Tổ Bịp
- 3784 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 10. Độc hành
Năm ngày sau, tôi được thả khỏi đại lao huyện. Cùng ra với tôi còn có Tiểu Thiên, những người khác vẫn bị giam lại. Tiểu Vạn bị chó cắn trọng thương, vết thương hành hạ khiến nó nằm liệt giường, hôn mê bất tỉnh nhân sự.
Nói theo ngôn ngữ bây giờ, tôi và Tiểu Thiên đều là trẻ vị thành niên nên được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Tiểu Thiên biết nhà mình ở đâu, cha nó đang trên đường từ quê lên đón. Còn tôi, tôi chẳng còn nhà để về. Tôi không biết Vương Tế Quỷ giờ đang ở chốn nào, lão còn sống hay đã chết. Suốt bấy lâu nay, tôi cứ ngỡ gánh xiếc là nhà, rồi lại coi Thúy Nhi là vợ, coi gia đình của bà cụ kia là tổ ấm của mình. Nhưng giờ đây gánh xiếc tan đàn xẻ nghé, Thúy Nhi biệt tích, nhà bà cụ cũng chẳng biết lối mà tìm. Tôi thành kẻ không nhà không cửa, bơ vơ giữa dòng đời.
Chẳng biết đi đâu về đâu, tôi cứ thế vô định bước ra khỏi huyện thành, men theo con lộ mà đi. Càng đi đường càng hẹp, bóng người thưa thớt dần, trời sập tối, cái bụng tôi bắt đầu biểu tình, đói cồn cào.
Khi mặt trời khuất hẳn sau rặng núi, cuối cùng tôi cũng thấy thấp thoáng một ngôi làng phía xa. Làng nhỏ, chỉ lèo tèo vài ba hộ dân. Hai gian nhà vẫn còn le lói ánh đèn, vẳng ra tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt. Tôi định gõ cửa xin ngủ nhờ, nhưng nhìn bộ dạng bẩn thỉu, ngửi cái mùi chua loét sực nức trên người, tôi lại chần chừ. Họ sẽ đuổi thẳng cổ tôi ra ngoài mất.
Đèn dầu tắt, tiếng trẻ nín bặt, cả ngôi làng chìm vào tĩnh lặng. Một vầng trăng khuyết ló dạng, soi rõ những rặng cây trơ trọi. Đoán chừng dân làng đã ngủ say, tôi mới lén lút lẻn vào. Giữa lối đi, tôi thấy một ngôi nhà cổng cao tường kín, kiến trúc gạch ngói khang trang, đích thị là nhà giàu nhất vùng này. Tôi tiến lại gần, đẩy khẽ, cửa đã cài then chắc chắn bên trong. Loại cổng này dày dặn, then cài lại có rãnh tra đinh sắt, dù có dùng lưỡi dao mỏng như của Bồ Đề cũng chẳng thể gảy then ra được, vì then có rãnh tra đinh, lại còn tấm ván chắn phía dưới.
Cánh cổng của các gia đình giàu có thời đó thường làm theo kiểu này, muốn mở phải rút đinh, rút then, rồi nhấc tấm ván ngưỡng cửa lên mới kéo vào được. Cửa luôn mở vào phía trong. Tính năng chống trộm của nó có thể nói là hoàn hảo.
Nhưng bấy giờ tôi nhỏ con, lại có thể chui qua gầm cửa. Nhà giàu thường đóng cổng, cài then sớm nhưng phải đến lúc đi ngủ mới hạ tấm ván xuống. Cánh gỗ cách mặt đất chừng nửa thước, khoảng trống đó dành cho ván và cũng là lối cho gà vào chuồng. Gà đi kiếm ăn xa, tối mịt mới về, chúng sẽ chui qua gầm cửa mà vào. Khi gà đã về đủ, tấm ván sập xuống, cả nhà mới yên tâm đi ngủ.
Nhưng loại cửa này lại có một nhược điểm: trẻ con có thể chui lọt. Ngày trước ở quê tôi ham chơi, tối mịt mới về nhà, Vương Tế Quỷ bực mình mới đóng cửa cài then lại, hạ ván xuống từ sớm. Tôi và mấy đứa con người làm công không vào được, bèn bẻ cành cây luồn xuống dưới, nậy tấm ván lên rồi bò vào, xong xuôi lại hạ ván xuống như cũ.
Giờ đây tuy đã lớn hơn, nhưng bao năm lăn lộn với gánh xiếc, ăn bữa đói bữa no nên người tôi vẫn còi cọc, nhấc ván ngưỡng lên là chui lọt. Trăng treo đỉnh đầu, chừng nửa đêm, tôi lẻn được vào sân. Nhà có năm gian buồng, cạnh đó là gian nhà thấp lụp xụp, chắc là bếp rồi.
Tôi rón rén lại gần, sờ vào khoen cửa, không thấy khóa. Bếp ở nông thôn thường chẳng mấy khi khóa kỹ, dù đi xa họ cũng chỉ khóa cửa buồng, còn bếp thì cài then trong là cùng. Tôi nâng cánh cửa lên để tránh tiếng cọt kẹt của trục quay rồi lẻn vào. Bên trong có cái thớt lớn, ngổn ngang vò hũ đựng muối, dầu, giấm, ớt... Cạnh đó là bếp lò, trên nồi đậy vung kín mít.
Vừa vào bếp, tôi đã biết ngay đồ ăn giấu ở đâu. Hồi trước tôi với con trai bác người làm về muộn toàn lẻn vào bếp lục lọi. Để tránh chuột, người quê thường giấu thức ăn trong nồi gang rồi đậy vung lại. Một tay nhấc vung, một tay quờ quạng, tôi mừng rỡ khi chạm phải mớ bánh bao mềm xốp và một đĩa thức ăn xào. Chẳng kịp tìm đũa, tôi một tay vốc bánh, một tay bưng đĩa, cứ thế vừa tọng bánh vừa liếm sạch đĩa rau.
Đang ăn ngồm ngoàm thì bên ngoài vang lên tiếng bước chân.
Tôi hồn siêu phách lạc, nép chặt vào bức tường tối om, không dám thở mạnh. Tiếng chân dừng trước cửa bếp, nghe tiếng gã đàn ông lầm bầm: "Quái, sao cửa bếp lại không cài then?" Rồi tiếng then cài cùng tiếng xích sắt loảng xoảng vang lên.
Gã khóa trái cửa bếp xong thì đi vòng ra sau nhà, tiếng tiểu tiện xối xả vang lên, rồi gã lẹp xẹp đôi dép đi về phòng.
Chẳng mấy chốc, tiếng ngáy đã vang lên đều đặn. Tôi thì cuống lên, chẳng còn tâm trí đâu mà ăn uống. Tôi bị nhốt cứng trong này rồi. Tôi đi đi lại lại bếp, không biết phải làm sao. Đợi đến sáng người ta phát hiện tôi ăn vụng, chắc chắn sẽ bị đánh cho thừa sống thiếu chết. Biết làm sao đây? Đêm đông lạnh giá mà mồ hôi cứ vã ra như tắm.
May sao, tôi phát hiện ra cửa sổ áp mái ngay trên bếp lò, vốn để thoát khói. Cánh cửa vẫn mở. Tôi bắc ghế lên bệ bếp, leo lên rồi chui tọt ra ngoài sân. Tiếng ngáy của gã đàn ông vẫn ồn ã. Tôi rút then, mở cửa bếp, vớ được cái túi vải cáu bẩn, tống sạch chỗ bánh bao còn lại vào đó. Lúc đi, tôi không quên vác theo cái xẻng xúc than dài khoảng một mét, bằng gang đúc, cán gỗ. Cái xẻng này để phòng thân là vừa tay.
Tôi chui qua ván ngưỡng thoát ra đường làng. Sợ sáng ra nhà kia phát hiện mất trộm sẽ đuổi theo, tôi cứ nhắm đường mòn mà chạy. Đi chừng mười lăm, hai mươi dặm thì tới chân một ngọn núi nhỏ. Trăng sắp lặn, tôi thấy trên đỉnh núi có gian nhà đơn độc, đoán chừng là miếu thờ. Bởi lẽ chẳng ai lại chọn đỉnh núi heo hút để ở, vừa khó cấy cày vừa khó lấy nước. Miếu thì khác, có khách hành hương cúng dường, không lo chết đói.
Lên tới đỉnh, quả nhiên là một ngôi miếu nát. Cổng miếu xiêu vẹo, tường vách đổ nát, chữ "Phật" lớn giờ cũng chỉ còn lại một nửa. Bước vào trong, mùi bụi bặm lâu ngày sực nấc làm tôi hắt hơi liên tục. Tiếng hắt hơi vang vọng trong không gian trống rỗng nghe rợn cả người.
Tay lăm lăm cái xẻng, tôi tìm chỗ ngả lưng. Dưới đất thì không ổn, ngộ nhỡ đang ngủ có con sói nào tha đi cũng chẳng biết; trước bệ thờ cũng không xong, bệ thấp lè tè, sói nhảy cái một là lên tới nơi. Nhìn quanh quất, chỉ có cái hương án là được nhất, cao hơn một mét, vừa đủ một người nằm. Tôi mệt rũ rượi, nằm vật xuống hương án, đầu gối lên túi bánh bao nhơm nhớp, tay ôm khư khư cái xẻng than. Chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ sâu.
Trong mơ, tôi thấy mình trở về nhà. Hai bên con sư tử đá trước cổng có hai đứa trẻ mặc quần thủng đít đang ngồi chơi. Tôi hỏi là ai, con trai bác người làm bảo đó là hai đứa em trai tôi. Từ lúc tôi đi, mẹ sinh đôi được hai thằng cu. Thảo nào Vương Tế Quỷ chẳng thèm cứu tôi, hóa ra lão đã có con nối dõi. Lòng tôi đắng ngắt. Bước vào bếp thấy bao nhiêu món ngon, gà vịt cá thịt bốc khói nghi ngút. Thấy đồ ăn là tôi quên béng thói bạc bẽo của cha ruột, vồ lấy con gà quay định chén. Vừa cắn một miếng, đám gà vịt trên bàn bỗng sống lại, xúm vào mổ tôi túi bụi. Tôi cắm đầu chạy, mông vẫn bị con vịt mổ cho một phát đau điếng... Cái đau khiến tôi choàng tỉnh. Trời đã sáng rõ, trong miếu có mấy người đang đứng, lù lù ngay sát mặt tôi.
Một gã mắt tròn xoe dùng gậy chọc vào mông tôi, cười hô hố:
• Thằng nhãi này mơ thấy gì ngon mà miệng cứ chóp chép mãi, gọi thế nào cũng không tỉnh. Nhìn kìa, dãi chảy dài cả thước!
Đám người đều xung quanh cười hô hố. Biết mình bị trêu, tôi bực dọc đáp:
• Tôi mơ thấy gì kệ tôi, liên quan gì đến các ông. Còn gà quay thơm nức mới cắn một miếng đã bị các ông phá đám.
Bọn họ lại cười. Một gã mặt dài hỏi tôi:
• Nói, ở đâu đến mà ngủ lại trong miếu?
• Tôi ở đâu đến mặc tôi, mắc mớ gì đến ông?
Gã mặt dài giơ cái xẻng than lên:
• Đây là xẻng nhà tao, mày bảo có liên quan không?
Thôi xong, đêm qua trộm bánh bao với cái xẻng, giờ chính chủ tìm tận nơi. Sao mà đen đủi thế không biết. Đầu óc tôi xoay chuyển cực nhanh, cãi chày cãi cối:
• Sao lại bảo xẻng nhà ông, rõ ràng là của nhà tôi.
• Thằng ranh này vừa lỳ vừa bướng. Xẻng nhà tao có đóng dấu "Trần Ký", do lão thợ rèn họ Trần ở làng họ Trần đánh. Đồ lão làm đều có dấu ấn riêng, lão bảo đồ "Trần Ký" mà không dùng được ba mươi năm thì lão trả lại tiền, đền cho cái mới. Cái xẻng này có từ hồi bọn Tây lông đánh vào kinh kỳ, Lão Phật Gia phải chạy nạn về phía Tây đấy.
Thôi xong, đụng ngay phải nhà đó rồi, giờ tính sao đây?
Tôi chống chế:
• Xẻng nhà tôi cũng là lão Trần làng họ Trần rèn mà.
Gã mặt dài nổi đóa:
• Thế lão Trần trông thế nào? Con lão tên gì? Trước cửa nhà lão trồng hai cây gì?
Tôi cứng họng, không đáp được lời nào. Gã lại bồi thêm:
• Còn cái túi vải này nữa, là túi treo tỏi trong bếp nhà tao, sao lại ở chỗ mày? Ngay cả mấy cái bánh bao này cũng thế, mùi bánh nhà tao tao ngửi là biết ngay. Thằng ranh, nói mau, có phải mày trộm đồ nhà tao không. Không nói tao chém chết.
Tôi sợ xanh mặt, không dám ho he. Tôi quay sang hỏi gã mắt tròn:
• Các ông là ai?
Gã vung vẩy lưỡi đao:
• Bọn tao là lính tuần đêm.
Đúng là oan gia ngõ hẹp, chạy cả đêm tưởng thoát, ai dè đâm sầm vào lính tuần, mà lại trúng ngay chủ nhà. Gã mặt dài hỏi tiếp:
• Trộm đồ từ bao giờ? Còn trộm gì nữa không?
Tôi nghĩ bụng, đêm qua gã không có nhà, chắc cũng chưa về xem xét kỹ. Tôi thật thà:
• Vì đói quá tôi mới làm liều. Tôi chỉ lấy mấy cái bánh bao với cái xẻng trong bếp thôi, ngoài ra chẳng lấy gì khác.
Gã mặt dài tát tôi một cú nảy đom đóm mắt, tai ù đặc:
• Theo tao xuống núi, về nhà đối chất.
Tôi nhìn gã mắt tròn cầu cứu nhưng họ chẳng thèm để ý, coi như tôi không tồn tại. Hết cách, tôi đành lủi thủi theo họ xuống núi.
Dưới núi có ngựa, họ cưỡi ngựa tuần tiễu quanh vùng này. Gã mặt dài dùng dây thừng trói tay tôi lôi xềnh xệch sau ngựa hướng về huyện thành. Tôi run bần bật vì lạnh, nhưng lòng còn run hơn vì sợ. Vừa mới ra đại lao, giờ mà vào lại, chắc chẳng bao giờ được ra nữa. Thầy giáo dạy rồi: quá tam ba bận, tôi làm bao việc xấu cùng gánh xiếc, người ta tha cho một lần là phúc lắm rồi, lần này chắc họ chém đầu tôi mất.
Đang lúc lo sốt vó thì phía trước có người cưỡi ngựa phi tới, miệng ngựa phun khói trắng xóa. Người đó xuống ngựa, nói với gã mặt dài:
• Lão gia đang tìm anh khắp nơi đấy. Mau về đi, vợ anh đêm qua sinh được thằng cu kháu lắm!
Gã mặt dài mừng rỡ reo lên, đám kia cũng hùa theo. Tôi nghe mà ngơ ngác. Đêm qua tôi ở trong bếp nhà gã, sao chẳng nghe thấy động tĩnh gì, sao lại sinh con thầm lặng thế được. Nghe gã hỏi:
• Thế nhà cha tôi sao rồi? Đêm qua có thằng ranh lẻn vào nhà cụ.
• Lão gia sáng ra mở cửa chỉ thấy tấm ván chặn cửa bị nậy lên, bếp mất mấy cái bánh bao với cái xẻng xúc than, ngoài ra không mất gì thêm.
Té ra cái nhà đêm qua tôi lẻn vào là nhà cha hắn. Gã mặt dài quay sang bảo tôi:
• Hôm nay tao đang vui nên tha cho mày một mạng. Biến đi, đừng để tao thấy mặt ở vùng này nữa, không tao đánh gãy cái chân chó nhà mày.
Gã xuống ngựa cởi trói. Dây vừa buông, tôi quay đầu chạy biến. Ngoảnh lại đã thấy họ quất ngựa đi xa.
Tôi đứng giữa cánh đồng, trời cao đất rộng mà chẳng biết đi đâu. Đói cồn cào mà chẳng có cách gì, giữa mùa đông giá rét, đồng bãi trơ trụi. Mùa hè có lúa mì, mùa thu có dưa, ngô, khoai, chứ mùa đông thì trắng xóa, đến con sâu còn chẳng có gì ăn phải chui vào kén. Hồi ở quê, tôi và con trai bác người làm thường đi hun chuột đồng vào mùa đông. Chuột đồng khôn lắm, thu sang là nó tích trữ đủ lương thực cho cả mùa đông dài rồi nằm lỳ trong hang. Chúng tôi thường xách xô nước, tìm thấy hang là dội vào, lũ chuột uống no nước sẽ bò ra.
Nghĩ là làm, tôi đi đến giữa trưa thì gặp một con sông, nước đã tan băng chảy róc rách. Men theo ruộng cạnh sông, tôi thấy dưới bờ đất có dãy hang đen ngòm, to cỡ bắp tay, đích thị là hang chuột. Bên bờ sông có cái vò đất vỡ, tôi múc nửa vò nước đổ vào hang. Nước dâng lên miệng hang rồi bỗng sụt xuống. Kinh nghiệm cho thấy chuột đang dùng mông chặn dòng nước, nhưng không trụ được lâu, nó sẽ phải chạy sâu vào trong. Tôi từng đào hang chuột nên biết cấu tạo của nó rất tinh vi: đường hầm đâm xuống rồi lại có ngách đâm chéo lên trên làm kho chứa lương thực. Thế nên nếu đổ ít nước quá sẽ không ăn thua, nước chảy hết xuống dưới còn con chuột vẫn bình an vô sự trong kho.
Tôi lại ra sông múc nước, không sợ nó trốn mất vì chuột vốn đa nghi, nó sợ người rình ở cửa hang nên chẳng dám ló ra ngay đâu. Đổ thêm vò nữa, lần này nước đầy lên tận miệng hang và không sụt xuống nữa. Kho chứa và con chuột đã ngập lụt rồi. Việc cần làm bây giờ là kiên nhẫn đợi nó bò ra.
Chừng tàn một bi thuốc, con chuột ướt sũng lết ra ngoài, cái bụng nó trương phình như bà chửa vì uống quá nhiều nước. Dưới hang sâu, nó tưởng có thể uống cạn chỗ nước tôi đổ vào nên ra sức mà tợp, đến khi hoa mắt chóng mặt mới tỉnh ngộ thì đã muộn. Tôi xách đuôi nó lên, nó chẳng còn sức mà phản kháng. Có thịt rồi nhưng lại thiếu lửa. Dù đói đến mấy, tôi cũng chẳng thể ăn sống con chuột này.
Tôi xách con chuột đi tiếp. Người lớn gặp tôi đều tránh xa vì chẳng biết thằng nhãi săn chuột này ở đâu ra, còn lũ trẻ lại xúm lại xem. Đến gần một ngôi làng, có hai đứa trẻ đang chơi thấy thế liền chạy lại. Tôi hỏi:
• Nhà đứa nào có lửa không?
• Nhà em có.
• Mày về lấy lửa ra đây, anh cho ăn thịt nướng.
Thời đó ở nông thôn phương Bắc làm gì có bật lửa hay diêm, nhưng nhà nào cũng có con cúi. Người ta bện cỏ ngải thành sợi dài rồi đốt, nó cứ cháy âm ỉ như nén hương. Chỉ nhà giàu mới giữ được con cúi cháy cả ngày để mồi lửa nấu cơm. Tôi còn thấy người ta dùng đá lửa đánh vào lá thép cho tóe tia lửa vào bùi nhùi, nhưng loại đó hiếm lắm.
Tôi đặt con chuột xuống, đắp bùn kín mít rồi đi nhặt cành khô cỏ rác. Ngọn lửa bùng lên làm tôi vui sướng khôn tả. Khi đống củi thành than, tôi gạt ra một hố nhỏ, đặt con chuột bọc bùn vào rồi vùi tro nóng lên. Mùi thơm bắt đầu lan tỏa. Sợ một con không đủ no, tôi hỏi:
• Nhà có khoai lang không?
• Có ạ.
• Mỗi đứa về lấy hai củ to ra đây rồi ăn thịt nướng. Nhớ đừng để người lớn trông thấy.
Hai đứa chạy vù đi. Tôi nằm dài trên đất, nắng đông ấm áp bao phủ, cảm giác hạnh phúc đã lâu không gặp lại. Lũ trẻ sùng bái tôi lắm, vì chúng cho rằng kẻ bắt được chuột đồng hẳn là người phi thường. Chúng nghe lời tôi răm rắp. Chuột chín, tôi bới ra, bóc lớp bùn khô nứt toác, lông lá theo đó đi sạch. Thịt chuột thơm lừng, béo ngậy, ăn đứt thịt heo. Ăn xong vẫn thèm, tôi bảo chúng đốt củi nướng khoai. Lớp vỏ đỏ cháy xém bóc ra lộ lớp ruột trắng tinh, bùi và ngọt lịm.
Tôi định xin thêm vài củ để dành nhưng tiếng mẹ gọi trẻ vang lên, chúng nó chạy mất hút. Chỉ còn lại mình tôi.
Chiều hôm ấy, tôi cứ lượn qua lượn lại trong ngôi làng nọ, thầm mong sẽ bắt gặp hai đứa trẻ kia trên đường. Chỉ cần gặp được chúng, bữa tối của tôi coi như xong xuôi, bởi dù sao chúng cũng đã ăn thịt chuột đồng của tôi rồi.
Nhưng đợi mãi cho đến lúc mặt trời sắp khuất núi, bóng dáng chúng vẫn bặt tăm.
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành phải tiếp tục lên đường.
Vượt qua một dải đồi, trước mắt tôi hiện ra một tòa huyện thành nằm lọt thỏm giữa một lòng chảo nhỏ, trông cũng chẳng lớn lắm. Nơi nào có huyện thành, nơi đó ắt có chỗ cho tôi đánh chén một bữa rồi ngả lưng qua đêm.
Tại cổng thành, tôi thấy một vú em trẻ tuổi đang bế đứa nhỏ chừng hai tuổi, nhìn quần áo là biết con nhà giàu. Cổ nó đeo cái vòng vàng sáng loáng. Một gã trung niên chừng bốn mươi, năm mươi tuổi từ trong thành bước ra, làm mặt xấu trêu đứa bé khiến nó cười nắc nẻ. Gã khen:
• Chà, bé con xinh giai quá, chẳng có đứa nào đẹp bằng đâu.
Chị vú nghe thế cũng mát lòng mát dạ. Gã tháo cái vòng vàng ra, bảo:
• Gọi bác đi, gọi bác rồi bác trả.
• Cháu nó chưa biết nói đâu.
• Biết chứ, lần trước ở nhà tôi nghe thấy nó gọi rồi mà.
Chị vú tưởng gã là họ hàng nên cứ đứng cười xem gã diễn trò. Gã giả vờ bỏ đi:
• Gọi bác đi bác trả, không bác đi thật đấy.
Đứa bé thấy vui nên cứ ngọ ngoạy tay chân. Gã cầm vòng vàng nấp sau tường thành, miệng gọi: "Đi đây, đi đây." Rồi đột ngột nhảy ra làm đứa trẻ khoái chí. Gã lại đeo vòng vào cổ nó, khen vài câu rồi lại tháo ra, lẩn ra sau tường. Lần này gã nấp lâu hơn. Chị vú và đứa trẻ chờ đợi, gã lại xuất hiện hét lớn: "Bác đến đây!" Đứa trẻ lại cười nắc nẻ. Lần thứ ba, gã tháo vòng, lẩn đi và... mất dạng luôn. Chị vú ôm con chạy ra xem thì gã đã cao chạy xa bay.
Giữa thanh thiên bạch nhật, chốn đông người qua lại, gã chiếm đoạt cái vòng vàng dễ như trở bàn tay. Hình ảnh đó đem lại cho tôi một giác ngộ cực lớn. Tôi hiểu rằng chỉ cần một chút mánh khóe, người ta có thể thu về những thứ giá trị vô cùng. Gốc rễ của lừa đảo chính là chiếm được lòng tin. Một khi đã tin, người ta sẽ răm rắp nghe theo.
Nhiều năm về sau, tôi vẫn nhớ như in buổi chiều hôm ấy. Tôi chợt nhận ra mình có thiên phú làm kẻ lừa đảo. Một đứa trẻ mười tuổi mà đã nhìn thấu được đạo lý sâu xa ấy.
Gánh xiếc trước đây là "trộm", còn gã này là "lừa". Trộm thì sợ bị bắt, sợ chó cắn, đủ thứ rủi ro. Lừa thì chẳng mất chút sức lực nào, người ta cứ thế dâng tiền tận tay. Lừa nhanh hơn trộm, mà cũng nhàn hơn trộm. Buổi chiều hôm đó, gã trung niên kia chính là người thầy khai sáng cho tôi.