Tổ Bịp

  • 6752 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 89: Quỷ họa phù
Ở chốn này, chú cháu tôi thân cô thế cô, lẻ loi trơ trọi, cảm giác hệt như rơi tõm giữa biển khơi mênh mông. Trong khi đó, Đại Bài lại là thổ địa vùng này, lúc ả tháo chạy chắc chắn đã bố trí ám tiêu theo dõi và bám đuôi chúng tôi. Khổ nỗi, tôi và Tam sư thúc chẳng thể biết đám người kia ẩn nấp nơi nào, có thể ở ngay trên tán cây đại thụ ven đường, hay núp sau bất kỳ sườn đồi nào mà chúng tôi đi qua. Tình thế bỗng chốc trở nên hung hiểm khôn lường.
Chúng tôi quyết định đi tìm lão già gầy đét kia, bởi ở đây lão là người duy nhất chúng tôi có thể nhờ cậy. Tôi đi trước, Tam sư thúc đoạn hậu. Tay tôi nắm chặt cán dao, tay sư thúc lăm lăm cung điêu, cảnh giác quan sát hai bên, lo sợ nguy hiểm có thể ập đến bất cứ lúc nào. Chúng tôi giữ khoảng cách chừng trăm mét, để lỡ một người trúng mai phục thì người kia còn kịp ứng cứu. 
Khi chúng tôi tiến vào thung lũng dẫn đến ngôi làng của lão già gầy đét, phía sau có hai người cưỡi ngựa đuổi tới. Tam sư thúc thấy họ liền tránh vào lề đường nhường lối. 
Hai người này cho ngựa chạy nước kiệu, thi thoảng lại cất tiếng cười sảng khoái. Lúc đi ngang qua Tam sư thúc, một gã cất tiếng hỏi: "Này lão hương thân, đường này có phải đi Đông Trần Trang không?"
Tam sư thúc chưa từng nghe đến Đông Trần Trang vì ông không phải người vùng này. Sư thúc nheo mắt quan sát kỹ hai gã kia nhưng không nói một lời, thấy bọn họ ăn vận bình thường, dáng vẻ phong trần mệt mỏi hệt như khách đi đường xa, chẳng có điểm nào khả nghi, sư thúc mới lắc đầu đáp: "Không biết, anh hỏi người khác xem."
Hai gã đó lướt qua Tam sư thúc, tiếp tục thong thả tiến về phía trước, đến chỗ chỉ còn cách tôi vài trượng. Tam sư thúc vẫn luôn dõi mắt theo từng cử động của bọn họ, đột nhiên thấy gã đi đầu thò tay phải xuống thắt lưng.
Tam sư thúc thét lớn: "Ngai Cẩu, cẩn thận!"
Nhưng đã quá muộn. Gã kia đã tung sợi dây thừng trong tay ra. Dù tôi vẫn luôn đề phòng hắn nhưng không ngờ tay gã lại nhanh đến thế. Đợi lúc tôi định lao vào lề đường né tránh thì vòng dây đã từ trên trời chụp xuống, thít chặt lấy người. Tôi vung dao định chém đứt dây nhưng không kịp, gã kia thúc ngựa lao tới, giật mạnh khiến tôi ngã sấp xuống đất. Vòng dây thít chặt, tôi bị ngựa lôi xềnh xệch trên mặt đường đá lởm chởm, da thịt toạc ra, máu chảy đầm đìa. Gã còn lại thấy đồng bọn ra tay liền quay ngoắt đầu ngựa, lao thẳng vào Tam sư thúc. Thủ pháp của sư thúc cực nhanh, ông giương cung lắp tên, bắn gã kia ngã ngựa ngay tức khắc. Tiếp đó, ông bắn tiếp mũi tên thứ hai nhắm vào kẻ đang kéo lê tôi. 
Tên này cưỡi ngựa rất giỏi, hắn rạp người nấp bên hông ngựa nên mũi tên của Tam sư thúc trượt ảc tiêu. Ngay khi Tam sư thúc định bắn mũi thứ hai thì đường phía trước xuất hiện khúc cua, gã kia quất ngựa rẽ ngoặt đi, còn tôi đang bị kéo phía sau thì bị văng thẳng xuống thung lũng.
Miệng thung lũng lởm chởm đá tai mèo, cạnh đá sắc lẹm cắt đứt dây thừng, hất tôi lăn xuống dưới. May sao trời đã sang thu, lòng thung lũng phủ đầy cỏ hoang êm mượt nên cú ngã không gây thương tích quá nặng. 
Gã cưỡi ngựa kia bỏ chạy thục mạng, không dám quay đầu lại. Hắn khiếp sợ tài bắn cung của Tam sư thúc nên chẳng dám tấn công nữa.
Sau khi kéo tôi lên khỏi thung lũng, thấy mình mẩy tôi đầy thương tích, Tam sư thúc lấy cao dán mang theo bên mình, nhóm lửa hơ nóng rồi dán vào chỗ đau. Cao dán là vật bất ly thân của dân giang hồ. Loại cao này dính cực chắc, muốn gỡ ra thường phải lột theo cả một lớp da.
Tôi nhớ hồi nhỏ từng chứng kiến cảnh này ngoài chợ: Một thằng bé ăn mày kéo lê cái chân đau đến hàng bánh nướng, hạ giọng van vỉ gã làm công cho mượn nhờ bếp than hơ nóng miếng cao dán lên người. Gã làm công tốt bụng đồng ý. Cao bây giờ bóc ra là dính, chứ ngày xưa phải hơ lửa cho chảy ra mới dán được. Thằng bé ăn mày ngồi cạnh bếp than, vừa hơ cao vừa lân la trò chuyện. Gã làm công thấy thằng bé đáng thương nên cũng đáp lại vài câu. Nào ngờ miếng cao vừa nóng, thằng bé ăn mày bất thình lình ụp nguyên miếng cao dán nóng rẫy vào mồm gã làm công, rồi chộp lấy túi tiền bán bánh nướng bỏ chạy. Nó chạy nhanh như cắt, chân cẳng chẳng có vẻ gì là đau đớn, vết thương kia chỉ là giả mạo. Gã làm công thấy túi tiền bị cướp nhưng miệng bị dán chặt không thể kêu la, cũng chẳng thể bóc ra ngay được, đành bất lực nhìn thằng bé ăn mày biến mất trong đám bụi mù.
Xem ra dù bây giờ chúng tôi không muốn dây dưa với Đại Bài thì ả cũng chẳng để chúng tôi yên. Chúng tôi không có thù oán với ai ở đây, kẻ ra tay tàn độc thế này chỉ có thể là đồng bọn của Đại Bài. Chúng tôi không muốn tìm lão đầu gầy đét nữa, tránh dẫn họa về hang ổ của lão. Tam sư thúc tiễn pháp cao siêu, tôi cũng học được chút võ thuật cơ bản từ Mắt Hí, tin rằng chỉ cần cẩn trọng suốt dọc đường thì cũng không dễ gì thất thế. 
Chúng tôi đi về hướng Đông, tin rằng bọn Đại Bài cũng sẽ đuổi theo hướng này. Chỉ cần giết sạch chúng tôi thì hai con ngựa thuần chủng kia sẽ thuộc về chúng.
Hoàng hôn buông xuống, chúng tôi đến một thị trấn nhỏ và trọ lại trong khách điếm. Vì chuyến đi này quá nguy hiểm nên tôi để Lệ Mã tạm lánh ở chỗ cũ, không cho cô ấy đi theo. 
Khi vào khách điếm, chủ quán bảo tất cả phòng đã kín chỗ, chỉ còn sót lại một gian lẻ loi nằm tít trong cùng. Tôi tặc lưỡi nghĩ có chỗ chui ra chui vào còn hơn ngủ bờ ngủ bụi. Thắp đèn dầu lên kiểm tra, thấy then cài chốt cửa đầy đủ, sau cánh cửa còn có cái nêm gỗ, đóng cửa cài nêm vào thì bên ngoài không thể cạy mở được. 
Chủ quán rất keo kiệt, chẳng đổ bao nhiêu dầu vào đèn. Đèn cháy được một lúc thì tắt ngấm.
Cả ngày bôn ba mệt mỏi rã rời, chúng tôi cũng chẳng buồn gọi chủ quán, cài chặt cửa rồi lăn ra ngủ như chết.
Ngủ đến nửa đêm, tôi mơ thấy mình đang đi giữa sa mạc, trên đầu là mặt trời chói chang, dưới chân là cát vàng nóng bỏng. Mặt trời nung cát nóng rực, ngọn lửa liếm vào quần áo, liếm vào mắt cá chân. Tôi muốn hét lên nhưng miệng đã bị miếng cao dán của thằng bé ăn mày bịt chặt, chẳng biết nó dán vào mồm tôi từ lúc nào.
Đang lúc tuyệt vọng cùng cực, tôi bỗng thấy có người lay mạnh. Mở mắt ra thì thấy Tam sư thúc mồ hôi đầm đìa. Tôi nhìn quanh, kinh hãi tột độ khi thấy ngoài cửa sổ lửa cháy ngùn ngụt, ngọn lửa đang liếm vào bệ cửa. Tôi định vùng dậy vịn tay vào tường, Tam sư thúc vội giật phắt tôi lại, quát: "Tường bằng sắt đấy!"
Vách tường đen sì, cứng ngắc, quả nhiên là sắt. Tối qua mệt quá chúng tôi ngủ thiếp đi nên không kịp kiểm tra kỹ, mà lão chủ quán cũng cố tình đổ ít dầu để chúng tôi không nhìn thấy gì. 
Đây là một hắc điếm. 
Đại Bài đúng là khắc tinh của chúng tôi. Trước khi gặp ả, chúng tôi hô mưa gọi gió, làm gì cũng thuận lợi. Từ lúc gặp ả, nghe ả thao thao bất tuyệt một tràng về Giang Nam thì mọi chuyện bắt đầu xuống dốc. 
Lão chủ hắc điếm này có dây mơ rễ má gì với Đại Bài không thì chưa rõ, nhưng thiết kế ra gian phòng này chắc chắn để hại người. Khách trọ ngủ say, bên ngoài chất củi đốt, tường sắt nóng lên nhanh chóng, nung người bên trong đến chết. Đến sáng hôm sau, dọn sạch củi tro, lôi xác chết đi, căn phòng lại trở về nguyên trạng như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Xác người thì cháy, nhưng vàng bạc thì không. Lửa thử vàng, chính là đạo lý này.
Trong phòng nóng hầm hập, tôi và Tam sư thúc mồ hôi vã ra như tắm. Thấy sau cửa còn chậu nước rửa chân đêm qua, tôi bưng lên tạt vào tường, vách sắt phát ra tiếng xèo xèo, nước bốc hơi khô rang trong nháy mắt. 
Trong phòng có một cái bàn, trên bàn để ấm chén trà. Tam sư thúc túm lấy chân bàn lật mạnh, ấm chén rơi loảng xoảng xuống đất vỡ tan tành. Hóa ra, nền nhà cũng bằng sắt. 
Tường bằng sắt để ngăn người bên trong phá tường thoát thân; nền bằng sắt để chặn đường đào hầm trốn chạy. Khách nào không biết vào ở, bên ngoài châm lửa đốt thì dẫu có mọc cánh cũng khó thoát. Tam sư thúc đặt cái bàn lên trên kháng, ra hiệu cho tôi đứng lên đó, rồi người trèo lên vai tôi. Tôi hiểu ý, ông muốn xem có thoát qua đường mái nhà được không.
Mái nhà lợp bằng một lớp phên, thứ vật liệu làm nhà quen thuộc của người dân phương Bắc, kết từ nhiều thanh tre nhỏ bằng dây thừng, khi cần thì trải ra lợp mái, không dùng thì cuộn lại dựng ở góc tường. Trên phên phủ rơm rạ, trên rơm rạ trát bùn loãng, trên cùng mới lợp ngói vảy cá xếp chồng lên nhau. 
Tam sư thúc tung nắm đấm đục thủng lớp phên, mảnh tre vụn cỏ rơi lả tả xuống đầu xuống cổ tôi. 
Sau khi sư thúc phá tan lớp phên và ngói, cuối cùng một ngôi sao sáng rực rỡ cũng hiện ra, lấp lánh ngay trên đỉnh đầu.
Cả hai thở phào nhẹ nhõm, ngôi sao ấy mang đến ánh sáng của sự sống. May mà căn phòng này của hắc điếm chỉ có bốn vách và nền đúc bằng sắt, còn mái nhà thì không. Có lẽ bọn chúng sợ sắt nặng quá sẽ làm sập lớp phên. 
Tam sư thúc liên tục đấm mạnh, lỗ hổng trên mái nhà ngày càng to ra, ngàn vạn vì sao ùa vào tầm mắt, mỗi ngôi sao đều mang theo hy vọng và niềm hạnh phúc.
Tam sư thúc trèo lên trước rồi kéo tôi lên theo. Ngồi trên mái nhà, tôi hít căng lồng ngực bầu không khí lành lạnh của đêm khuya, cảm nhận niềm vui sướng tuyệt vời của kẻ sống sót sau kiếp nạn.
Bên ngoài căn nhà sắt chỉ có ngọn lửa đang cháy hừng hực, trong không trung phảng phất mùi thối rữa nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người. Chủ quán đợi lửa tàn mới vào tìm vàng bạc; còn hàng xóm tưởng nhà này đốt rác nên cũng lười ra xem. 
Bên cạnh căn nhà sắt có một cây ngô đồng, lá cây bị lửa nướng quăn queo, cành vươn ra sát mái nhà. Chúng tôi bám lấy cành cây leo sang cây ngô đồng, rồi men theo cành trèo qua tường rào, trượt xuống bên ngoài khách điếm.
Đây là một hắc điếm, nhưng liệu nó có liên quan đến Đại Bài hay không? Chúng tôi không rõ. Một cái hắc điếm tồn tại lâu như vậy mà vẫn bình an vô sự chắc chắn phải có thế lực chống lưng. Chúng tôi đang có việc quan trọng, không muốn rước thêm rắc rối nên quyết định rời đi.
Chúng tôi lặng lẽ rời xa khách điếm, mỗi khi trăng ló ra khỏi mây, chúng tôi lại nép mình vào bóng tối của mái hiên hay gốc cây, đứng im bất động cảnh giác nhìn quanh. Đến khi trăng lặn vào mây, chúng tôi lại rảo bước đi thật nhanh.
Đại Bài vừa hung hãn vừa xảo quyệt, ả đã trộm hai con ngựa thuần chủng của chúng tôi. Lẽ ra chúng tôi phải truy đuổi ả, giờ lại thành ả săn đuổi chúng tôi. Ban đầu định cho ả một bài học, giờ lại thành ả muốn dồn chúng tôi vào chỗ chết.
Khoảng canh tư, chúng tôi đến bên một ngôi chùa cổ, thấy phía sau không có ai bám đuôi nên quyết định vào chùa tá túc.
Cổng chùa đóng kín, hai bên tường viết hai chữ "Phật" thật lớn, trước cửa có cây dâu tằm cao. Tôi định gõ cửa thì Tam sư thúc ngăn lại: "Cứ tạm thời ở đây một lúc, trời sáng rồi đi tiếp. Vùng này là địa bàn của Đại Bài, nhất cử nhất động của chúng ta, ả đều nắm trong lòng bàn tay. Đợi ra khỏi khu vực này, ta sẽ tìm cách dụ Đại Bài vào tròng rồi xử lý, ả đàn bà này để lâu ắt sinh họa."
Tôi dựa lưng vào tường chùa, chợp mắt được ngay. Chẳng biết bao lâu, có khi chỉ một lát, cũng có thể là một canh giờ, Tam sư thúc lay tôi dậy. Thấy sư thúc áp tai xuống đất, tôi cũng bắt chước làm theo, chợt nghe tiếng vó ngựa từ xa vọng lại, mỗi lúc một dồn dập. Nghe tiếng vó đoán chừng có sáu, bảy con ngựa đang phi tới. Tam sư thúc ra lệnh: "Lên cây mau."
Tôi thoăn thoắt như khỉ trèo tót lên ngọn cây, sư thúc cũng leo theo sau. Ngồi vắt vẻo trên cành, tôi nhìn xuống thấy sáu kỵ sĩ đã dừng trước cổng chùa. Đám này rõ là dân giang hồ, bốn tên tản ra bốn góc canh chừng động tĩnh, hai tên còn lại đập cửa uỳnh uỳnh. 
Một lúc sau, đèn trong chùa sáng lên, tiếng ho sù sụ vọng ra, một bóng người già nua lọm khọm xách đèn bão từ thiền phòng bước ra mở cổng. Người đứng ngoài cửa hỏi vọng vào: "Có người lạ tá túc không?"
Lão hòa thượng đáp: "Không có, chỉ có mình lão nạp thôi."
Kẻ kia tiếp tục tra hỏi, còn một tên xông thẳng vào trong, đốt đuốc sục sạo khắp nơi. Ngôi chùa nhỏ hẹp, chỉ có vài gian nhà cao thấp lố nhố. Tên tra hỏi dọa: "Mấy ngày nay nếu thấy người lạ nào vào chùa tá túc thì phải báo ngay, bằng không, bọn ta mà tóm được thì sẽ đốt trụi cái chùa này của lão."
Lão hòa thượng im lặng. 
Hắn trừng mắt quát lớn: "Lão già kia, nghe rõ chưa?"
Lão hòa thượng run rẩy đáp: "Nghe rõ rồi." 
Đám người kia lục soát không thấy gì bèn lên ngựa phi về phía Đông.
Tôi ngồi trên chạc cây, nhìn bọn chúng đi xa mới thì thầm hỏi Tam sư thúc: "Bọn nào thế nhỉ?" 
Tam sư thúc đáp: "Chưa rõ, xuống hỏi lão hòa thượng xem sao."
Chúng tôi tụt xuống khỏi cây dâu, Tam sư thúc gõ cửa chùa, còn tôi cảnh giới bốn phía. 
Trong chùa lại vang lên tràng ho khan, lão hòa thượng xách đèn ra, mặt mũi còn nguyên vẻ kinh hãi. Tam sư thúc móc trong người ra mấy tờ bạc, dúi vào tay lão hòa thượng nói: "Trưởng lão đừng sợ, chủ nhân nhà tôi sai tôi biếu cụ chút tiền mua rau dưa." 
Thời đó chùa chiền không thu vé vào cửa, không có hòm công đức, không có tiền nhang đèn, nhà chùa có vườn rau xung quanh, sư sãi sống nhờ mấy luống rau tự trồng. Thi thoảng khách thập phương quanh vùng cũng cúng tiến chút ít nên đời sống tu hành rất thanh bần. 
Lão hòa thượng nhận mấy tờ bạc của Tam sư thúc, vô cùng xúc động, giọng run run hỏi: "Chủ nhân của thí chủ là ai?"
Tam sư thúc đáp: "Tôi từ phía Đông tới, vội đi đường nên dậy sớm, ban nãy gặp mấy gã cưỡi ngựa hung hăng kiểm tra hành lý, cướp mất ít đồ. Bọn người này là ai mà ngang ngược thế?"
Lão hòa thượng bước ra cửa chùa, ngó nghiêng hai bên thấy không có ai mới nhỏ giọng nói: "Lũ khốn kiếp ấy xấu xa hết chỗ nói, ai đụng đến chúng là chúng đánh, nhìn ai ngứa mắt cũng đánh. Vừa nãy chúng còn đến tìm người, thấy chùa không có ai mới bỏ đi."
Sư thúc hỏi: "Bọn chúng làm nghề gì?" Lão hòa thượng đáp: "Chúng là bá chủ một vùng này, cầm đầu là một ả đàn bà, trông đẹp như tiên mà lòng dạ rắn rết. Con gái con đứa mà cầm đầu lũ đàn ông làm chuyện ác đức, rồi sẽ bị quả báo thôi."
Tôi nghe mà thầm kinh hãi, quả nhiên là người của Đại Bài. 
Chúng tôi cáo từ ra về, lão hòa thượng tiễn ra tận cổng, hỏi: "Các thí chủ là người nơi khác đến phải không?"
Tam sư thúc đáp: "Vâng, chúng tôi đi buôn bán, chủ nhân tôi năm xưa từng chịu ơn cứu tế của trưởng lão, lòng vẫn luôn cảm kích, lần này đi ngang qua bảo sát, chủ nhân dặn tôi nhất định phải ghé thăm trưởng lão."
Lão hòa thượng ngẩn người hỏi tên chủ nhân, sư thúc bịa đại một cái tên. Lão hòa thượng ngẫm nghĩ hồi lâu nhưng không nhớ ra. Tất nhiên là không nhớ ra được rồi. 
Tam sư thúc nói: "Cả đời trưởng lão cứu tế biết bao nhiêu người, không cả nghìn thì cũng vài trăm."
Lão hòa thượng gật gù: "Khách lỡ độ đường tá túc ăn cơm chay nhiều lắm, lão nạp cũng chẳng nhớ hết được."
Tam sư thúc đi được vài bước, quay đầu lại nói: "Đa tạ trưởng lão."
Lão hòa thượng nói với theo: "Ở vùng này có hai người các thí chủ nhất định phải đề phòng, một là ả đàn bà kia, hai là một tên đạo sĩ."
Sư thúc khựng lại, sao lại lòi ra gã đạo sĩ nào nữa? 
Lão hòa thượng nói tiếp: "Ở đây có lão đạo sĩ pháp thuật cao cường, biết niệm chú, vẽ bùa, ai đắc tội với lão là trúng tà ngay. Các thí chủ nhớ cẩn thận, đừng dây vào lão."
Tôi và Tam sư thúc nhìn nhau, cả hai đều bật cười. Chúng tôi là người của phái Giang Tướng, cái nghề giả thần giả quỷ là sở trường, giờ lại lòi ra gã đạo sĩ mũi trâu biết vẽ "Quỷ họa phù", làm sao mà không diện kiến cho được? Cho dù lão không tìm chúng tôi, chúng tôi cũng nhất định sẽ tìm lão.
Chúng tôi đi về hướng Đông, dọc đường luôn để mắt quan sát người qua lại, Tam sư thúc nắm chặt cung tên trong tay, hễ thấy kẻ khả nghi là tiên hạ thủ vi cường. May mắn là không có chuyện gì xảy ra. Đến giữa trưa, chúng tôi tới một ngôi làng. Trong làng tiếng kèn trống rộn ràng, náo nhiệt vô cùng.
Đứng dưới gốc cây to đầu làng, chúng tôi thấy một hộ đang rước dâu, đường làng chật ních người, ai nấy mặt mày hớn hở, cười nói vui vẻ. 
Đám cưới nhà đại hộ, dinh cơ ba gian ba lớp, cổng nào cũng dán câu đối đỏ, nào là "Thiên tác chi hợp", nào là "Loan phượng hòa minh". Cô dâu đã được rước vào nhà, xác pháo hồng trải đầy trước cổng, chứng tỏ pháo vừa mới được đốt. Trước cổng còn có một đống tro rơm. Theo phong tục nông thôn Tây Bắc, cô dâu về nhà chồng phải bước qua đống lửa để xua đuổi tà ma dọc đường bám theo.
Nhà giàu cưới xin thế này, cả làng đều được ăn chực một bữa nên ai cũng phấn khởi ra mặt. Thậm chí khách qua đường không quen biết chỉ cần bước vào là cũng được thết đãi một bữa no nê. Gia chủ lắm thóc nhiều gạo, khách càng đông càng vui, ăn một bữa cũng chẳng làm họ nghèo đi được. Khách đông quá nên ăn theo kiểu "tiệc lưu thủy", ăn xong mâm này lại bày ra mâm khác, mỗi bàn tám người. 
Có cơm chùa ngu gì không ăn. Hơn nữa, tiệc đông người thế này, bọn Đại Bài có phát hiện ra chúng tôi cũng chẳng dám ra tay. 
Tôi và Tam sư thúc bước vào, ngồi chung một chiếc ghế dài. Chẳng ai hỏi han lai lịch, cứ đặt mông xuống là có người bưng đồ ăn lên. Nhà giàu làm cỗ cưới rất cầu kỳ, trước tiên là trà thực, tiếp đến là tửu thực, sau cùng mới là phạn thực. Trà thực là uống trà ăn bánh điểm tâm, tửu thực là uống rượu ăn món nguội, phạn thực là ăn cơm với món nóng. Rượu quá ba tuần, món ăn qua năm vị, no say phủ phê, chuyện trò trên trời dưới biển, đấy là cái thú sướng nhất của người dân quê.
Chúng tôi đang ăn trà thực, bỗng nghe hai gã bên cạnh oang oang cái mồm nói chuyện đâu đâu. Người cùng bàn nhắc nói nhỏ thôi thì chúng gân cổ lên vặc lại: "Đây có phải nhà ông đâu mà bắt tôi phải im." Người kia bảo: " Các anh nói to như thế làm chúng tôi đau cả đầu" 
Hai gã kia đốp lại: "Thấy đau đầu thì về nhà mà ngồi, ở nhà thì không ai làm phiền." 
Hai gã này giỏi ngụy biện, cãi chày cãi cối nghe phát ghét. Lúc thì chúng kể chuyện lợn nái của nhà đẻ một lứa lợn con, con nào cũng đẹp; lúc lại bêu riếu con gái nhà hàng xóm chửa hoang không ai thèm lấy. Giọng chúng to như cái loa, cả sân ai cũng khó chịu, có người ném cho cái nhìn phẫn nộ, có người bịt tai buông đũa.
Đúng lúc đó, một lão đạo sĩ đứng dậy. Lão râu tóc bạc phơ, mặt trổ đồi mồi, trông cũng phải sáu, bảy mươi tuổi. Lão rút trong túi ra hai tờ giấy vàng mã, lấy ngón tay vạch vạch vài đường rồi thả vào chậu nước, trên giấy từ từ hiện ra hình bóng hai gã nông phu. Đám đông ồ lên kinh ngạc. 
Hai gã vừa nãy còn la lối om sòm bỗng nhiên như mất hồn, mặt biến sắc, rời khỏi ghế dài, ra giữa sân xoay tít như con quay, mồm ú ớ những tiếng quái lạ. Xoay một lúc thì lần lượt ngã lăn ra đất, rồi lại lồm cồm bò dậy xoay tiếp. Ban nãy mọi người đều thấy hai gã này ngang ngược vô lý, giờ thấy chúng bị trừng phạt như thế thì không nhịn được cười khoái trá.

Bỗng đâu một người đàn ông trung niên trạc tứ tuần bước ra, chỉ tay vào lão đạo sĩ quát: "Thế giới thanh bình, càn khôn rạng rỡ, sao dám thi triển yêu thuật nơi này? Yêu nghiệt phương nào mà to gan thế!"
Lão đạo sĩ không đáp, lại móc hai tờ giấy vàng, vung tay vào khoảng không chộp một cái, vẽ vời lên giấy rồi lại thả vào nước. Lần này, trên giấy hiện ra hình ảnh một nam một nữ. Hai gã ngang ngược kia thở hồng hộc nằm bẹp xuống đất. Từ đám đông lại bước ra thêm hai người nữa, là gã trung niên kia và một cô gái trẻ tầm đôi mươi. Cô gái trẻ trung xinh đẹp nhưng lại có cử chỉ thân mật với gã trung niên, trông như vợ chồng.
Gã trung niên đứng giữa sân, vung tay hô lớn: "Tử viết: Kiến hiền tư tề yên, kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã. Hiền giả, là người hiền; bất hiền giả, là kẻ tiểu nhân. Thế nào là người hiền? Thế nào là tiểu nhân?  Kẻ giữ lễ nghĩa, cẩn trọng là hiền nhân; kẻ to mồm khoác lác, vấy bẩn người khác là tiểu nhân. Gặp người hiền, phải noi gương họ; thấy kẻ tiểu nhân phải tự răn mình. Tiên thánh dạy bảo chúng ta, gần người hiền, xa tiểu nhân là vì cớ gì? Ai trả lời được?"
Mọi người ngơ ngác nhìn gã, chẳng ai đáp lời. 
Gã trung niên tiếp tục thao thao: "Nếu ai cũng thân hiền nhân, xa tiểu nhân thì thiên hạ đại đồng, càn khôn trong sạch, đấy là thế giới mà tiên thánh á thánh hằng mong mỏi." 
Tôi nghe gã đứng giữa sân nói hươu nói vượn, khua chân múa tay, muốn cười nhưng cố nhịn. Nhìn quanh thấy ai nấy há hốc mồm, mắt tròn mắt dẹt, kinh ngạc đến mức mắt sắp lồi ra ngoài.  Xem chừng gã này là một thầy đồ gàn. Thầy đồ tuôn một tràng dài, mệt quá bèn ngồi phịch xuống đất.

Thầy đồ vừa dứt lời thì cô gái trẻ bắt đầu diễn. Cô ta đi những bước ngắn quanh sân, mắt lờ đờ, mặt buồn rười rượi, rồi cất giọng hát thê thiết:
"Em trai ngồi học bên song,
Chị ngồi xâu chỉ bên trong hiên nhà,
Mẹ già dệt vải thoi đưa,
Một nhà tần tảo sớm trưa chuyên cần.
Chị em bầu bạn quây quần,
Niềm vui sum họp muôn phần ấm êm.
Thương thay phận gái thuyền quyên,
Xuất giá là phải rời miền quê cha.
Mẹ con chị em chia xa,
Nghĩ thôi mà thấy xót xa trong lòng..."
Ngày vui của người ta mà ả lại hát cái bài lâm ly sầu thảm thế này khiến đám quản gia và gia nhân rất bất mãn. Họ từ hậu viện ùa ra xua đuổi: "Đi đi, đi ngay, đừng có ám quẻ ở đây!" 
Hai gã to mồm, cặp vợ chồng thánh hiền lảm nhảm đều bị đuổi ra ngoài. Có người hô to: "Cả lão đạo sĩ vẽ bùa này nữa."
Quản gia chưa kịp mở miệng, lão đạo sĩ nghe thấy có người nhắc đến mình, sợ bị đòn nên vội vàng đứng dậy khỏi ghế, chạy biến ra khỏi cổng lớn.
Mọi người thấy bọn họ lần lượt rời đi liền lục tục ngồi lại vào ghế, xôn xao bàn tán về chuyện vừa xảy ra. Có người trầm trồ pháp thuật lão đạo sĩ cao siêu, khiến bốn người kia hiện nguyên hình. Có người bảo gã tú tài nghèo kiết xác sao lấy được cô vợ như hoa như ngọc thế kia, người khác lại bảo vợ con nỗi gì, rõ ràng là dụ dỗ vợ lẽ của người ta bỏ trốn. Có người thắc mắc thầy đồ sao lại làm chuyện đồi bại thế, người khác bĩu môi bảo thầy đồ chuyên làm chuyện dâm ô, phường sách vở, phường xướng ca, toàn những chốn dạy hư con trẻ.
Phường sách vở chỉ mấy người kể chuyện, phường xướng ca chỉ mấy người hát tuồng, cũng giống như giới giải trí ngày nay. Từ xưa đến nay cái giới này vẫn luôn là chốn bát nháo nhất.

Bữa trà thực bị đám người kia quấy rối làm lỡ dở thời gian, người bưng khay đến dọn bàn, đặt lên bàn các món nguội để chuẩn bị vào tiệc rượu. Tôi đang suy nghĩ về lão đạo sĩ vẽ "Quỷ họa phù" và mấy trò ma mãnh của lão thì bỗng có tiếng thét thất thanh như xé vải: "Ối giời ơi, túi tiền của tôi đâu rồi? Ai thấy túi tiền của tôi không?"" 
Một người mất tiền, cả đám nháo nhào kiểm tra, rồi cũng kêu toáng lên vì ai cũng bị mất túi tiền. Tôi sờ tay ra sau, thấy quần bị rạch một đường, túi tiền bên trong cũng không cánh mà bay. 
Mọi người bắt đầu xôn xao bàn tán, dáo dác nhìn quanh tìm xem tên trộm trốn ở đâu. Đằng xa xảy ra tranh cãi, người thì bảo phát hiện ra kẻ trộm, người kia cãi lại: Anh nghi tôi là trộm à, tôi cởi hết ra cho anh xem luôn đây này.
Cả cái sân đầy người ấy, chỉ có tôi và Tam sư thúc là hiểu rõ sự tình. Kẻ trộm đã cao chạy xa bay từ lâu rồi. 
Lão đạo sĩ vẽ bùa là giả, mấy kẻ cãi nhau kia là giả, cặp vợ chồng diễn trò cũng là giả nốt. Lão đạo sĩ nổi danh vùng này, ngay cả lão hòa thượng cũng biết tiếng, chứng tỏ lão diễn trò này đã lâu mà không ai bóc mẽ. Trò "Quỷ họa phù" này, người phái Giang Tướng nhìn cái là biết ngay, nhưng người ngoài nghề thì chịu chết. Lão đạo sĩ giả vờ vẽ vẽ lên giấy vàng, mọi người tưởng thật, chỉ có tôi và Tam sư thúc biết lão đang cố tình ra vẻ huyền bí. Một tờ giấy vàng sao có thể khiến người ta điên loạn, hiện nguyên hình được? Lão đạo sĩ làm vậy chẳng qua là để thu hút sự chú ý của mọi người, để bọn lão vinh phía sau thừa cơ ra tay cuỗm sạch túi tiền của khách khứa.
Từ lúc bước chân vào giang hồ đến nay, đây là lần đầu tiên tôi bị móc túi. Chứng tỏ nơi này có cao nhân ẩn mình.
Chỉ có điều tôi vẫn chưa biết liệu lão đạo sĩ này, đám Lão Vinh kia và ả Đại Bài có phải cùng một giuộc hay không? 
Bữa tiệc hôm ấy tan rã trong hậm hực vì có quá nhiều người mất tiền. Tôi đoán đám Lão vinh hôm ấy không chỉ có một hai tên mà là cả một bầy.
Chúng tôi rời khỏi ngôi làng, hòa vào dòng người đông đúc. Tôi quan sát kỹ nhưng không thấy kẻ khả nghi, đoán rằng lão đạo sĩ và đám lão vinh là cùng một bọn, nhưng không dính dáng đến Đại Bài. Đại Bài không thể biết chúng tôi sẽ có mặt ở đám cưới này.
Đoàn ngựa của Đại Bài đã đuổi về phía đông được một quãng xa. Bọn chúng đinh ninh chúng tôi hoảng loạn tháo chạy về phía đó, thực ra chúng tôi cứ thong thả tản bộ bám theo sau lưng chúng.
Tam sư thúc nhìn tôi mỉa mai: "Mang tiếng là lão vinh mà để người ta móc mất túi tiền thế à?" 
Tôi xấu hổ đáp: "Con cứ mải nghĩ về mánh khóe của lão đạo sĩ, chẳng ngờ lại có Lão Vinh xuất hiện." 
Tam sư thúc chép miệng: "Trò mèo ấy có gì mà phải suy nghĩ? Lão đạo sĩ vừa ló mặt là ta biết ngay có âm mưu. Ta cứ tưởng con hành tẩu giang hồ bao năm nay phải đánh hơi thấy ngay chứ, ai ngờ lại ngu ngơ chẳng có chút đề phòng nào."
Tôi thắc mắc: "Con biết bốn người kia diễn kịch với lão đạo sĩ là để đánh lạc hướng cho lão vinh ra tay. Nhưng rõ ràng trên giấy vàng của lão đạo sĩ chẳng có gì, sao thả vào nước lại hiện ra hình vẽ?" 
Tam sư thúc hỏi: "Sư phụ con không dạy ngươi mấy cái này à?"
Tôi biết sư thúc nhắc đến Lăng Quang Tổ. Ông chưa kịp truyền dạy hết tuyệt kỹ cho tôi thì đã bỏ mạng trong biển lửa. Tôi đáp: "Con ở Giang Tướng Phái chưa lâu, mới học được chút lông da."
Tam sư thúc giảng giải: "Hèn gì cứ trố mắt ra nhìn như bọn phàm phu tục tử kia. Mánh lới đơn giản lắm: Lão đạo sĩ dùng nước thuốc viết chữ hoặc vẽ hình lên giấy vàng rồi phơi khô dưới nắng, thế là trên giấy chẳng còn dấu vết gì. Đến lúc diễn trò, lão vung tay vào khoảng không, giả vờ dùng ngón tay viết lên giấy, con thấy trên giấy không có gì, nhưng hễ thả vào nước là chữ viết và hình vẽ sẽ hiện ra ngay. Các loại nước thuốc khác nhau sẽ cho ra màu sắc khác nhau, loại đơn giản nhất là dùng bút lông chấm nước cháo loãng nấu từ gạo kê, viết lên giấy rồi phơi khô. Vài ngày sau thả tờ giấy ấy vào chậu nước, chữ viết trên giấy sẽ hiện lên." 
Hầy, tiếc là sư phụ Lăng Quang Tổ mất sớm, không kịp truyền thụ những tuyệt kỹ này cho tôi. Tam sư thúc tuy biết nhiều nhưng tính tình phóng túng, chẳng chịu yên ở một chỗ, lại thiếu kiên nhẫn dạy bảo đồ đệ, không bì được với sư phụ. Mỗi lần nhớ đến sư phụ Lăng Quang Tổ, lòng tôi lại tràn ngập nỗi bi thương vô hạn.

Bị Tam sư thúc chê bai, tôi thấy rất khó chịu. Muốn đuổi kịp đoàn vận tiêu đã đi xa, chúng tôi phải mất rất nhiều ngày. Nhưng giờ trên người chúng tôi không một xu dính túi, bữa tối còn chưa biết tính sao. Tôi quyết định tối nay tìm một nhà giàu kiếm chút lộ phí. Hoàng hôn buông xuống, chúng tôi đến một thị trấn nhỏ. Để tránh tai mắt của Đại Bài, chúng tôi không ở trọ mà chui vào một lò gạch bỏ hoang ngoài rìa thị trấn.
Trời đã chuyển lạnh dần, nhưng chúng tôi ôm bó rơm từ sân phơi về lót ổ nằm cũng tạm qua được một đêm. Ở đây tầm nhìn thoáng đãng, có động tĩnh gì là phát hiện được ngay, dù tình thế bất lợi cũng dễ bề tẩu thoát.
Ngồi trong lò gạch cũ nát, Tam sư thúc nói: "Giờ chúng ta cháy túi rồi, đường phía trước còn dài lắm. Muốn kiếm chút tiền với ta thì dễ như trở bàn tay, nhưng con giờ cũng lớn rồi, tối nay ta muốn xem bản lĩnh của con thế nào, xem trước khi trời sáng, con có xoay được ba trăm đồng không."
Tôi tràn trề tự tin, vỗ ngực nói: "Chuyện nhỏ, không thành vấn đề."
Tam sư thúc bĩu môi: "Đừng có mạnh mồm, bao nhiêu lần con bảo không thành vấn đề mà cuối cùng toàn xảy ra vấn đề, đúng là làm mất mặt phái Giang Tướng chúng ta."
 Sư thúc nói giọng bình thản nhưng câu nói ấy lọt vào tai tôi còn đau hơn cái tát. Tam sư thúc không phải sư phụ Lăng Quang Tổ, Lăng Quang Tổ sẽ không nói những lời cay nghiệt như thế, còn Tam sư thúc phóng túng ngang tàng, lời gì cũng có thể tuôn ra từ miệng sư thúc được.
Tôi vừa xấu hổ vừa đau đớn, gần như mất hết tự tin vào bản thân. Nhưng tôi tin chắc mình làm được, tôi đã hành nghề đơn độc bao nhiêu lần rồi, lần nào cũng thắng lợi trở về cơ mà.
Ba trăm đồng tuy không phải con số nhỏ, nhưng chỉ cần chọn đúng đối tượng, ra tay một lần là đủ. Thời ấy người ta thường cất tiền trong nhà, chỗ cất giấu nếu không phải trong tủ thì cũng là trong hòm xiểng. Đêm ấy trời tối đen như mực, tôi rời lò gạch, lang thang trên đường làng quan sát nhà cửa hai bên. Nhà nào cổng cao, bậc thềm đá trước cửa cao thì nhà đó ắt có tiền.
Giữa làng có một hộ gia đình xây nhà lầu gỗ hai tầng, thời đó người ta toàn ở nhà trệt, ai dựng được lầu gỗ thì chắc chắn là đại gia. Tôi chọn nhà này để ra tay.
Trước cổng nhà dán một đôi câu đối trắng, câu đối còn mới nguyên, chưa có vết trẻ con xé rách, tôi đoán nhà này vừa mới có tang. Nhà có người chết lại càng tốt, vì ở nông thôn từ lúc chết đến lúc an táng thường kéo dài ba bốn ngày, trong ba bốn ngày đó gia chủ ăn ngủ không yên, bận rộn ngày đêm, giờ người chết vừa chôn cất xong, họ chắc chắn ngủ say như chết, đó là thời cơ tốt nhất để tôi hành sự.
Tôi đi xuyên qua ngôi làng, quan sát địa thế. Đường làng vắng tanh, lại là đường dốc thoai thoải. Tôi tính nếu bị truy đuổi sẽ chạy xuôi dốc, xuống bên dưới khe núi. Trong khe núi đầy hang hốc, tha hồ chỗ ẩn nấp.
Chờ khoảng một canh giờ cho cả làng ngủ say, tôi mới rón rén tiếp cận ngôi nhà. Cổng nhà tuy cao nhưng tường bao lại không cao lắm, chỉ khác là tường nhà người ta bằng đất còn tường nhà này xây bằng gạch.
Hai bên đường làng là những dãy nhà và sân vườn san sát, hầu như trước sân nhà nào cũng có một đống củi. Người dân ở đây nấu nướng bằng củi nên nhà nào cũng trữ một đống trước cửa. Tôi rút một thanh củi to cứng từ đống củi, dựng vào tường rồi giẫm lên trèo qua tường rào.
Nằm rạp trên tường nhìn xuống, thấy trong sân tối om, tôi móc trong túi ra một viên sỏi ném xuống dò đường, trong sân không có động tĩnh gì.
Tôi mở cờ trong bụng, nhảy từ tường xuống sân rồi men theo góc tường lẻn ra cổng chính, mở then cài, khép hờ cổng lại. Nguyên tắc của đạo chích là phải chừa cho mình một đường lui, lỡ bị phát hiện thì cứ việc đạp cửa mà chạy bán sống bán chết. 
Trong sân không có động tĩnh gì, tôi yên tâm từng bước tiến vào sân nhà, mỗi bước đi đều vô cùng cẩn trọng, hệt như một con chuột đầy cảnh giác, khi nào thấy an toàn mới dám bước tiếp. 
Khi đến trước hiên nhà, tôi ngồi thụp xuống quan sát. Góc tường có gian bếp thấp tè, cửa bếp lại mở toang. Điều này hơi lạ, vì thường lúc đi ngủ người ta phải đóng cửa bếp để tránh chuột bọ chạy vào. Tôi đang thắc mắc thì đột nhiên thấy trong bếp dường như có bóng đen chuyển động, tóc gáy tôi dựng ngược, trong sân này có mai phục.
Tôi không dám tin vào phán đoán của mình, đêm nay không trăng, tôi không thể nhìn rõ cái gì trong đó. Gặp tình huống này chỉ còn cách nằm rạp xuống đất, nín thở cầu mong đối phương không phát hiện ra mình. 
Trong bếp không còn động tĩnh nữa, tôi nghi ngờ ban nãy mình hoa mắt. Đang thầm thấy may mắn thì bất thình lình thấy chân tường có một bóng người đang từ từ tiến về phía cổng. 
Thôi xong, trúng kế rồi! Bóng đen kia di chuyển ra cổng chính là để chặn đường lui của tôi.
Trong khoảnh khắc ấy, lỗ chân lông toàn thân tôi giãn ra hết cỡ, lông tóc cũng dựng ngược hết cả lên.

 

 

 

(Tổng: 6752 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0