy chướng mắt nên mới can thiệp.
Quang Đầu hiểu ra, ánh mắt dịu lại. Ông chắp tay bảo gã béo:
• Đại ca đại lượng, xin đừng chấp nhặt bọn trẻ. Tiểu đồ ngu muội, mạo phạm oai hổ, về tôi nhất định sẽ nghiêm trị.
Lời nói nhún nhường nhưng ngầm chỉ trích đám ria mép làm càn. Gã béo chẳng chịu, quát:
• Hai đứa này phải ở lại, những người khác có thể đi!
Quang Đầu cứng giọng:
• Đại ca nói đùa rồi. Hai đứa này là người của tôi, tôi sẽ dạy dỗ sau. Anh em giang hồ còn gặp nhau dài dài, chúng tôi hành nghề bảo tiêu cũng có chút quen biết ở đây, coi như nửa người bản xứ. Đại ca nể mặt cho đi, coi như thuận cho người cũng là thuận cho mình.
Gã béo vung tay:
• Không có chuyện thuận gì hết! Hoặc để người lại rồi cút, hoặc giao đấu thắng bại do trời. Tiêm quải tử thì sao? Ta đây chẳng sợ!
Quang Đầu thấy không thể thương lượng, bèn cất giọng sang sảng:
• Tổ sư gia để lại bát cơm này, bằng hữu định ăn sạch cả sao? Huynh đệ ta sống nhờ con đường này, xin bằng hữu mở cho một lối đi.
Đó là tối hậu thư của nghề bảo tiêu. Gã béo cười gằn:
• Hôm nay hoặc là "quải liễu thái nhi" (đổ máu) hoặc là "thổ liễu điểm nhi" (nhận thua).
Quang Đầu hô to:
• Luân tử bàn đầu, tiên hổ đương phong! (Anh em chuẩn bị, đánh lui địch chứ không lấy mạng).
Hai bên ước định "tam đả nhị thắng". Nếu tiêu cục thua phải xin lỗi và bỏ con đường này; nếu Lão Nguyệt thua phải để tiêu cục đi qua yên ổn. Trận đầu Mắt Híp xung phong ứng chiến để chuộc lỗi. Đối thủ là một gã thấp người nhưng âm hiểm, mắt sắc như dao, quai hàm mọc chòm râu xồm xoàm dữ tợn.
Cả hai đứng giữa bãi đất trống, mắt gườm gườm nhìn nhau. Mắt Híp tin vào lối "lấy nhanh thắng nhanh", vừa thấy đối thủ chớp mắt liền lao lên đấm thẳng vào ngực. Gã râu xồm lùi lại rồi xoay người đá ngược rất bài bản. Tôi kinh hãi nhận ra gã râu xồm là một cao thủ thực thụ, không phải hạng lừa bịp thông thường.
Trận đấu kết thúc nhanh chóng. Mắt Híp vì nhớ lời sư phụ không được hạ sát chiêu nên ra đòn dè dặt, trong khi gã râu xồm toàn nhắm vào chỗ hiểm. Kết cục, Mắt Híp thua trận, cổ bị bóp tím bầm. Một trận đã thua, hai trận sau bắt buộc phải thắng, nếu không tiêu cục coi như mất đường làm ăn.
Trận thứ hai, Báo Tử xin ra sân thay Quang Đầu. Chú đứng giữa bãi đất, cao lớn vạm vỡ như thiên thần hạ phàm. Đối phương cử ra một gã tóc rẽ ngôi trẻ tuổi. Vừa vào thế, gã tóc rẽ ngôi đã tung quyền cực nhanh, nhưng Báo Tử vững chãi như bàn thạch, hóa giải mọi đòn đánh. Thấy đối thủ hở sườn, Báo Tử dùng chiêu "tứ lượng bạt thiên cân" quật gã ngã sấp xuống đất.
Tưởng gã sẽ nhận thua, nào ngờ gã bật dậy lao vào. Báo Tử giơ tay chặn thì bỗng thấy cổ tay rát buốt, máu tuôn xối xả. Hóa ra gã giấu "ám thanh tử" (ám khí) trong kẽ tay. Báo Tử nổi giận, chộp lấy cổ tay gã vặn mạnh một cái nghe "rắc" khô khốc. Gã đau đớn buông tay, để lộ một vòng sắt bán nguyệt gắn ba mũi nhọn.
Cả hai bên đều chấn động trước sự việc này. Đúng lúc đó, Anh Đẹn từ xa chạy lại, ghé tai Quang Đầu thì thầm mấy câu. Sắc mặt Quang Đầu lập tức biến đổi, ông vung tay quát lớn:
• Đi thôi!
Dứt lời, ông dẫn đầu bỏ đi ngay lập tức. Chúng tôi và Báo Tử vội vàng bám theo. Khi gần ra khỏi khu lò gạch, tôi ngoảnh đầu nhìn lại, thấy gã béo vẫn đứng đó, nụ cười nham hiểm hiện rõ trên khuôn mặt phì lèo của gã.