Tổ Bịp

  • 6048 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 80: Bộ bộ kinh tâm
Hai ngày sau, tôi đặt chân đến huyện lỵ Sơn Đan. Huyện Sơn Đan thuộc dãy núi Yên Chi. Trong lịch sử xa xưa, nơi này từng là lãnh địa của người Hung Nô. Sơn Đan nằm ở đoạn giữa hành lang Hà Tây, là cái nôi sản sinh ra giống ngựa Hà Khúc trứ danh. Năm xưa, kỵ binh Hung Nô nhờ cưỡi ngựa Hà Khúc mà hết lần này đến lần khác xuôi về phương nam, công phá cửa ải, xâm phạm biên thùy. Hán Vũ Đế phái Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh xuất chinh, đánh đuổi người Hung Nô chạy dài về tận hồ Baikal ở phương Bắc xa xôi. Người Hung Nô đau đớn tột cùng. Dưới ánh trăng vằng vặc, họ ngoảnh nhìn về cố thổ đã mất mà ca rằng: "Mất núi Kỳ Liên, khiến lục súc của ta chẳng thể sinh sôi. Mất núi Yên Chi, khiến nữ nhi của ta xuất giá chẳng còn sắc hồng trang điểm" Núi Kỳ Liên thuộc Ninh Hạ, còn núi Yên Chi nằm ở huyện Sơn Đan, Cam Túc. Người Hung Nô bại trận rút về Bắc Hải. Thời tiết giá lạnh, gia súc chẳng thể sinh sản. Trên núi Yên Chi vốn có loài hoa cỏ dùng làm son phấn, nay lùi về hoang mạc phương Bắc mịt mù, chẳng còn tìm đâu ra loài cây ấy để làm đẹp cho vợ hiền nữa.
Khi học trường tư thục, thầy giáo từng giảng cho chúng tôi bài ca này của người Hung Nô, đến giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ.
Vừa đến Sơn Đan, trong lòng tôi dâng lên một cảm giác thân thương khó tả. Tôi cứ ngỡ như trên từng tấc đất nơi đây vẫn còn hằn in dấu chân người Hung Nô năm nào, và cả dấu chân của Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh.
Men theo con đường mòn gập ghềnh, lúc ẩn lúc hiện, tôi cứ thế đi về hướng Bắc và bắt gặp một cánh rừng. Trong rừng quả nhiên có một tòa cổ bảo. Có lẽ vì tòa thành cũ này được xây bằng đá màu đỏ sậm nên mới có tên là Hồng Diêu Bảo.
Hồng Diêu Bảo chẳng lớn lắm, bên trong là mấy gian nhà hầm thông nhau. Dù đi vào giữa ban ngày cũng cảm thấy âm u lạnh lẽo, khiến người ta phải rùng mình.
Tôi đợi ở Hồng Diêu Bảo suốt một ngày mà vẫn chẳng thấy bóng dáng Niệm Gia Thân đâu. Có lẽ lão chưa dò la được tin tức gì giá trị, tôi quyết định đi Tây Vực một mình.
Trước mặt Hồng Diêu Bảo quả nhiên có một cây liễu lớn, trên cây có tổ chim. Cái tổ được kết rất tinh xảo, tựa như cái bát cũ đặt giữa chạc ba. Bỗng tôi thấy hai con quạ đen bay tới, chúng lượn quanh tổ kêu quang quác, nghe bên trong không có động tĩnh gì, một con bèn bay tọt vào, con kia đậu trên ngọn cây canh gác.
Một lát sau, một con chim khách bay về. Con quạ trên ngọn cây từ trên cao bổ xuống tấn công. Chim khách lanh lẹ né đòn, miệng rít lên những tiếng chói tai. Quạ thì to, chim khách lại nhỏ. Quạ liên tục tấn công, chim khách đều khéo léo tránh được. Nhưng con chim nhỏ không bỏ chạy, nó vừa né vừa kêu, dường như đang báo động.
Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, một con chim khách khác bay tới. Hai con chim khách, con trên con dưới, con trước con sau, tả hữu tấn công con quạ to xác. Con quạ kia lo mặt này lại hỏng mặt nọ, lúng túng chẳng biết phải xoay xở ra sao, lông lá tơi tả, rất nhanh đã bại trận, hốt hoảng bay đi xa.
Con quạ nấp trong tổ thấy cảnh ấy cũng vội vàng chuồn thẳng. Hai con chim khách kêu ríu rít, cùng nhau trở về tổ ấm.
Tôi biết loài quạ vốn chẳng biết làm tổ, chuyên đi chiếm tổ loài khác. Hôm nay chứng kiến hai con chim khách nhỏ bé lại đánh bại được kẻ thù to lớn hơn mình nhiều lần, lòng tôi bỗng như ngộ ra điều gì.
Chim khách còn làm được như thế, huống chi là con người! Tôi nhất định phải cứu được Lệ Mã.
Tôi trèo lên cây liễu lớn, khắc một dấu chữ thập thật to lên thân cây rồi tụt xuống.
Đi được vài trượng, ngoảnh đầu nhìn lại vẫn còn thấy dấu chữ thập ấy. Tôi tin chỉ cần Niệm Gia Thân đến đây, lão nhất định sẽ nhìn rõ ám hiệu. Thấy dấu này, lão sẽ biết tôi đã rời đi và lần theo dấu vết mà đuổi theo.
Thúc ngựa chạy một mạch về phía Tây, lòng tôi nóng như lửa đốt, chỉ mong sớm tìm thấy Lệ Mã, sớm cứu nàng thoát khỏi tay đám kỵ sĩ áo trắng.
Ngày hôm ấy, tôi đến huyện Cao Đài.
Từ huyện Sơn Đan đến huyện Cao Đài, tôi đi trên hành lang Hà Tây mà vô số thế hệ đã từng đi qua, đây cũng là con đường độc đạo từ trung nguyên thông sang Tây Vực. Tôi đoán Lệ Mã và đám kỵ sĩ áo trắng chắc chắn cũng đi đường này. Vào huyện lỵ hỏi thăm, mấy người mở tiệm ven đường đều bảo, ba ngày trước quả thực có một toán người mặc áo trắng cưỡi ngựa trắng đi ngang qua. Nhưng họ không trọ lại trong thành, xem chừng đi rất vội vã.
Tôi nhẩm tính, giờ tôi chỉ còn cách họ ba ngày đường. Nếu ra sức truy đuổi, vài ngày nữa chắc chắn sẽ bắt kịp. Tôi có ngựa Hà Khúc, giống ngựa này tốc độ cực nhanh, sải chân cực lớn, những rãnh hào bình thường nó chỉ cần nhún người là vượt qua.
Tôi ghé vào một quán cơm, quán này bán món mì căn nổi tiếng nhất Cao Đài. Mì căn Cao Đài thực chất chính là lương bì Thiểm Tây, cách làm y hệt, chỉ khác mỗi cái tên gọi.
Tôi đang ăn dở bát mì căn, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng ngựa hí. Tôi bưng cả bát chạy ra, thấy mấy đứa trẻ con đang dùng ná cao su bắn vào con ngựa. Con ngựa Hà Khúc của tôi trừng mắt, hí vang một tràng dài. Tôi quát lớn một tiếng, làm bộ đuổi theo, bọn trẻ sợ hãi hét toáng lên, ôm đầu chạy trốn như chuột.
Một lão già cũng ăn mì căn trong quán bước ra. Lão hết nhìn tôi, lại nhìn con ngựa, hỏi: "Con ngựa này là của cậu à?"
Tôi gật đầu.
Lão già có vẻ hồ nghi, nhìn tôi chằm chằm rồi lại ngắm nghía con ngựa, có lẽ lão nghi tôi là Lão Vinh. Tôi ăn mặc rách rưới thế này, làm sao có được con ngựa quý đến thế.
Lão hỏi: "Cậu có biết đây là giống ngựa gì không?"
Tôi đáp: "Đây là ngựa Hà Khúc."
Lão gật gù: "Biết là tốt, cưỡi con ngựa quý thế này ra đường thì phải hết sức cẩn thận, có đi ngủ cũng phải dỏng một bên tai lên, thời buổi này loạn lạc lắm."
Tôi cảm thấy lão già lo xa quá. Nếu không phải dân sành sỏi tướng ngựa, ai mà nhận ra đây là ngựa Hà Khúc? Tôi thấy nó chẳng khác gì mấy con ngựa kéo cày ở quê. Trên đường chắc chắn có Lão Vinh, nhưng tôi là ai chứ? Tôi là đại đệ tử của bang chủ bang Tấn Bắc, hạng trộm vặt thường thường tôi chỉ liếc mắt là nhận ra ngay. Ánh mắt quân trộm cắp nhìn người khác lắm, chúng toàn nhìn lén lút, chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào mắt người ta. Hơn nữa, trộm ngựa trong giang hồ thuộc loại "tạp tặc", là hạng bét nhất. Lũ tạp tặc không có địa vị ấy sao dám giở trò trước mặt tôi? Năm xưa tay Nguyên Mộc cũng là một tên trộm ngựa, gặp tôi hắn chẳng cung kính một phép là gì, thứ bậc tôn ti trong giang hồ nghiêm ngặt lắm.
Ăn xong bát mì căn thì trời cũng đã tối. Tôi định đi tiếp, nhưng lão già bảo ra khỏi huyện Cao Đài là vào vùng núi, trong núi có bọn hưởng mã chuyên cướp bóc khách bộ hành, chi bằng cứ ngủ lại Cao Đài một đêm, sáng mai hãy tìm bạn đồng hành mà đi.
Tôi thấy lời lão nói cũng có lý, bèn quyết định ở trọ lại một đêm.
Huyện Cao Đài chỉ có duy nhất một khách điếm. Tôi dắt ngựa đi trong ánh chiều tà, đến nơi thì chủ quán bảo phòng ốc đã kín hết chỗ.
Lúc tôi dắt ngựa lang thang trên con phố lớn duy nhất của huyện lỵ, lại tình cờ gặp lão già ban nãy. Lão ân cần hỏi han, biết tôi không có chỗ trọ, mới bảo: "Nhà lão thì ở được, ngặt nỗi bất tiện quá."
Thấy lão ngập ngừng muốn nói lại thôi, tôi hỏi: "Sao lại bất tiện?",
Lão đáp: "Nhà lão còn đứa con gái chưa chồng, dẫn cậu về nhà sợ thiên hạ đàm tiếu, người ta cười cho."
Tôi bảo: "Tôi cũng chẳng cần ngủ trong buồng, cứ cho tôi nằm ngoài chuồng ngựa, ngủ cùng ngựa là được."
Lão xua tay: "Thế sao đặng?"
Tôi cười: "Đi ra ngoài, miễn có chỗ ngả lưng, duỗi thẳng được tay chân là mãn nguyện rồi."
Lão chép miệng: "Tính lão hay mủi lòng, không nhìn được người ta chịu khổ sở. Hay là thế này, cậu ngủ cùng buồng với lão, con gái lão ngủ buồng riêng, cậu thấy thế nào?"
Tôi đáp: "Thế thì tốt quá."
Nhà lão già nằm trong một con ngõ phía Đông huyện lỵ. Tôi theo lão về nhà, thấy trong ngõ có rất nhiều người ngồi hóng mát, họ vươn cổ nhìn tôi như một đàn vịt. Tôi nghĩ, huyện lỵ nhỏ bé này hiếm khi có người lạ mặt, thấy người lạ họ tò mò lắm, cứ như xem xe ô tô con vậy. Thời ấy xe hơi hiếm vô cùng, cỡ như lão Đồng mới có được một chiếc.
Con gái lão già rất xinh. Cô nàng tết một bím tóc vừa to vừa dài, đuôi tóc buộc dây đỏ. Cô con gái mang cho chúng tôi một ngọn đèn dầu rồi lui về phòng mình.
Tôi buộc ngựa trong chuồng, quay vào buồng, nằm lên kháng cùng lão già. Lão hỏi tôi quê quán ở đâu, làm nghề gì, nhà có mấy miệng ăn. Lão nhiệt tình lắm, coi tôi như người nhà, hào hứng chuyện trò. Tôi không thể nói mình là dân giang hồ, bèn bịa ra một câu chuyện để lấp liếm.
Bỗng lão hỏi: "Cậu thấy con gái lão thế nào?"
Tôi đáp: "Tốt lắm ạ."
Lão bảo: "Lão thấy cậu cũng được đấy."
Gió lùa qua cửa sổ làm tắt ngọn đèn dầu. Tôi không nhìn thấy vẻ mặt lão, chỉ thấy hơi kỳ quặc. Lão hỏi kỹ thế làm gì, tôi khen con gái lão tốt, lão khen lại tôi làm chi?
Lão tiếp lời: "Lão chỉ có mỗi mụn con gái này để nương tựa tuổi già, gia cảnh chẳng giàu có gì, nhưng con gái lão là hoa khôi của mấy chục dặm quanh đây đấy. Hay là cậu ở rể nhà lão đi, được không?"
Tôi ấp úng không biết trả lời sao, lão già bồi thêm: "Cậu tướng mạo đường hoàng, con gái lão cũng nhan sắc mặn mà, lão thấy hai đứa đẹp đôi lắm."
Tôi chẳng biết nói gì, đành im lặng. Tôi rời đoàn hộ tiêu, đi mấy trăm dặm đường là để cứu Lệ Mã, thế mà lão già này lại đòi gả con gái, bắt tôi ở rể, thế thì cứu Lệ Mã làm sao được? Mối hôn sự này tôi tuyệt đối không thể nhận. Lệ Mã mới là vợ tôi, nàng là người không ai thay thế được, dù công chúa có muốn gả cho tôi, tôi cũng sẽ thẳng thừng từ chối.
Nhưng hiện tại tôi không thể từ chối ngay, nếu từ chối, đêm nay biết ngủ ở đâu.
Lão già lại nói: "Đêm nay cậu thấy rồi đấy, cậu vào nhà lão, cả cái ngõ này đều làm chứng. Sáng mai, cả huyện lỵ sẽ biết, cậu với con gái lão có làm chuyện kia hay không, người ta cũng cho là làm rồi, con gái lão sau này còn gả cho ai được nữa."
Tôi nằm trong bóng tối im lặng nghe, cảm thấy mình đã bị lão già này ăn vạ rồi.
Thấy tôi mãi không có phản ứng, lão bèn đi ra ngoài. Tôi nghe tiếng bước chân lão đi ra sân sau, chắc là đi nhà xí.
Một lát sau, cửa phòng mở ra, tôi tưởng là lão già nên chẳng để ý. Nhưng mùi hương không đúng, người lão già nồng nặc mùi thuốc lá sợi, còn người này lại thơm mùi xà bông Tây.
Tôi còn đang hoang mang thì bóng đen ấy đã leo lên giường, ôm chầm lấy tôi. Tôi cảm nhận được hai khối mềm mại trước ngực người đó, liền hét lên một tiếng kinh hãi, ngồi bật dậy.
Lão già vừa đi ra, con gái đã lẻn vào. Hai cha con nhà này định giở trò gì vậy?
Tiếng hét của tôi làm cô con gái sững lại. Cô ta ngồi trên mép kháng, đi cũng dở mà ở cũng không xong.
Ngoài cửa bỗng vang lên tiếng ngựa hí, tôi giật thót mình, vỡ lẽ mọi chuyện. Tôi hất cô ả ra, giày cũng chẳng kịp xỏ, lao vụt ra cửa. Tôi thấy một bóng đen chạy từ chuồng ngựa ra, trèo lên tường tẩu thoát.
Lão già từ nhà xí bước ra, giả bộ ngạc nhiên hỏi: "Sao thế? Có chuyện gì thế?"
Góc tường có cây xẻng sắt, tôi vớ ngay lấy nắm chặt trong tay, có vũ khí, gan tôi to lên hẳn. Tôi lùi từng bước ra cổng lớn, phát hiện cổng chỉ khép hờ. Tên trộm ngựa đã dọn sẵn đường lui, hắn định dắt con ngựa Hà Khúc của tôi đường hoàng đi ra cổng chính.
Lão già đi nhà xí, đứa con gái lẻn vào phòng, Lão Vinh đi trộm ngựa, ba việc này trùng hợp quá mức, rõ ràng là cái bẫy giăng sẵn. Đứa con gái quấn lấy tôi trên kháng, Lão Vinh lẻn vào chuồng trộm ngựa, lão già ở bên ngoài quan sát động tĩnh. Nếu tôi làm chuyện đó với cô ả, thì dù có nghe tiếng ngựa kêu cũng chẳng thể dứt ra ngay được, mà dứt ra được thì Lão Vinh cũng đã cưỡi ngựa cao bay xa chạy rồi.
Giang hồ hiểm ác, dưới mỗi bước chân đều có cạm bẫy rình rập.
Tôi cầm lăm lăm cây xẻng, đứng trước cổng nhà lão, không dám quay vào nữa. Trong bóng tối, tôi không biết sân nhà kia còn mai phục gì không. Ở cái nơi xa lạ này, nếu tôi bỏ mạng, đám tiêu sư sẽ chẳng biết tôi chết thế nào, chết ở đâu. Nếu tôi chết, ai sẽ cứu Lệ Mã?
Tôi đứng đó chừng nửa canh giờ thì thấy đằng xa có ánh đèn đi tới. Đèn lúc tỏ lúc mờ, đến gần mới thấy là lão già báo canh đang xách chiếc lồng đèn, dắt theo một con chó cũng già nua như chủ. Con chó rất ngoan, lảo đảo bước theo ông chủ cũng đang xiêu vẹo, cả hai sinh mệnh đều đã xế chiều.
Lão già báo canh thấy tôi, dường như giật mình, lùi lại hỏi: "Ai? Làm gì đấy?"
Tôi dùng lời lẽ đã chuẩn bị sẵn để lấp liếm: "Cháu đi thăm bà con, thấy trời cũng sắp sáng rồi nên định lên đường sớm." Tôi chỉ tay vào cổng nhà kia.
Hai cha con trong sân rõ ràng là lừa đảo, mà cũng có khi chẳng phải cha con. Nhưng tôi biết giải thích thế nào với lão già báo canh? Bảo họ lừa đảo ư, họ đã lừa được của tôi xu nào đâu, tôi cũng chỉ là nghi ngờ thôi. Thế nên, khi lão già báo canh đến, tôi bịa ra một lý do, cùng lão đi vào chuồng ngựa, dắt ngựa đường hoàng rời đi.
Lão già báo canh thấy cổng mở thì không nghi ngờ gì. Lão bước vào sân gọi to: "Chu lão tam, Chu lão tam." Trong nhà có tiếng vọng ra, lão già khoác áo đi ra, nhìn tôi bảo: "Trời còn sớm, cậu dậy làm gì?"
Tôi mặc kệ lão, đi thẳng vào chuồng dắt con ngựa Hà Khúc ra.
Lão già báo canh bảo: "Cũng chẳng còn sớm đâu, qua canh năm rồi, lát nữa là sáng bạch."
Tôi cảm ơn lão già báo canh rồi lên ngựa bỏ đi.
Huyện Cao Đài có tường thành bao quanh, tường thành lâu năm đã hư hại nhưng vẫn cao ngất ngưởng, xưa kia xây để chống ngoại tộc xâm lăng nên rất khó leo trèo. Cổng thành bốn phía đều đóng kín, trời chưa sáng thì chưa mở. Tôi cưỡi ngựa đến góc tường thành, dựa lưng vào tường chợp mắt một lát, dây cương buộc chặt vào cổ tay.
Giờ thì tôi đã hiểu, trên người tôi chẳng có mấy đồng, nhưng con ngựa Hà Khúc này lại là bảo vật đáng giá. Cưỡi ngựa Hà Khúc đi trên hành lang Hà Tây chẳng khác nào bưng cục vàng đi giữa phố. Ở đây nhà nào cũng nuôi ngựa, ai ai cũng biết xem tướng ngựa.
Chẳng biết qua bao lâu, tôi bị tiếng ồn ào đánh thức, ngẩng lên thấy tia nắng rọi từ trên tường thành xuống, chiếu lên mình con ngựa. Con ngựa Hà Khúc vẫn đứng yên lặng lẽ, chờ tôi thức giấc.
Ngựa Hà Khúc quả là thông linh, thảo nào được xưng tụng là giống ngựa tốt nhất thế gian.
Tôi cưỡi ngựa ra khỏi huyện Cao Đài, cứ hướng Tây mà đi, đến giữa trưa thì thấy xa xa trên núi bên đường có một ngôi miếu nhỏ.
Vùng Tây Bắc đất rộng người thưa, tuy là đường cái quan nhưng cũng hiếm gặp bóng người. Có khi đi cả mấy ngày đêm cũng chẳng thấy một ngôi làng, một người khách bộ hành.
Khi tôi đi đến chân núi, bỗng nghe trên núi vọng xuống tiếng kêu cứu. Tiếng kêu đứt quãng, nghe chừng yếu ớt lắm.
Giữa nơi hoang vu hẻo lánh này có người kêu cứu, chẳng lẽ gặp chuyện chẳng lành? Tôi lo nếu buộc ngựa dưới chân núi sẽ có kẻ thừa cơ dắt trộm. Dù nơi đây đồng không mông quạnh, nhưng tôi vẫn phải đề phòng bọn lừa đảo giăng bẫy, Niệm Gia Thân từng bảo vùng này lắm kẻ lừa lọc lắm. Nhưng trên kia có người kêu cứu, tôi lại không thể thấy chết mà không cứu.
Tôi dắt ngựa, men theo sườn dốc chậm rãi leo lên. Càng lên cao, tiếng kêu cứu càng rõ. Cuối cùng, tôi nhận ra tiếng kêu phát ra từ ngôi miếu đổ trên đỉnh núi.
Quan sát bốn phía không thấy dấu hiệu khả nghi, tôi mới bước vào miếu. Ngôi miếu đã bỏ hoang từ lâu, bụi phủ một lớp dày. Giữa miếu có một cây cột, trên cột trói một người. Người này thần sắc bơ phờ, chợt thấy tôi thì mắt sáng rực lên. Gã ăn mặc rách rưới, da dẻ thô kệch đen đúa, trông chẳng khác gì những gã nông dân thường gặp ở Tây Bắc.
Tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây? Ai trói anh?"
Gã van vỉ: "Đại ca mau cởi trói cho tôi với, tay tôi sắp gãy rồi."
Tôi bước tới cởi dây, gã ngồi phịch xuống đất, cố lắc lắc cánh tay, hai cánh tay gã đều bị dây thừng hằn lên những vết đỏ”
Tôi hỏi: "Chuyện là thế nào?"
Gã rên rỉ: "Tôi đói chết mất, cho tôi chút gì ăn đi."
Tôi lấy trong túi vải bên yên ngựa ra một cái bánh, gã ngấu nghiến mấy miếng là hết sạch, nghẹn đến mức thở không ra hơi, tôi lại đưa túi nước, gã ừng ực uống mấy ngụm lớn mới lại sức. Gã bảo: "Tôi tên là Thuận Thành, còn anh?"
Tôi đáp: "Tôi là Ngai Cẩu."
Thuận Thành kể cho tôi nghe câu chuyện của gã.
Từ ngôi miếu đổ này đi về phía Tây chừng hai ba mươi dặm có một ngôi làng tên là Thương Gia Đài, nhà Thuận Thành ở đó, trong nhà chỉ có hai vợ chồng. Thuận Thành thật thà chất phác, cần cù tiết kiệm nên cũng có chút của ăn của để.
Hơn mười ngày trước, Thuận Thành đang làm đồng thì thấy trên núi có một thiếu niên đi đi lại lại, tay cầm mấy tờ giấy, cứ đến mỗi gốc cây lớn lại ngắm nghía hồi lâu. Thuận Thành tò mò hỏi: "Này thằng nhóc, mày làm cái gì đấy?"
Thiếu niên gắt gỏng đáp trả: "Làm việc của mày đi, liên quan đếch gì đến mày!"
Thuận Thành thấy thằng nhãi này mất dạy quá nên chẳng thèm chấp.
Thiếu niên cứ loanh quanh trên núi, nhìn ngắm từng cái cây, càng lúc càng tiến gần đến chỗ Thuận Thành. Thuận Thành định dò hỏi, nhưng nhớ lại mấy câu vừa rồi, lời ra đến miệng lại nuốt xuống.
Lần này, thiếu niên chủ động mở lời: "Bác ơi, đây có phải địa phận Thương Gia Đài không?"
Thuận Thành không muốn trả lời, nhưng tính tò mò nổi lên, muốn biết nó làm gì, bèn đáp: "Phải, là Thương Gia Đài, cậu tìm cái gì ở đây?"
Thiếu niên nói: "Không giấu gì bác, cháu là người phủ Tây Ninh. Cha cháu ngày trước phát tài, đi qua đây nghe nói phía trước có thổ phỉ chặn đường, cha cháu bèn chôn vàng nén trên núi Thương Gia Đài. Do sợ bị trộm nên chôn rải rác dưới mấy gốc cây. Dạo trước, cha cháu sắp mất mới kể lại bí mật này, còn viết cho mấy tờ giấy chỉ dẫn để đi tìm. Nhưng bao nhiêu năm qua rồi, cây cối lớn lên, cháu tìm không ra. Nếu bác giúp cháu tìm được, cháu chia cho bác một nửa."
Thuận Thành nghe thấy chuyện hời như thế, vội vứt cuốc chạy lại.
Thiếu niên đưa tờ giấy cho xem, nhưng Thuận Thành một chữ bẻ đôi không biết. Thiếu niên nhìn giấy đọc: "Dưới gốc cây vân sam, có một nén vàng."
Thuận Thành nghe đến cây vân sam thì cười ngất: "Cái thằng nhóc thành phố này, tìm gì dưới gốc cây tùng thế. Mày còn chẳng phân biệt được cây tùng với cây vân sam. Cây vân sam ở bên sườn núi kia kìa, không phải ở đây."
Thuận Thành vác cuốc, dẫn thiếu niên sang sườn núi bên kia, chỉ mấy cây to cao bảo: "Mấy cây này là vân sam đây." Vân sam là loài cây cao lớn ở vùng Tây Bắc, thường cao tới hơn năm mươi mét.
Thiếu niên cầm lấy cuốc của Thuận Thành, đào dưới gốc cây vân sam thứ nhất, không thấy gì, lại đào dưới gốc cây thứ hai, đào sâu ba thước, bỗng lưỡi cuốc vang lên tiếng "cạch" nhẹ, giống như chạm phải vật gì đó.
Thuận Thành và thiếu niên cùng nhảy xuống hố, quả nhiên moi lên được một nén vàng. Nén vàng sáng lấp lánh, rực rỡ chói mắt. Thiếu niên hỏi: "Bác có cưa không? Hai bác cháu mình cưa đôi mỗi người một nửa."
Thuận Thành đi làm đồng, làm gì mang theo cưa. Thiếu niên bảo: "Hay là thế này, cháu theo bác về nhà, về đến nhà rồi chia."
Thuận Thành hỏi: "Thế mấy nén vàng kia thì sao? Không tìm nữa à?"
Thiếu niên đáp: "Đương nhiên là phải tìm chứ, cháu từ phủ Tây Ninh đến đây, đi cả ngàn dặm đường cốt để tìm lại bảo vật cha để lại. Cháu cũng chẳng có chỗ ăn chỗ ngủ, hay là cháu ăn ở tại nhà bác, bác giúp cháu tìm vàng, lúc cháu đi cháu chia cho bác một nửa là được, bác thấy sao?"
Vàng từ trên trời rơi xuống, Thuận Thành còn chưa kịp hoàn hồn, thiếu niên đã giơ tờ giấy lên bảo: "Trên này còn ghi ba mươi nén vàng nữa."
Thuận Thành vội gật đầu lia lịa: "Được, được chứ."
Làng quê Tây Bắc hẻo lánh vô cùng, người thưa thớt, cả năm khó thấy một người lạ. Thiếu niên theo Thuận Thành vào Thương Gia Đài, chắc chắn sẽ có nhiều người hỏi han, Thuận Thành không muốn lộ chuyện nhà mình vớ được Thần Tài, bèn dặn: "Ai hỏi gì thì cứ nói tôi là cậu của cậu nhé”
Để lừa dân làng tin sái cổ, Thuận Thành khai hết tên tuổi cha mẹ, chị gái, vợ con mình cho thiếu niên biết. Ở nông thôn Tây Bắc, mỗi người trong làng là một cuốn từ điển sống, thuộc làu gia phả tám đời của tất cả mọi người. Lúc nông nhàn chẳng có việc gì làm là lại tụ tập một chỗ, hết bàn tán về chuyện người thân nhà ai ra sao, lại đến nhà này với nhà kia có quan hệ dây mơ rễ má thế nào.
Thiếu niên vào ở nhà Thuận Thành, dân làng tò mò đến chơi, hỏi han sự tình, thiếu niên đều đối đáp trôi chảy. Dân làng thắc mắc: "Người ta bảo cháu giống cậu, sao mày chẳng giống cậu mày tẹo nào?" Thiếu niên đáp: "Thủy thổ Thiểm Tây khác ở đây nên tướng mạo cũng khác. Cháu không giống mẹ, chỉ giống cha cháu thôi." Người làng không còn nghi ngờ gì nữa.
Thiếu niên rất ngoan ngoãn, thấy việc gì cũng làm. Lại thêm cái miệng khéo ăn khéo nói, nên cả làng ai cũng quý. Cuối cùng, ngay cả vợ Thuận Thành cũng tin thằng bé đúng là họ hàng nhà mình thật.
Mấy ngày tiếp theo, ngày nào thiếu niên cũng cùng Thuận Thành lên núi tìm vàng, lần nào cũng có thu hoạch. Nhìn số vàng nén giấu trong góc nhà ngày một nhiều, cả nhà Thuận Thành cười không khép được miệng.
Lại qua vài hôm, thiếu niên bảo: "Cha cháu còn ghi trên giấy, cách Thương Gia Đài hai ba mươi dặm có một ngôi chùa, trong bụng pho tượng Phật lớn có giấu một hòm châu báu. Ngôi chùa đó ở đâu bác nhỉ?"
Thuận Thành bảo: "Đi về phía Đông hai ba mươi dặm có một ngọn núi, trên núi đúng là có một ngôi chùa." Đến nước này thì Thuận Thành tin thằng bé sái cổ, cũng tin luôn tờ giấy cha nó để lại. Thiếu niên bảo chưa từng đến Thương Gia Đài, nếu chưa đến sao lại biết phía Đông có chùa? Chứng tỏ cha nó từng đến đó, và từng giấu châu báu trong bụng Phật thật. Châu báu còn giá trị hơn vàng nén nhiều. Thuận Thành thấy giấc mộng đổi đời sắp thành hiện thực rồi.
Thiếu niên nói: "Bác cháu mình đi chuyến này, toàn đi đường núi, chắc mất vài ngày, tượng Phật trong chùa chắc cũng không chỉ có một hai pho, muốn tìm cho ra cũng mất thời gian. Mấy ngày tới ăn ở đều cần đến tiền, cháu lại đang nhẵn túi, chỉ có đống vàng nén này chưa đổi ra tiền được. Hay là thế này, cháu để vàng lại nhà bác, bác mang theo ít tiền đi đường dùng tạm."
Thuận Thành nghĩ đống vàng nén nằm chình ình trong nhà mình, lại sắp đi tìm châu báu, thì không chút do dự dốc sạch tiền tiết kiệm trong nhà mang theo người, hào phóng bảo: "Chi phí dọc đường bác lo tất."
Hai người lên đường.
Thuận Thành hăm hở đi bộ đến chân núi, leo lên đỉnh núi, vào ngôi miếu đổ, bỗng từ sau tượng Phật nhảy ra mấy gã thiếu niên. Chúng trói gô Thuận Thành vào cột, lục soát lấy sạch tiền nong rồi nghênh ngang bỏ đi.
Đến lúc này Thuận Thành mới biết mình bị lừa. Thấy bọn kia đi xa rồi, gã gào thét kêu cứu, nhưng bốn bề vắng tanh. Thuận Thành bảo, đúng lúc gã tuyệt vọng nhất thì gặp được tôi.
Tôi bảo: "Anh gặp phải Lão Nguyệt giang hồ rồi. Lũ Lão Nguyệt này đáng ghét nhất, tiền của ai cũng dám lừa, trong mắt chúng chỉ có tiền mà thôi."
Thuận Thành chỉ biết thở ngắn than dài.
Tôi dặn: "Anh nhớ lấy, chỉ cần không tham lam thì sẽ không bị lừa đâu."
Thuận Thành nói: "Mấy nén vàng của thằng nhóc kia còn để ở nhà tôi, mình mau về đi, đừng để chúng nó lẻn về trộm mất."
Tôi cười: "Hèn chi người ta lừa sạch tiền của anh, đầu óc anh tối tăm quá. Thứ Lão Nguyệt để lại nhà anh chắc chắn không phải vàng thật đâu, là đồ giả đấy."
Thuận Thành ngơ ngác: "Vàng nén mà cũng có giả à?"
Tôi nhớ lại Niệm Gia Thân từng kể, trong tiệm cầm đồ người ta dùng chì đúc vàng giả, tôi định giải thích nhưng sợ gã không biết chì là cái gì. Cái gã nhà quê cục mịch này mà không biết chì là gì thì lại hỏi han lôi thôi. Tốt nhất là đừng nhắc chuyện vàng giả với hắn nữa.
Thuận Thành lại giục: "Chúng ta mau về nhà thôi. Tôi chỉ muốn về nhà, vợ tôi còn đang đợi. Bán mấy nén vàng kia đi, tôi cũng chẳng thiệt." Đến giờ gã vẫn tin số vàng kia là thật, ngu muội đến thế là cùng, bọn lừa đảo không tìm đến gã thì tìm ai!
Từ miếu đi về Thương Gia Đài toàn đường núi dốc đứng, không cưỡi ngựa được. Tôi dắt ngựa đi trước, Thuận Thành bám theo sau. Đi đường núi buồn tẻ, tôi muốn trò chuyện với gã vài câu, nhưng gã nói năng cứ chuyện nọ xọ chuyện kia. Tôi bảo dọc đường này lắm kẻ lừa đảo giang hồ, gã bảo con lợn nái nhà gã vừa đẻ; tôi bảo con người chỉ cần không tham thì không bị lừa, gã khoe con lừa đực nhà gã khỏe lắm, kéo được cả xe đá; tôi dặn ra đường phải cẩn thận đề phòng để tránh bị lừa, gã than vợ gã mãi chẳng đẻ, chẳng bằng con lợn sề nhà gã.
Nói chuyện với gã đúng là đàn gảy tai trâu. Người ngu ngốc thế này mà không bị lừa thì đúng là không có thiên lý.
Đi được một quãng đường núi khá dài, phía trước là một địa thế hình yên ngựa, hai bên cao, ở giữa trũng xuống. Chúng tôi đi xuống đáy cái yên ngựa ấy thì thấy một người ngồi dưới đất, tay xoa nắn cổ chân. Bên cạnh gã có con ngựa đang cúi đầu gặm cỏ.
Tôi bước lại ân cần hỏi: "Sao thế anh bạn?"
Gã kia mếu máo: "Ngã ngựa, trẹo mất cái chân rồi."
Tôi hỏi: "Có nặng lắm không?"
Gã bảo: "Tôi không leo lên lưng ngựa được, anh làm ơn đỡ tôi lên với."
Vùng núi Tây Bắc vắng vẻ, nếu tôi không đỡ gã lên ngựa, có khi gã ngồi đến giờ này ngày mai cũng chẳng gặp ai. Tôi giao dây cương cho Thuận Thành, rồi cầm dây cương ngựa của gã kia, đỡ gã trèo lên.
Gã kia vừa ngồi trên lưng ngựa, bỗng chỉ tay về phía sau lưng tôi hét lớn: "Nhìn kìa, nhìn kìa!"
Tôi ngoảnh đầu lại, thấy Thuận Thành đã tót lên lưng con ngựa Hà Khúc của tôi, phóng một mạch ngược về phía sau chạy trốn. Tôi vội buông cương con ngựa của gã què, đuổi theo Thuận Thành.
Tôi vừa chạy được mấy bước thì gã kia cười ha hả, quất ngựa chạy biến đi đằng khác.
Tôi bàng hoàng nhận ra mình đã trúng kế liên hoàn của bọn Lão Nguyệt giang hồ. Chúng đã giăng sẵn cái bẫy này, chỉ đợi tôi chui đầu vào rọ. Thuận Thành đâu phải gã nhà quê cục mịch, hắn là một tên Lão Nguyệt cáo già; gã kêu trẹo chân kia cũng là Lão Nguyệt nốt, chúng cùng một bọn với nhau. Những lời Thuận Thành kể lể đều là bịa đặt, cốt để tôi nghĩ hắn ngu si đần độn mà mất cảnh giác.
Đáng thương cho tôi dọc đường còn lên lớp dạy đời Thuận Thành, nào là không tham thì không bị lừa, nào là ân cần khuyên hắn ra đường phải cảnh giác đề phòng.
Tôi không có lòng tham, nhưng vẫn bị lừa. Cái bẫy của Lão Nguyệt kín kẽ không một kẽ hở. Bất kể bạn có lòng tham hay không, bạn vẫn dính bẫy; ngay cả khi bạn có lòng tốt, bạn cũng có thể bị lừa.
Suốt dọc đường tôi thầm cười nhạo Thuận Thành ngu ngốc, hóa ra kẻ ngu ngốc nhất lại là tôi.
Từ Cao Đài đến Cáp Mật xa xôi ngàn dặm, nếu không có ngựa mà phải cuốc bộ thì đến mùa quýt mới tới nơi. Không được, tôi phải đòi lại con ngựa Hà Khúc.
Tôi vừa gào thét vừa cắm đầu chạy về phía Đông. Chạy được vài trăm mét, tôi thở không ra hơi, mắt thấy Thuận Thành cưỡi ngựa Hà Khúc chạy lên sườn núi, mà tôi thì sức cùng lực kiệt, đành ngồi bệt xuống đất.
Đúng lúc ấy, tôi thấy trên sườn núi xuất hiện một nhóm người.
Toán người ấy vừa hiện ra, tôi như thấy lại hy vọng, giống kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, giống người sắp bị bóng tối nuốt chửng bỗng thấy một tia bình minh. Tôi ráng sức vùng dậy, lao lên phía trước, vừa chạy vừa gào thét, tay vẫy loạn xạ.
Nhóm người phía trước dàn hàng ngang, chặn đứng đường lui của Thuận Thành. Thuận Thành cùng đường, vứt ngựa bỏ chạy. Hắn quen đi đường núi, bóng dáng thoắt ẩn thoắt hiện trên sườn đồi rồi mất hút.
Tôi chạy tới, dắt lại con ngựa Hà Khúc vừa mất lại tìm về được.
Nhóm người kia có năm sáu kẻ, ai nấy đều cưỡi ngựa cao to, con nào con nấy được trang điểm rất đẹp, nhất là con ngựa đi giữa, yên cương rực rỡ, dây cương cũng màu đỏ chói lọi. Trên ngựa là một thiếu niên, da dẻ mịn màng, môi hồng răng trắng, trông tuấn tú lạ thường. Họ chụm đầu thì thầm to nhỏ, tôi không nghe rõ họ nói gì.
Giữa chốn rừng núi hoang vu, bỗng gặp một nhóm người như thế khiến người ta phải lóa mắt. Cách ăn mặc, giọng nói, nước da, khí chất của họ hoàn toàn khác biệt với dân quê Tây Bắc. Dù tôi đã đi khắp Nam Bắc, nhưng vẫn không đoán ra lai lịch của những người này.
Thiếu niên nọ dùng roi ngựa chỉ vào tôi hỏi: "Anh đi đâu? Anh tên là gì?" Giọng nói của cậu ta vô cùng êm tai, lảnh lót hệt như giọng con gái.
Tôi đáp: "Tôi đi Tây Vực. Tên là Ngai Cẩu."
Thiếu niên nói: "Tôi cũng đi Tây Vực. Chúng ta cùng chung một đường. Tôi là Đại Bài."

 

 

(Tổng: 6048 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0