Tổ Bịp

  • 6168 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 90. Thần trộm “Ngã Lai Dã”
Phản ứng đầu tiên của tôi là mau chóng tẩu thoát.
Tôi bật dậy, lao như bay về phía cổng lớn. Tôi cảm giác mình chạy nhanh khủng khiếp, ngỡ như sắp bay lên khỏi mặt đất, cả đời chưa bao giờ tôi chạy nhanh đến thế. Thoáng thấy bóng đen ở góc tường cũng đã rời vị trí, hắn lao về phía cổng viện tựa một con chim ưng khổng lồ. Lại thấy trong bếp có người lao ra, tay lăm lăm gậy gộc, miệng la hét ầm ĩ. Trên cây cũng có người nhảy xuống, cửa gỗ các phòng kẽo kẹt mở tung, người bên trong túa ra ngoài sân.
Quả nhiên trúng mai phục rồi. Lúc tôi ném đá dò đường, bọn họ không ra; lúc tôi tháo then cửa, họ chẳng động tĩnh; lúc tôi rón rén đi về phía mái hiên, họ vẫn im lìm. Chỉ đến khi tôi đã đứng hẳn dưới mái hiên, tất cả mới đồng loạt xông lên. Tôi đã lọt vào vòng vây tứ phía của họ.
Tuy nhiên, tôi vẫn nhanh hơn một bước. Tôi là người đầu tiên lao đến cổng viện, mở toang cánh cửa. Nhưng ngay khi chân vừa định bước qua ngưỡng cửa, một cây gậy nặng trịch bất ngờ giáng mạnh vào thắt lưng. Tôi ngã gục xuống đất.
Khoảng năm sáu gã trai tráng lực lưỡng lao đến trước mặt tôi, ai nấy đều thở hồng hộc. Kẻ dùng gậy đánh, người dùng chân đá, miệng chửi bới đầy phẫn nộ: “Này thì chạy này! Này thì chạy này! Giờ sao không chạy nữa đi?”
Toàn thân tôi đau đớn, tưởng như muốn ngất lịm. Tôi nằm co quắp dưới đất như con tôm luộc, mặc cho những cú đấm đá và gậy gộc trút xuống người như mưa rào. Tôi thậm chí chẳng còn cơ hội nào để phản kháng.
Bên tai văng vẳng một giọng nói dương dương tự đắc: “Tao đã bảo kiểu gì cũng có trộm mà, thấy chưa? Quả nhiên đến rồi.”
Một người khác đáp lời: “Nếu không có người đưa tin, làm sao mày biết có trộm mà phòng?”
Ai đã đưa tin cho họ? Suốt dọc đường đi, tôi và Tam sư thúc chẳng thấy ai bám theo. Hơn nữa, việc tôi trộm nhà này cũng là ý định nhất thời, làm sao có người biết biết được?
Kẻ mật báo này, rốt cuộc là ai? Ngoài Đại Bài ra, chắc chắn không còn ai khác.
Nhưng mà, Đại Bài ẩn mình quá sâu.
Tiêu cục Gia Dục Quan mượn dao giết người, để Hưởng Mã diệt trừ tiêu cục Long Uy; Tam sư thúc mượn dao giết người, để nha môn diệt trừ tiêu cục Gia Dục Quan; còn Đại Bài mượn dao giết người, mượn tay phú hộ này để trừ khử tôi và sư thúc. Chỉ có điều, Đại Bài tính xuôi tính ngược vẫn tính sót một nước: đêm nay chỉ có mình tôi đi trộm, Tam sư thúc lại không tham gia.
Đám người kia đánh mỏi tay mới chịu dừng lại. Ý thức tôi vẫn còn tỉnh táo, tôi khẽ cử động tay chân, thấy vẫn còn nhúc nhích được. Chỉ cần xương cốt không gãy, chút thương tích ngoài da này có sá gì, kẻ lăn lộn giang hồ nào mà chẳng từng bị đánh? Phiêu bạt chốn giang hồ, mấy ai tránh được chuyện đao kiếm?
Bọn họ xốc tôi dậy, bẻ quặt tay ra sau lưng. Một cơn đau thấu tim gan ập đến, lấn át mọi vết thương trên da thịt. Tôi hét lên một tiếng thất thanh, bọn họ mới chịu dừng tay, rồi đẩy tôi vào một căn phòng tối.
Trong phòng thắp một ngọn đèn dầu. Dưới ánh sáng vàng vọt, tôi thấy còn một người nữa đang bị treo lơ lửng trên xà nhà, đung đưa qua lại. Hắn gục đầu xuống, không phát ra tiếng động nào, đến cả tiếng thở cũng chẳng nghe thấy. Tôi không biết hắn còn sống hay đã chết, cũng chẳng biết hắn là ai.
Một giọng nói ồm ồm vang lên phía sau: “Treo lên, đợi trời sáng rồi giải cả lũ lên quan phủ.”
Đám người đó xúm lại, dùng dây thừng trói nghiến tôi như gói bánh tét, rồi cũng treo ngược tôi lên xà nhà. Sợi dây thừng mới cứng ngắc cứa vào da thịt đau rát.
Bọn họ thổi tắt đèn rồi bỏ đi.
Tôi vẫn im thin thít, giả vờ như chết. Trong tình cảnh lực bất tòng tâm thế này, giả chết là thượng sách. Chẳng ai đi đánh một con chó chết, cũng chẳng ai đi làm khó một cái xác không hồn.

Bị treo lơ lửng trên xà nhà, tôi mở mắt trong bóng tối, thấy ngoài cửa sổ có một bóng đen. Hắn lúc đứng lúc ngồi, đêm ấy không trăng, tôi chỉ thấy được cái bóng lờ mờ.
Hắn đang nghe ngóng động tĩnh trong phòng. Tôi nín thở, không dám ho he nửa lời.
Một lúc sau, kẻ đó bỏ đi.
Lại qua một hồi lâu, ngoài cửa sổ hoàn toàn yên ắng. Tôi đang tính kế thoát thân thì người bên cạnh đột nhiên lên tiếng. Hắn thì thào: “Ngật Cách Niệm, là Ngật Cách Niệm phải không?” (Người trong giang hồ, anh là người trong giang hồ phải không?)
Tôi giật mình, hóa ra gã này cũng là dân trong nghề. Tôi đáp: “Thượng Bài Cầm, tôi là Lão vinh.” (Người anh em, tôi là đạo chích đây.)
Gã kia cười trong bóng tối, tôi thoáng thấy hàm răng trắng ởn như loài dã thú. Hắn nói: “Nhà này là Hải Sí Tử, tùng điểm.” (Nhà này là nhà của quan lớn, mau nghĩ cách chuồn thôi.)
Chẳng trách gia đình này ngang ngược đến thế, ngay cả gia đinh cũng hung hãn, ra tay cực nặng, lại còn dọa trời sáng sẽ giải lên quan. Hóa ra nhà này có người làm quan to. Nếu thật sự bị đưa lên quan phủ, chắc chắn sẽ bị giam vài năm, không có ngày về. Tôi phải mau chóng tìm đường thoát.
Nhưng chúng tôi đang bị treo lơ lửng giữa trời, cử động còn khó, nói gì đến chuyện đào tẩu?
Ước chừng bây giờ là canh tư, chỉ còn một canh giờ nữa là trời sáng. Đám người kia quần thảo cả đêm, giờ chắc đã đi ngủ cả rồi. Nếu không nhân cơ hội này mà trốn đi, trời sáng sẽ chẳng còn đường sống, chỉ còn nước nằm trên thớt cho người ta làm thịt.
Nhưng trốn bằng cách nào đây?
Đúng lúc đó, ngoài cửa sổ bỗng vang lên một tiếng hú dài lanh lảnh. Âm thanh như sợi dây thừng quấn quanh sân nhà, rồi leo lên ngọn cây, tan vào màn đêm tĩnh mịch.
Tôi nhìn qua khe cửa sổ, kinh hãi tột độ. Trên cổng lầu nhà này có một người đang đứng, tay xách đèn dầu, cứ đi đi lại lại, vừa đi vừa hú lên từng hồi.
Trong sân có người tỉnh giấc, đẩy cửa bước ra. Nhưng vừa nhìn thấy người trên cổng lầu, họ đã sợ đến bủn rủn chân tay, không bước nổi nửa bước. Có kẻ quỳ sụp xuống đất, khóc thất thanh: “Cha ơi, cha ơi, con không biết cha về. Cha có điều gì muốn dặn dò xin cứ nói.”
Hóa ra, kẻ đứng trên cổng lầu chính là lão gia vừa mới qua đời của bọn họ.
“Lão gia” trên cổng lầu cất tiếng phán:
“Lũ con cháu bất hiếu kia, Thần Tài đến nhà mà chúng bay dám trói lại đánh đập. Cứ đợi đấy, rồi gia đạo sẽ sa sút, người người chết bất đắc kỳ tử cho mà xem.”
Kẻ đang quỳ khóc lóc van xin: “Con đâu có biết, con sẽ thả Thần Tài ra ngay. Cha ở dưới suối vàng hãy yên lòng.”
Đột nhiên, một giọng nói ồm ồm vang lên: “Khoan đã! Trên đời này làm gì có ma quỷ? Kẻ giả thần giả quỷ kia chắc chắn không phải thứ tốt lành gì. Thằng Ba, lấy cung tên ra đây cho tao.”
Kẻ này chính là người đã ra lệnh treo tôi lên.
Tôi thấy ba mũi tên liên tiếp bắn trúng người đứng trên cổng lầu, nhưng người đó vẫn cười ha hả, chẳng hề hấn gì. Ông ta nổi giận quát: “Thằng chó con, dám dùng tên bắn cha mày à? Đồ nghịch tử, trong vòng ba ngày nữa, mày sẽ thất khiếu chảy máu, phơi thây ngoài đồng hoang.”
Kẻ bắn tên lúc này mới hoảng hồn quỳ sụp xuống, gào khóc thảm thiết:
“Cha ơi, cha là cha ruột của con, con cả gan mạo phạm đến cha. Cha ngàn vạn lần đừng bắt con chết, con còn muốn sống mà.”
Thấy đám người bên ngoài đồng thanh van vái, tôi suýt bật cười thành tiếng. Bọn họ sợ vỡ mật, còn tôi thì chẳng sợ chút nào vì biết thừa đây là trò ma mãnh của Tam sư thúc. Sư thúc giả thần giả quỷ là nghề ruột rồi. Chỉ có điều, ba mũi tên bắn trúng người mà sư thúc vẫn bình an vô sự, điểm này tôi chưa nghĩ thông.
Người trên cổng lầu lại phán: “Mau mau thả Thần Tài đi, Thần Tài hóa thân thành người trẻ tuổi mà chúng bay mắt mù không nhận ra. Đắc tội với Thần Tài, chúng bay sẽ đời đời kiếp kiếp chịu nghèo khổ. Đàn ông đời đời làm nô, đàn bà kiếp kiếp làm điếm.”
Cửa phòng kẽo kẹt mở, hai gã trông như người làm bước vào, thắp đèn lên, cung kính hạ tôi và gã kia xuống. Tôi giữ vẻ mặt thản nhiên, còn gã kia thì mặt cắt không còn giọt máu. Hai gã người làm cởi trói cho chúng tôi xong liền cúi rạp người vái lấy vái để. Tôi ngang nhiên bước ra khỏi phòng, gã kia cun cút theo sau.
Chúng tôi bước ra khỏi cổng viện, thấy bên ngoài trống trơn. “Lão gia” trên cổng lầu lại nói vọng xuống: “Thần Tài đi rồi, trong ba ngày tới cấm chúng bay bước ra khỏi cổng nửa bước, phải ngày đêm nhang khói thờ phụng Thần Tài, thì ngài mới không giáng tội. Nhớ lấy, nhớ lấy.”
Trong sân, đám người quỳ rạp xuống, tiếng khóc than vang trời dậy đất.
Tôi cứ ngỡ Tam sư thúc sẽ đợi sẵn bên ngoài, ngỡ đây là cái bẫy sư thúc bày ra, nhưng đứng ngoài cổng nhìn quanh quất, tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng người đâu. Vậy cái thứ bắn ba mũi tên không chết trên cổng lầu kia rốt cuộc là thứ gì?
Trăng đã lặn, khoảng thời gian tăm tối nhất trong ngày ập đến, bốn bề đen như mực, chỉ còn ngọn đèn trên cổng lầu leo lét như con mắt cô độc. 
Bóng người trên cổng lầu quay lại, đi trên tường cao mà như đi trên đất bằng, áo quần bay phấp phới, tựa hồ cưỡi gió đạp mây. Tôi nhìn đến ngây người, gã Ngật Cách Niệm bên cạnh cũng há hốc mồm kinh ngạc.
Người đó bước từ trên cổng lầu xuống. Bức tường cao như thế, hắn chỉ nhấc chân một cái đã chạm đất, chân cẳng thẳng đuột không hề cong gập. Trong lúc tôi còn đang trố mắt nhìn thì hắn bỗng lừng lững tiến về phía chúng tôi. Đầu hắn đội mũ sụp xuống che kín mặt, dáng đi giật cục từng bước như cương thi. Một luồng âm khí lạnh lẽo ập tới, nỗi sợ hãi khủng khiếp bóp nghẹt lấy chúng tôi. Gã Ngật Cách Niệm hét lên một tiếng, cắm đầu chạy thục mạng về phía sau. Tôi không chạy, tôi là đệ tử phái Giang Tướng, thừa biết đó không phải ma quỷ, nhưng tim vẫn đập thình thịch vì sợ.
Một giọng nói quen thuộc vang lên: “Ngai Cẩu, con mẹ nó, còn không mau chạy đi?”
Tôi hét lên, theo bản năng quay đầu bỏ chạy. Chạy được chừng hơn chục mét thì vấp phải hòn đá ngã sấp mặt. Tôi lồm cồm bò dậy chạy tiếp, thấy gã Ngật cách niệm phía trước đang chạy bỗng đâm sầm vào gốc cây, ngã ngửa ra đất.
Chạy đến bên cạnh gã Ngật Cách Niệm, tôi chợt thấy có gì đó sai sai. Cái người ba mũi tên bắn không chết kia tự xưng là lão cha đã chết của gia chủ, sao lại biết tên cúng cơm của tôi? Tôi ngoái đầu nhìn lại, thấy đằng xa có đốm lửa bập bùng, một bóng người đang tiến về phía chúng tôi, ngày càng gần.
Người đó đi đến cách chúng tôi vài trượng thì bật cười khanh khách, đầy vẻ châm chọc. Vừa nghe tiếng cười này, tôi biết ngay là Tam sư thúc. Lần đầu tiên gặp Tam sư thúc ở bãi tha ma, tôi cũng bị ông đùa giỡn và nghe thấy giọng cười y hệt thế này.
Nhưng mà, tại sao Tam sư thúc lại ở đây?
Tam sư thúc là người khẩu xà tâm phật, bề ngoài cứ mắng mỏ tôi suốt, nhưng thực tâm là chỉ mong tôi nên người.
Sau khi tôi giận dỗi bỏ đi, Tam sư thúc đã lén bám theo sau. Ông nhìn tôi thăm dò địa hình, nhìn tôi đọc câu đối trắng trước cửa, nhìn tôi ngồi thu lu dưới hào nước ngoài làng chờ đợi. Tay lăm lăm cung nỏ, ông quan sát mọi động tĩnh xung quanh.
Chính lúc đó, người của Đại Bài đã đi báo tin cho nhà phú hộ kia. Đại Bài và đám cáo già giang hồ này đã lăn lộn bao năm, thấy chúng tôi lảng vảng trước cổng nhà giàu là đoán ngay được ý đồ. Tai mắt của Đại Bài rải khắp vùng này, thậm chí đến cỏ cây cũng là người của ả.
Kỳ lạ hơn nữa là gia đình này vừa mới bắt được một tên trộm, treo lên xà nhà. Đang lúc tra khảo gã trộm đó thì nghe tiếng đá ném từ ngoài tường vào. Họ mở cửa ra xem, thấy trong sân có một tờ giấy báo tin chúng tôi sẽ tới trộm.
Đại Bài mượn dao giết người, kế này quả thực vô cùng thâm độc. Còn tên trộm kia là ai, lát nữa sẽ nói, giờ nói chuyện Tam sư thúc trước đã.
Tôi nằm dưới hào nước ngoài làng chờ đến nửa đêm, Tam sư thúc nằm trên bờ hào chờ tôi hành động, cả hai đều không biết mình đã lọt vào cái bẫy Đại Bài giăng sẵn. Đám Đại Bài yên tâm về ngủ, chắc mẩm đêm nay chúng tôi khó thoát kiếp nạn.
Nửa đêm, tôi leo tường vào, ném đá dò đường. Chủ nhà và gia đinh đã phục sẵn, nghe tiếng đá rơi, họ im thít trong bóng tối. Thấy không có động tĩnh, tôi mới trượt xuống, nhẹ nhàng mở cổng viện.
Tôi đi về phía mái hiên, thấy cửa bếp mở, bên trong dường như có bóng người di chuyển. Đúng là có người thật. Tôi ở ngoài sáng, hắn ở trong tối quan sát nhất cử nhất động của tôi. Vậy mà tôi lại ngỡ mình hoa mắt
Lẽ ra lúc đó tôi phải chạy ngay ra cổng, may ra còn thoát được. Nhưng vì đang hờn dỗi, đã thề phải lấy được ba trăm đồng về cho Tam sư thúc lác mắt chơi, tôi muốn chứng tỏ bản thân.
Cứ thế, tôi đánh mất cơ hội tẩu thoát cuối cùng, bị tóm gọn và treo lên xà nhà.
Kẻ chặn đường rút lui của tôi đã nhanh chóng đóng cổng viện lại. Sư thúc đứng ngoài, không cách nào ứng cứu, nghe tiếng tôi bị đánh đập bên trong mà lòng như lửa đốt, nhưng đành bất lực.
Sư thúc vắt óc nghĩ cách cứu tôi.
Cửa nhà này dán câu đối trắng, rõ ràng là mới có tang. Ở miền Bắc, đám ma dán câu đối trắng, đám cưới dán câu đối đỏ, giỗ ba năm dán câu đối vàng. Câu đối trắng viết: “Nhất dạ thu phong cuồng xuy tổ trúc, Tam canh hàn lộ lệ sái tôn lan” (Một đêm gió thu thổi gãy tre ông, canh ba sương lạnh lệ rơi cháu lan). Tam sư thúc là người có chữ nghĩa, nhìn câu đối là biết ngay ông cụ thân sinh của chủ nhà vừa mất.
Sư thúc bèn chạy ra đồng, tìm một con bù nhìn rơm. Lúc này vụ thu đã gặt xong, ngoài đồng chỉ còn trơ trọi những con bù nhìn canh giữ mảnh ruộng trống huếch. Mảnh ruộng trống trải nằm thư thái, lười nhác như người đàn bà vừa trải qua việc sinh nở. Nông dân gặt lúa mang về, chứ chẳng ai mang bù nhìn về, vì sang năm còn dùng tiếp. Bù nhìn dùng để dọa chim chóc, muốn cho giống thật, người ta thường mặc cho nó cái áo dài thượt, đội thêm cái mũ rơm rách. Gió thổi qua, tay áo phất phơ, nhìn y như người thật. Trong mắt lũ chim, những ống tay áo dài ngoằng bay trong gió kia chính là những ngọn roi xua đuổi chúng.
Tam sư thúc vác con bù nhìn đến trước cổng nhà phú hộ. Đêm hôm đó trăng mờ, để tăng phần sống động, sư thúc còn vào bếp một nhà trong làng trộm lấy một cái đèn dầu và một sợi dây thừng.
Trước cổng nhà phú hộ có cây hòe già to. Tam sư thúc trèo lên cây, men theo cành lá đi ra phía trên cổng lầu, thắp đèn dầu treo vào tay con bù nhìn rồi dùng dây thừng thả xuống. Ánh đèn dầu leo lét chỉ soi sáng được một khoảng nhỏ, vừa đủ để thấy bộ áo dài thượt của con bù nhìn.
Sau đó, Tam sư thúc cất tiếng hú dài để dụ người trong nhà ra. Ông nấp trên cây hòe la lối, điều khiển bù nhìn trên cổng lầu đi lại. Màn đêm dày đặc khiến chẳng ai nhìn thấy sợi dây thừng mảnh mai trong tay ông. Người con cả của chủ nhà bắn liền ba mũi tên đều cắm vào người bù nhìn, cuối cùng hắn sụp đổ tinh thần, tin rằng cái bóng trên cổng lầu chính là cha mình hiển linh.
Mấy trò này với Tam sư thúc chỉ là chuyện vặt vãnh.
Giờ nói tiếp về gã Ngật Cách Niệm kia.
Gã này là một tên trộm mộ. Trộm mộ cũng thuộc về các ngành nghề trong giang hồ. Trung Quốc có câu thành ngữ cổ là “Ngũ hoa bát môn”, thực ra nguồn gốc của nó xuất phát từ chốn giang hồ. Ngũ Hoa gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bát Môn gồm: Kinh, Bì, Phiêu, Sách, Phong, Hỏa, Tước, Yếu.
Cụ thể hơn, Ngũ Hoa là: Kim cúc hoa (cô gái bán trà), Mộc miên hoa (lang trung đi dạo), Thủy tiên hoa (ca nữ lầu xanh), Hỏa cức hoa (nghệ nhân tạp kỹ), Thổ ngưu hoa (phu phen bốc vác). Trong Bát Môn: Kinh môn là phái Giang Tướng; Bì môn là lang trung giang hồ; Phiêu môn là diễn xiếc, ảo thuật; Sách môn là nghề làm đồ giả cổ hoặc liên quan đến đồ cổ; Phong môn là thầy phong thủy; Hỏa môn là thuật luyện đan; Tước môn là mua quan bán tước; Yếu môn là Cái Bang.
Trộm mộ thuộc về Sách môn trong Bát đại môn giang hồ.
Trộm mộ ở nông thôn là một nghề cổ xưa, đến nay vẫn chưa mai một, hoành hành nhất là ở vùng Nam Dương (Hà Nam) và Tây Phủ (Thiểm Tây). Trộm mộ chia làm hai loại: loại đào mộ cổ và loại đào mộ mới. Đào mộ cổ cần có kiến thức về đồ cổ, còn đào mộ mới thì chẳng cần kỹ thuật gì, chỉ cần gan to là đủ.
Gã Ngật Cách Niệm này thuộc loại đào mộ mới.
Đào mộ cổ rất giàu. Hiện nay, ở nhiều vùng tại Trung Quốc, trộm mộ đã trở thành một ngành công nghiệp, những kẻ giàu nhất vùng đều là dân trộm mộ cổ. Dựa núi ăn núi, dựa sông ăn sông, đào sâu ba thước, tát cạn bắt cá, ta chết rồi mặc kệ nước lũ dâng trời.
Đào mộ mới thì bình thường lắm. Đồ đào được chẳng bán được bao nhiêu tiền, thường chỉ để dùng cho mình.
Dù là đào mộ cổ hay mộ mới, đều là việc làm thất đức, đoạn tử tuyệt tôn. Ở nông thôn, nhiều nghề là cha truyền con nối, nhưng nghề trộm mộ thì không. Kẻ trộm mộ đều biết mình làm việc hạ lưu bẩn thỉu, bị người đời khinh ghét. Đạp cửa góa phụ, đào mộ tuyệt tự, ăn sữa bà đẻ, mắng người câm điếc, đều là những việc thất đức nhất.
Gã Ngật Cách Niệm này tên là Hà Vi Thiện. Cha hắn đặt tên vậy mong hắn có thiện tâm, làm việc thiện, ngờ đâu hắn lại đi làm cái nghề đáng khinh nhất.
Hà Vi Thiện trước đây là Lão vinh giang hồ, đi theo một Cao mãi kiếm cơm. Cao mãi là cao thủ trong nghề trộm cắp, còn loại như Hà Vi Thiện được gọi là “Đê mãi” (thấp mãi).
Cao mãi cầm đầu một băng nhóm trộm cắp, có phân công nhiệm vụ nghiêm ngặt: kẻ thám thính, kẻ canh chừng, kẻ ra tay, kẻ chặn hậu, đâu ra đấy. Hà Vi Thiện trong nhóm này chuyên làm nhiệm vụ dò la thám thính. 
Nhờ có Cao mãi dẫn dắt nên cuộc sống của họ khá sung túc, có khi chỉ cần làm một vụ là đủ ăn cả thời gian dài. Nhưng từ lúc Đại Bài xuất hiện thì chuỗi ngày hạnh phúc đó cũng chấm dứt theo.
Khi Đại Bài đến Thiên Hộ Trại, ả nhanh chóng cặp kè với Sư gia vùng này, hai người tuy không có danh phận vợ chồng nhưng sống với nhau như vợ chồng. Sư gia là từ chỉ thủ lĩnh trong nghề trộm cắp.
Trong giới trộm cắp, chức vị cao nhất là Sư gia, rồi đến Sư phụ, tiếp theo là Cao mãi, dưới nữa là Đê mãi và Hài nhi. Giới này tuyệt đối không gọi tên thật, thường gọi nhau là “huynh đệ”, “anh em”, hoặc biệt danh như Hổ Trảo, Báo Tử, Băng Lưu Tử, Tiểu Thất Tử... Tên thật là bí mật, không được tiết lộ ra ngoài để bảo vệ mình.
Có nơi còn gọi Sư gia là Biều bả tử, gọi Sư phụ và Cao mãi là Diệu thủ không không, Ngã Lai Dã hoặc Lãn long.
Nhưng trong giang hồ, người ta gọi chung tất cả bọn trộm cắp là Lão vinh. Lão vinh là một lực lượng đông đảo, nơi nào có người là nơi đó có Lão Vinh. Cái gọi là “của rơi không nhặt, đêm ngủ không đóng cửa” chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng tốt đẹp đẽ mà thôi.
Sư gia khởi nghiệp bằng nghề trộm cắp, danh nghĩa là Sư gia của đám Lão vinh, nhưng thực chất là Biều bả tử của cả giang hồ vùng này. Đại Bài chân ướt chân ráo đến đã ôm chặt cái đùi của Sư gia, nhanh chóng trở thành nhân vật quyền lực. Có lúc, ả còn thay mặt Sư gia phát hiệu lệnh.
Đại Bài là một người đàn bà cực kỳ tâm cơ.
Đại Bài và Sư gia tình cảm mặn nồng, quấn quýt bên nhau, ai cũng nghĩ Sư gia sắp nạp ả làm thiếp thì đùng một cái, một ngày nọ Sư gia bỗng nhiên chảy máu thất khiếu rồi qua đời. Hôm đó, Đại Bài không có mặt ở địa bàn, ả dẫn tùy tùng đi gặp bạn ở nơi cách xa cả trăm dặm. Nghe tin dữ, Đại Bài đi suốt ngày đêm trở về lo việc hậu sự. Trong tang lễ, ả khóc lóc vật vã, thề sẽ tìm ra hung thủ để vong linh Sư gia được nhắm mắt.
Rất nhanh sau đó, Đại Bài nói đã tìm ra hung thủ. Nhưng không ai ngờ, đó lại là người vợ kết tóc xe tơ hiền thục của Sư gia. Khi mọi người muốn tìm bà ta đối chất thì phát hiện bà ta đã bị cắt lưỡi, thoi thóp sắp chết. Đại Bài nói bà ta sợ tội tự sát nhưng không thành.
Lúc này vây cánh Đại Bài đã đông, chẳng ai dám ho he nửa lời.
Hà Vi Thiện đi theo Cao mãi làm Lão vinh, vốn nước sông không phạm nước giếng với Đại Bài. Hơn nữa, tay Cao mãi này chưa từng qua lại với Đại Bài. Khi Đại Bài bắt đầu nắm quyền, ả ra lệnh Cao mãi phải báo cáo và nộp lại chiến lợi phẩm. Lúc Cao mãi thành danh ở vùng này, Đại Bài còn chưa biết đang bú tí ở đâu. Cao mãi vốn tính cương cường, không coi Đại Bài ra gì, kết quả là bị đuổi khỏi giang hồ.
Cả Cao mãi và Hà Vi Thiện đều không muốn rời đi vì đây là địa bàn của họ. Nếu bỏ xứ đi nơi khác làm Lão vinh, lỡ bị dân giang hồ bản địa tóm được, nhẹ thì ăn đòn, nặng thì bị cắt gân chân.
Không làm Lão vinh được nữa, họ đành đi đào mộ mới. Trong các nghề giang hồ, trộm mộ cổ có lợi nhuận cao nên được xếp vào một môn, còn đào mộ mới chẳng có thứ gì ra hồn nên bị cho ra rìa.
Cao mãi và Hà Vi Thiện sống kiếp cô hồn dã quỷ, bữa đói bữa no như thế.
Người Tây Bắc có tục chôn đồ vật theo người chết. Trong đám tang, con cháu sẽ cầm chăn mền bằng lụa may sẵn xếp hàng trước quan tài. Người chủ sự gọi đến tên ai, người đó sẽ đưa chăn mền cho chủ sự đặt vào quan tài. Chăn mền càng nhiều, mặt mũi gia đình càng lớn.
Mấy năm nay, hễ nghe làng nào có đám ma là bọn Cao mãi, Hà Vi Thiện lại mò tới, giả vờ hóng hớt xem náo nhiệt nhưng thực chất là dòm ngó xem trong quan tài có gì quý giá, để đêm xuống tiện bề ra tay.
Mộ nào có đồ tùy táng giá trị họ mới đào, còn không thì cũng chẳng buồn động tay. Đào một ngôi mộ, lại còn phải cạy nắp quan tài lôi đồ ra, đâu phải chuyện dễ dàng.
Việc bỏ chăn lụa vào quan tài là nghi thức quan trọng. Vậy mà đám tang nhà phú hộ này lại bỏ qua nghi thức đó.
Cao mãi và Hà Vi Thiện đoán già đoán non, hoặc là trong quan tài có đồ quý giá, hoặc là chẳng có gì. Dạo gần đây tin đồn mồ mả mới chôn bị đào trộm lan truyền khắp vùng, gia đình này không thể không đề phòng.
Cao mãi muốn biết dưới mộ chôn cái gì, bèn phái Hà Vi Thiện đi thám thính trong đêm. Ngờ đâu Hà Vi Thiện xuất quân bất lợi, chưa dò la được gì đã bị tóm gọn.
Sau đó, đến lượt tôi bị bắt vào; rồi Tam sư thúc cứu chúng tôi ra.
Nghe Hà Vi Thiện kể lại sự tình, sư thúc giật mình thon thót, dậm chân thùm thụp, hối hận vì đã đánh giá thấp Đại Bài nên mới chuốc lấy nỗi nhục nhã ngày hôm nay. Cả đời sư thúc tiếp xúc nhiều nhất là đàn bà, à không, phải nói là tiếp xúc nhiều nhất với đám ngoạn phiếu khách xuyến tử. Trong quan niệm của sư thúc, đàn bà là giống tóc dài não ngắn, ông không thể ngờ trên đời lại có loại đàn bà thâm sâu độc ác hơn cả đàn ông như Đại Bài.
Tam sư thúc quả thực đã quá chủ quan.
Đêm đó, chúng tôi về lại cái lò gạch cũ, sợ thu hút tai mắt của Đại Bài nên không dám thắp đèn. Sư thúc nói: “Lần này, chúng ta phải liên thủ với ‘Ngã Lai Dã’ để diệt Đại Bài.”
Tôi hỏi: “Ai là ‘Ngã Lai Dã’?”
Sư thúc đáp: “Là gã Cao mãi đấy.”
Tôi tò mò: “Tại sao lại gọi Cao mãi là ‘Ngã Lai Dã’?”
Tam sư thúc chậm rãi kể: “Cái tên ‘Ngã Lai Dã’ (Ta đến đây) là cách gọi của người phương Nam, bắt nguồn từ một giai thoại. Kinh đô Lâm An thời Nam Tống, tức là Hàng Châu bây giờ, có một tên thần trộm chuyên viếng thăm nhà phú hào. Mỗi lần trộm xong, hắn đều để lại một mảnh giấy trên cánh cửa, viết ba chữ ‘Ngã Lai Dã’ (Ta đến đây). Tên thần trộm này mặt ngang mũi dọc thế nào, tên họ là gì, chẳng ai hay biết. Hắn có kỹ thuật siêu phàm, chưa từng thất thủ, khiến bọn phú hào hận thấu xương tủy, còn bách tính thì vỗ tay reo mừng.”
“Một lần nọ, tri phủ Lâm An bắt được một kẻ khả nghi mang theo nhiều dụng cụ kỳ lạ, nhưng chẳng ai biết dùng để làm gì. Hắn khăng khăng là nhặt được trên đường. Thực ra đó là đồ nghề của Lão Vinh mà quan phủ không biết.”
“Quan phủ tra tấn bắt hắn nhận là ‘Ngã Lai Dã’, hắn chối đây đẩy, bảo mình không phải trộm, càng không phải ‘Ngã Lai Dã’. Quan phủ hết cách, đành tống giam hắn.”
“Cai ngục trông coi hắn có gia cảnh khó khăn. Hắn bèn rỉ tai cai ngục rằng, tại tầng ba tháp Phật ở nơi kia có giấu một gói bạc, chỉ cần đêm đến thắp một ngọn đèn ở đó, sẽ có người lấy bạc tới cho. Cai ngục bán tín bán nghi, nhưng đang lúc túng tiền nên đánh liều một phen. Đêm ấy y đến tầng ba bảo tháp, thắp đèn lên. Chẳng bao lâu sau quả nhiên có người đến đưa cho một gói bạc.”
“Vài ngày sau, hắn lại bảo cai ngục: dưới tảng đá chân cầu nọ có giấu bạc, cứ lật đá lên là thấy. Cai ngục về kể với vợ. Hôm sau, vợ cai ngục mang thau giả vờ đi giặt đồ, lật tảng đá lên, quả nhiên thấy gói bạc vụn.”
Vớ được hai món hời, cai ngục nể phục tên tù này sát đất. Một đêm nọ, hắn nói với cai ngục: “Đêm nay ông thả tôi ra, trời sáng tôi sẽ về, không làm liên lụy đến ông đâu. Tôi chỉ muốn ra ngoài đi dạo chút thôi.” Cai ngục không muốn thả, nhưng đã trót cầm tiền của người ta, cuối cùng cũng tặc lưỡi cho hắn đi.
“Hôm sau, trời tờ mờ sáng thì hắn về thật, vào ngục là lăn ra ngủ như chết. Chiều hôm đó, tin tức truyền đến: một phú hào ở thị trấn cách đó trăm dặm bị trộm, trước cổng dán giấy viết ‘Ngã Lai Dã’.”
Việc ‘Ngã Lai Dã’ tái xuất giang hồ khiến quan phủ chấn động.”
Lại qua vài ngày, đêm mưa lất phất, gã tù lại nói với cai ngục: “Cho tôi ra ngoài, sáng mai tôi về, không lỡ việc của ông đâu, thần không biết quỷ không hay, không liên lụy gì đến ông cả.” Cai ngục đã nhận quá nhiều tiền, lại thấy cũng chẳng nguy hiểm gì, bèn thả hắn đi tiếp.
“Lúc gần sáng, hắn trở về, chân dính đầy bùn đất, vào buồng giam lại lăn ra ngáy o o. Cai ngục nơm nớp lo sợ đợi đến quá trưa thì có tin: nhà một quan lớn về hưu cách đó trăm dặm bị trộm, trước cổng vẫn là bút tích ‘Ngã Lai Dã’.”
“Vì ‘Ngã Lai Dã’ tái xuất giang hồ, lại gây án ở nơi cách xa cả trăm dặm, nên chẳng ai nghi ngờ tên tù kia là ‘Ngã Lai Dã’. Hắn bị nhốt trong ngục, dù có lẻn ra thì làm sao trong một đêm có thể chạy trăm dặm, trộm đồ trót lọt rồi lại chạy trăm dặm về ngục được? Nhà ngục điểm danh mỗi đêm và mỗi sáng, hắn đều có mặt, nên chắc chắn không phải là ‘Ngã Lai Dã’.”
“Không lâu sau, hắn được tha bổng.”
Tôi nghe mà tim đập chân run, không ngờ trên đời lại có tay Cao mãi cao tay ấn đến Tôi nghe mà tim đập chân run, không ngờ trên đời lại có Cao mãi lợi hại đến thế. Tam sư thúc kể tiếp:
“Một đêm nọ, cai ngục về nhà, vừa đặt lưng xuống giường thì nghe tiếng người nói trên xà nhà: “Vẫn khỏe chứ?”. Cai ngục rút dao dưới gối định hô hoán. Người kia bảo: “Đừng sợ, tôi đến thăm ông thôi. Cứ cách hai ba hôm tôi lại nấp trên xà nhà, muốn hại ông thì dễ như trở bàn tay.” Sau đó, hắn kể vanh vách đêm nào cai ngục ăn gì, nói chuyện với ai, đêm nào vợ chồng thủ thỉ những gì. Cai ngục nghe xong thì rụng rời tay chân, buông đao xuống đất.
Người kia nói: “Tôi đến chỉ để báo đáp ông. Dưới gầm giường nhà ông có một túi vàng bạc, đủ cho gia đình ông sống cả đời. Tôi khuyên ông mau bỏ cái nghề cai ngục này đi. Người giang hồ bị nhốt trong ngục nhiều vô kể, lỡ đắc tội với ai thì ông chết không toàn thây đâu.”
Cai ngục hỏi: “Ngài là ai?”
Người kia đáp: “Ngã Lai Dã.”
Dứt lời, cai ngục thấy hắn dùng hai chân móc vào xà nhà, người chúc xuống, di chuyển thoăn thoắt. Đến góc tường, hắn lộn một vòng, ngón tay móc vào cái đinh trên tường, ép sát người vào vách như con thạch sùng. Rồi hắn tung người một cái, đáp nhẹ nhàng xuống bệ cửa sổ, không một tiếng động. Cai ngục còn định hỏi tiếp thì hắn đã lách qua cửa sổ biến mất. Mọi động tác liền mạch như nước chảy mây trôi, cai ngục chưa kịp định thần thì hắn đã vượt tường đi mất hút.
Sáng hôm sau, vợ chồng cai ngục mang theo vàng bạc cao bay xa chạy, đến một nơi không ai quen biết.
Từ đó về sau, khắp vùng Giang Nam, nhà phú hào, quan lại nghe tiếng gió cũng giật mình thon thót, ăn ngủ không yên vì thường xuyên bị mất trộm, lần nào trước cửa cũng để lại mảnh giấy “Ngã Lai Dã”. Dân nghèo thì sướng rơn, tôn vinh “Ngã Lai Dã” là hiệp khách, nghĩa đạo. Về sau, “Ngã Lai Dã” xuất hiện ngày càng nhiều, thực ra chỉ có một người là thật, còn lại toàn là giả mạo. Nhưng “Ngã Lai Dã” đã trở thành một biểu tượng, quan lại căm hận thấu xương, bách tính mong mỏi từng ngày. Từ đó, ở vùng Giang Nam, người ta gọi những Lão vinh có tay nghề cao siêu là “Ngã Lai Dã”.
Tôi thật không ngờ danh xưng thần trộm “Ngã Lai Dã” trong giang hồ lại có lai lịch ly kỳ đến vậy.
Nghe xong câu chuyện của Tam sư thúc, tôi và Hà Vi Thiện đều trầm ngâm suy nghĩ. Giang hồ xưa nay chưa bao giờ thiếu “Ngã Lai Dã”, cái thiếu chỉ là cơ duyên. Chỉ những ai có cơ duyên xảo hợp mới gặp được “Ngã Lai Dã”, còn kẻ chưa thấy bao giờ thì cứ ngỡ đó chỉ là truyền thuyết.
Bất chợt, chúng tôi thấy một người bước đi nhẹ nhàng lướt qua trước cửa lò gạch, hắn đi rất nhanh, chân dường như không chạm đất. Lúc này trời đã hửng sáng, dưới vòm trời mênh mông, người đó trông mỏng manh và hư ảo như một cái bóng cắt giấy.
Hà Vi Thiện thì thào: “Gã kia làm gì mà đi nhanh thế?”
Tam sư thúc nheo mắt: “Nhìn thân pháp của hắn, hẳn là dân luyện võ.”
Tôi nói: “Sư thúc cứ ở trong này, để con ra coi thử, xem hắn là bạn hay thù.”
Tam sư thúc dặn: “Cẩn thận đấy.”

 

 

 

(Tổng: 6168 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0