Tổ Bịp

  • 5001 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 18. Kết cục đã an bài
Sau khi hai gã thổ phỉ bỏ mạng, chúng tôi cứ thế mà ngả lưng ngay giữa bãi tha ma suốt một đêm ròng. Đám làm nghề "Tướng thuật" như chúng tôi quanh năm giả thần giả quỷ, lẽ nào lại đi tin vào mấy chuyện ma tà. Đừng nói là ngủ giữa gò mả, cho dù có cậy nắp quan tài, đặt tôi nằm chung với xác chết, tôi cũng vẫn đánh giấc ngon lành như thường.
Trời vừa hửng sáng, chúng tôi lồm cồm bò dậy khỏi đám mộ phần. Một lão già đi hốt phân dậy sớm, quẩy theo sọt tre vừa khéo đi ngang qua. Lão nhìn thấy chúng tôi thì kinh hồn bạt vía, cắm đầu chạy trối chết, đến cái sọt tre cũng chẳng màng giữ lại.
Chúng tôi cứ men theo con đường đó mà đi. Khi nắng đã leo lên đến ngọn cây, cả bọn đi tới một ngã ba đường. Tôi đưa mắt dòm ngó, lại thấy dấu dao khắc trên thân cây bên đường, nét chữ vẫn tề chỉnh như cũ.
Theo dấu dao đi thêm chừng ba bốn dặm, trước mắt hiện ra một thành phố.
Đây chính là Kinh Châu, vùng đất ven sông Trường Giang. Hôm ấy Kinh Châu đúng dịp mở phiên chợ, phố lớn ngõ nhỏ người qua kẻ lại dập dìu như mắc cửi.
Liệu con mụ kia có ở đây không? Thần Hành Thái Bảo có ở đây không? Dẫu bọn họ có ở đây thật, thì giữa biển người mênh mông này, biết tìm bằng cách nào?
Nhị sư thúc hỏi: "Ngai Cẩu, mày biết đi dây chứ nhỉ?"
Tôi đáp: "Dạ biết."
Nhị sư thúc chỉ tay: "Phía này đường có một cái cây, phía kia đường cũng có một cái cây. Chăng một sợi thừng ở giữa hai cây đó, mày leo lên đi cho ta."
Tôi khảng khái: "Chuyện nhỏ như thôi ạ."
Nhị sư thúc đi mua một sợi dây thừng thật dài. Tôi thoăn thoắt leo lên cái cây bên này đường, buộc chặt một đầu dây. Sau đó, tôi quấn dây quanh thắt lưng, băng qua đường. Thấy hành động kỳ quái của tôi, không ít người hiếu kỳ dừng chân đứng lại nhìn trân trân. Leo lên cành cây phía đối diện xong, tôi buộc nốt đầu dây còn lại vào.
Màn đi dây bắt đầu.
Tôi sải bước trên sợi dây thừng vắt vẻo trên cao, phía dưới là nghìn vạn cái đầu đen kịt đang chen chúc. Đám đông thoạt đầu thốt lên những tiếng kinh hô đầy kinh ngạc, nhưng rồi rất nhanh sau đó, tất thảy đều im bặt. Vô số gương mặt ngước lên, nhìn tôi dưới ánh nắng chói chang, trông chẳng khác nào một con chuồn chuồn đang lướt đi trên sợi chỉ mỏng manh. Thân thủ tôi nhẹ tựa chim yến, người nhẹ bẫng như hư không. Tôi tựa như một áng mây, lại giống như một làn gió, cả thân xác lẫn tâm trí tôi đều đang kiêu hãnh bay bổng giữa vòm trời rộng mở, ngay trên cái chợ búa xô bồ này. Tôi chợt nhận ra mình sinh ra đã là một cao thủ đi dây. Tôi yêu cái cảm giác trên dây này hơn hẳn cái nghề xem tướng thuật kia. Tôi sở hữu thiên phú đi dây vô song, tôi chính là vua của những sợi dây.
Thế gian bỗng chốc lặng tờ, đến gió cũng dường như nín thở, một chú chim nhỏ đậu trên cành cây, lặng lẽ dõi mắt nhìn tôi. Từ trước đến nay, tôi cứ ngỡ mình là con người, nhưng thực ra không phải, tôi là một loài chim trời. Linh hồn và thể xác tôi đang tự do tự tại như cánh chim đại ngàn.
Đang lúc đắm chìm trong thế giới huyễn hoặc của riêng mình, tôi bỗng thấy từ xa có mấy gã cảnh sát mặc sắc phục đen đang hùng hổ đi tới. Cái thân hình béo múp của bọn chúng lắc lư như vịt, vừa chạy vừa thổi còi toe toét. Tôi biết thừa bọn chúng nhắm vào mình, bởi màn đi dây vắt vẻo trên cao kia đã khiến cả con phố tắc nghẽn cục bộ.
Tôi nhanh chân bước lên cành cây, rồi trượt xuống đất, lẩn khuất như một làn khói xanh biến mất dạng. Đám cảnh sát hùng hổ chạy đến, cũng chỉ biết đứng nhìn sợi dây thừng căng ngang giữa không trung mà kêu trời không thấu.
Chạy đi chưa được bao xa, sau lưng đột nhiên vang lên tiếng gọi giật giọng: "Ngai Cẩu! Ngai Cẩu!" Tôi ngoảnh lại nhìn, chẳng phải là Thần Hành Thái Bảo – kẻ mà chúng tôi đang đi "mòn gót sắt tìm chẳng thấy" đó sao.
Nhị sư thúc cũng vừa kịp chạy đến, lão cười khà khà nói: "Thật không ngờ cái mẹo này lại hiệu quả đến vậy, loáng cái đã tìm thấy mày rồi."
Nhiều năm về sau, giới tâm lý học gọi cách mà Nhị sư thúc dùng là "tư duy nghịch hướng". Đã không tìm thấy anh, vậy thì tôi sẽ biến mình thành tâm điểm, để anh tự tìm đến tôi.
Nhị sư thúc hỏi Thần Hành Thái Bảo: "Đã tìm thấy con mụ đó chưa?"
Thần Hành Thái Bảo đáp: "Thấy rồi, đang ở trong khách sạn."
Tôi hỏi: "Sao các chú lại dạt được đến tận đây?"
Nhị sư thúc ngắt lời: "Việc không nên chậm trễ, mau đi khống chế con mụ đó lại."
Khi chúng tôi đến khách sạn, con mụ nọ đang ngồi bên cửa sổ trông ra phố, len lén đưa mắt dòm ngó ra ngoài. Đêm qua, Thần Hành Thái Bảo và mụ ta đã ngủ lại chính khách sạn này. Cái loại đàn bà này đúng là hạng "vơ bèo gạt tép", thấy ai cũng có thể leo lên giường cho bằng được.
Nhị sư thúc chẳng buồn hỏi xem Thần Hành Thái Bảo và mụ đã "lăn lộn" với nhau ra sao, lão chỉ nghiêm giọng căn dặn Thần Hành Thái Bảo bằng mọi giá phải giữ chân mụ cho chặt.
Thần Hành Thái Bảo tặc lưỡi: "Anh em như thể tay chân, vợ con như phục sức ngoài thân, huống hồ cái loại đàn bà này, đến cái áo lót cũng chẳng xứng."
Nhị sư thúc gật đầu: "Chú nói được câu này thì anh yên tâm rồi."
Nhị sư thúc dẫn tôi rảo bước trên phố, tìm hiệu thuốc. Đi mãi một hồi mới thấy một tiệm dược liệu, một lão tiên sinh đeo kính lão đang cầm cái cân tiểu ly để cân thuốc. Cân tiểu ly là loại cân cực nhỏ và chính xác, làm bằng đồng thau, chuyên dùng trong các tiệm thuốc.
Nhị sư thúc hỏi lão tiên sinh đeo kính: "Chưởng quỹ, ở đây có bán 'Thượng Hải Bảo' không?"
Lão già đeo kính ngơ ngác: "Cái gì? Ông bảo cái gì cơ?"
Nhị sư thúc quay người bỏ đi ngay, tiếp tục tìm tiệm khác. "Thượng Hải Bảo" vốn là tiếng lóng giang hồ, ám chỉ các loại thuốc đặc trị bí truyền. Nhị sư thúc muốn mua thuốc độc, nếu đối phương ngay cả câu này cũng không hiểu thì chắc chắn không phải người trong giới, mà đã không phải người trong giới thì tuyệt đối không có thứ thuốc mà lão cần.
Đi thêm vài trăm mét, lại gặp một tiệm thuốc nữa. Lần này, ngồi châm trà là một gã béo múp, tóc tai xức dầu bóng loáng. Nhị sư thúc bước tới hỏi: "Chưởng quỹ, có bán 'Thượng Hải Bảo' không?"
Gã béo giật thót mình, gã đăm đăm nhìn Nhị sư thúc từ đầu đến chân rồi mới thủng thỉnh: "Có thì có, chỉ sợ ông không đủ 'điểm' thôi." Ý gã là: Thuốc đặc trị tôi có thừa, chỉ sợ ông không đủ tiền mà mua.
Nhị sư thúc rút từ trong túi ra một thỏi vàng ròng, đặt đánh "cộp" lên bàn. Gã béo lập tức đổi thái độ, làm tư thế cung kính: "Mời vào trong."
Thứ Nhị sư thúc muốn mua là thuốc khiến người ta hóa câm. Sư phụ đã dặn "không được để mụ nói ra những chuyện đã trải qua trong mấy ngày nay", Nhị sư thúc thừa hiểu ý nghĩa là phải cho mụ nuốt thuốc câm.
Gã béo tóc bóng mượt đưa cho Nhị sư thúc một viên thuốc nhỏ xíu, chỉ bằng móng tay út, rồi dặn dò kỹ lưỡng: "Nghiền thành bột mịn, hòa vào nước, đảm bảo mụ ta sẽ câm bặt."
Nhị sư thúc có vẻ không tin, lão nghi hoặc: "Chỉ một tí tẹo này mà đủ sao? Một thực thể sống sờ sờ cơ mà."
Gã béo tự tin: "Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến hai người thành kẻ không mồm rồi."
Thấy Nhị sư thúc vẫn còn lưỡng lự, gã béo bồi thêm: "Nếu không hiệu nghiệm, cứ quay lại đây trả thuốc, tôi không lấy một xu."
Nhị sư thúc hỏi: "Thứ này làm từ gì mà lợi hại vậy?"
Gã béo thấy lão cũng không phải người cùng nghề thuốc nên mới hé lộ: "Là Bán Hạ."
Nhị sư thúc cũng từng thấy cây Bán Hạ rồi. Ở những vùng núi phía Nam, mỗi khi xuân về, tại những nơi khuất nắng thường mọc lên loại thực vật xanh mướt này, nhưng lão chưa từng biết độc tính của nó lại kinh hồn bạt vía đến thế.
Gã béo thấy Nhị sư thúc vẫn còn chần chừ, lại tiếp tục thao thao: "Viên thuốc của tôi được luyện từ Bán Hạ và rết rừng. Bán Hạ phải lấy từ lứa củ đầu tiên trên đỉnh núi cao vào đầu xuân, rết phải là loại rết già sống hơn sáu năm trong khe đá. Đem phơi khô, nghiền bột rồi trộn với mật ong mới luyện thành viên. Bán Hạ đỉnh núi đã khó tìm, rết già khe đá lại càng khó kiếm, ông bảo viên thuốc này đáng giá bao nhiêu?"
Nhị sư thúc không còn do dự nữa, lão dắt tôi bước ra khỏi hiệu thuốc.
Nhị sư thúc giao viên thuốc cho Thần Hành Thái Bảo. Thần Hành Thái Bảo dẫn con mụ kia đến một quán trà bên đường. Quán trà có hai tầng, tầng một được ngăn thành nhiều phòng kín nhỏ hẹp, không có cửa sổ, chỉ có một cánh cửa gỗ nhỏ thông với bên ngoài, đóng lại là biệt lập hoàn toàn. Tầng hai có cửa sổ, đứng bên cửa một mặt có thể nhìn thấy sông Trường Giang khói sóng mênh mang, mặt kia nhìn thẳng sang bên kia phố.
Đối diện quán trà chính là Hồi Hương Các mà sư phụ đã dặn tôi. Trước cửa Hồi Hương Các, một dàn đàn bà con gái phục sức lòe loẹt đang đứng vẫy khách, tiếng cười nói lả lơi vang tận trời, đó là một kỹ viện.
Nhị sư thúc và tôi nấp trong một tiệm tạp hóa cách quán trà và Hồi Hương Các không xa. Chúng tôi vừa vờ vịt chọn hàng, vừa liếc mắt quan sát động tĩnh bên phía quán trà. Thấy Thần Hành Thái Bảo dẫn con mụ "vơ bèo gạt tép" kia vào quán trà, chúng tôi mới rảo bước đi thẳng vào kỹ viện.
Trên phố vốn đã náo nhiệt, nhưng bên trong kỹ viện còn ồn ã hơn gấp bội. Phố xá là một cảnh tượng, mà kỹ viện lại là một thế giới khác hẳn. Tiếng cười đùa, tiếng trò chuyện, tiếng nũng nịu, thậm chí cả tiếng rên rỉ khoa trương của đám đàn bà con gái cứ thế vang vọng khắp mọi ngóc ngách. Lần đầu tiên đặt chân đến chốn này, tôi sợ hãi vô cùng, cứ bám chặt lấy vạt áo của Nhị sư thúc không rời.
Hai ả kỹ nữ mặt hoa da phấn tiến lại gần, một ả thốt lên: "Ái chà, vị gia này đúng là lạ đời, đi 'ăn phở' mà còn dắt theo cả nhóc con cho nó mở mang tầm mắt cơ đấy."
Ả kia thì vuốt ve sau gáy tôi, lả lướt: "Thằng nhãi ranh này để em lo, còn vị gia kia nhường cho chị đấy."
Nhị sư thúc gạt đi: "Không tìm các cô, tôi tìm Tú bà."
Thời đó, chủ kỹ viện thường là đàn ông ẩn mình phía sau, còn người ra mặt tiếp đón khách khứa là đàn bà, gọi là bà chủ, nhưng thực chất sau lưng đều có thế lực đen che chở. Cờ bạc, mại dâm, thuốc phiện là ba nghề hái ra tiền nhất, không có bảo kê hay quan lại chống lưng thì ai dám mở? Người trong kỹ viện gọi bà chủ là "Mẹ", người ngoài gọi là "Lão bảo".
Ả kỹ nữ vừa vuốt gáy tôi bèn ngửa cổ gọi lên lầu: "Nha tử! Nha tử!" Từ trên lầu chạy xuống một thằng nhóc lớn hơn tôi chẳng bao nhiêu, ả bảo nó: "Dẫn hai vị khách này đi gặp Mẹ." Thằng nhãi vâng dạ một tiếng rồi dẫn chúng tôi leo lên cầu thang gỗ.
"Nha tử" là chân sai vặt trong kỹ viện, người đời gọi là "Quy nô", còn kỹ nữ thì được gọi là "Yêu tỷ".
Tú bà là một người đàn bà ngoài năm mươi, dáng người đẫy đà, nét xuân sắc vẫn còn vương vấn, mỗi cử chỉ nheo mắt hay xoay người đều toát lên vẻ lẳng lơ, dâm dật.
Nhị sư thúc than thở: "Tôi thua bạc trắng tay, không còn mặt mũi nào về nhà, con cái thì đói khát. Nay muốn đem vợ cầm cố ở đây, khi nào có tiền sẽ đến chuộc thân."
Tú bà nghe vậy thì mặt mày rạng rỡ như bắt được vàng. Nghề bán bánh không chê bánh nhiều, nghề mở kỹ viện chẳng bao giờ chê thừa gái cả.
Nhị sư thúc nói tiếp: "Vợ tôi đang ở quán trà đối diện, lát nữa bà cho người sang đó, tôi sẽ chờ ở đấy. Tính mụ hay dỗi, tôi phải lén bán đi cho rảnh nợ."
Tú bà ngần ngại: "Nếu mụ ta bù lo bù loa lên làm hỏng việc làm ăn của quán trà thì không hay, ông cứ đưa mụ sang đây."
Nhị sư thúc đáp gọn lỏn: "Mụ là người câm."
Nhị sư thúc dẫn tôi trở lại quán trà, Thần Hành Thái Bảo cũng vừa từ phòng kín bước ra, y nói khẽ với Nhị sư thúc: "Uống hết rồi."
Lúc sau, từ kỹ viện đi ra mấy gã đàn ông vai u thịt bắp, nhìn qua là biết hạng đâm thuê chém mướn. Nhị sư thúc chỉ tay về phía phòng kín nơi con mụ nọ đang ngồi, bọn chúng hùng hổ xông vào.
Nhị sư thúc dẫn chúng tôi lên tầng hai.
Ngồi bên cửa sổ tầng hai, chúng tôi thấy mấy gã đại hán lôi xềnh xệch con mụ nọ vào Hồi Hương Các. Chân mụ ta một bên có giày, một bên chân trần lấm lem.
Lúc này, đám thổ phỉ Thiên Vương Trại cưỡi ngựa chiến đã hùng hổ kéo đến ngoài thành Kinh Môn.
________________________________________
Sau khi Lăng Quang Tổ trở lại Hương Dũng tự, danh tiếng của lão nổi như cồn khắp vùng Trung Nguyên và hai bờ Giang Hoài. Lão được người đời xưng tụng là "Thiên hạ đệ nhất thần toán".
Công việc làm ăn của Hương Dũng tự càng lúc càng phát đạt, người đến thắp hương xin quẻ đông như cá diếc sang sông. Tiền chúng tôi kiếm được thực sự quá dễ dàng và quá nhiều. Cứ cách vài ngày, Nhị sư thúc lại phải đánh xe ngựa, chở từng bao tải tiền đi. Trong bao tải toàn là tiền giấy đủ mọi mệnh giá. Nhị sư thúc đem đống tiền đó đổi thành ngân phiếu rồi giắt vào người mang về.
Hương Dũng tự bước vào thời kỳ cực thịnh.
Đột nhiên một ngày, dưới núi có một lão hòa thượng vân du đi lên. Lão tăng chống gậy trúc, áo quần tả tơi, nước da đen sạm vì sương gió nhưng đôi mắt lại sáng quắc như sao sa. Phải tu luyện bao nhiêu năm mới có được đôi nhãn thần như thế?
Lão tăng và Lăng Quang Tổ ngồi đàm đạo dưới gốc cây quế cổ thụ xum xuê.
Lão tăng mở lời: "Người xuất gia sáu căn thanh tịnh, trong thì tu thân, ngoài thì độ chúng sinh. Cao tăng đây đã tu luyện đến cảnh giới nào? Đã độ được mấy kẻ lầm than?"
Lăng Quang Tổ đáp: "Không ăn mặn là tu thân, chỉ điểm mê tân là độ chúng sinh."
Lão tăng lắc đầu: "Nói vậy là sai rồi. Không ăn mặn mà tay nhúng máu thì không gọi là tu thân; thanh tâm quả dục, coi rẻ tiền tài mới là tu thân. Chỉ điểm mê tân mà nói năng tùy tiện theo ý riêng thì không gọi là độ chúng sinh; cứu người khỏi nước lửa, giúp kẻ lúc lâm nguy mới thực là độ chúng sinh."
Lăng Quang Tổ biện bạch: "Tiền tài dẫu là vật ngoài thân, nhưng tôi tu sửa tiền điện, đại điện, cúng dường hai mươi tư pho tượng Phật, mười tám vị La Hán để chúng tăng có nơi nương náu, chúng sinh có chỗ bái lạy, đó chính là tâm nguyện bấy lâu của tôi."
Lão tăng phán: "Phật ở trong tâm, tâm chính là tòa sen; Phật ở trước mắt, mắt chính là tòa sen."
Lăng Quang Tổ cãi lại: "Sai rồi. Phàm nhân còn có nhà tranh để ở, huống hồ là Phật tổ nhà ta?"
Lão tăng đăm đăm nhìn Lăng Quang Tổ, gằn giọng hỏi từng câu một: "Thế nào là Nhất thiết Phật hội? Thế nào là Nhị thừa thành Phật? Thế nào là Thất phân toàn đắc? Thế nào là Bát bất trung quán? Thế nào là Cửu vô gián đạo? Thế nào là Thập nhất khổ pháp? Thế nào là Thập bát viên mãn?"
Lăng Quang Tổ mặt mũi sượng sùng, bối rối đứng bật dậy: "Cao tăng cứ ngồi chơi, tôi đi nhà vệ sinh một lát."
Lão tăng cũng đứng dậy, bước chân thoăn thoắt, đi lướt ra ngoài như một cơn gió. Khi ra đến cửa, lão để lại một câu: "Thiện ác nhân quả, báo ứng nhãn tiền. Ngôi chùa giả dối này, ngày tàn chỉ trong sớm tối."
Ít lâu sau, ngoài chùa kéo đến mấy chục người cưỡi ngựa cao lớn, sau lưng đeo súng dài, mặc quân phục xanh lục. Vừa đến nơi, bọn chúng đã chỉ đích danh đòi gặp phương trượng.
Lăng Quang Tổ nơm nớp lo sợ bước ra, bọn chúng lạnh lùng: "Cấp trên có lời mời." Thế là chúng kẹp chặt Lăng Quang Tổ đưa đi mất tích. Tôi và Nhị sư thúc đưa mắt nhìn nhau, chẳng dám thốt ra nửa lời.
Tôi đứng ngoài cổng chùa, nhìn mấy chục con ngựa phi xuống sườn núi, bụi bay mù mịt rồi mất hút.
Ngày hôm sau, Lăng Quang Tổ trở về. Tôi hỏi: "Bọn họ bắt sư phụ đi làm gì thế?"
Lăng Quang Tổ đáp: "Hắc Cốt Đầu đã quy thuận quân đội rồi, giờ đang làm Trung đoàn trưởng. Gã tiến cử ta với Sư đoàn trưởng, bảo ta xem bói cực chuẩn. Thế là ông ta sai người đến mời ta về xem cho một quẻ."
Tôi tò mò: "Thế sư phụ phán thế nào?"
Lăng Quang Tổ cười: "Cái loại người đó đi xem bói thì chỉ có một ham muốn duy nhất là thăng quan tiến chức. Thế nên ta bảo trong vòng một tháng nữa ông ta chắc chắn sẽ được đề bạt. Ông ta nghe xong sướng rơn, tặng ta bao nhiêu là tiền."
Tôi lo lắng: "Lỡ trong một tháng ông ta không được lên chức thì sao?"
Lăng Quang Tổ thản nhiên: "Chưa đầy một tháng nữa là chúng ta đã cao chạy xa bay rồi. Trời đất bao la, ông ta biết tìm ở đâu?"
Nửa tháng sau, ngoài chùa lại có một đoàn người kéo đến, trống dong cờ mở, pháo nổ vang trời. Tôi chạy ra xem thì lại là một nhóm binh lính.
Bọn họ đến để tạ ơn Lăng Quang Tổ.
Đám người này thuộc lực lượng địa phương của Hàn Phục Cừ. Năm đó, Hàn Phục Cừ đang giữ chức Chủ tịch tỉnh Hà Nam. Lúc bấy giờ vùng Trung Nguyên chiến loạn liên miên, các quân phiệt lớn nhỏ tranh giành địa bàn kịch liệt. Tham mưu trưởng của Hàn Phục Cừ vừa tử trận vì pháo hỏa, thế là viên Sư đoàn trưởng nọ được thăng cấp lên làm Tham mưu trưởng.
Âm sai dương thác, Lăng Quang Tổ lại phán đúng tiền đồ của viên sĩ quan kia.
Danh tiếng của Lăng Quang Tổ như mặt trời ban trưa.
Hàn Phục Cừ vốn là một trò cười trong cả giới quan trường lẫn dân gian. Những chuyện tiếu lâm về gã có dùng mấy toa tàu cũng chở không hết.
Hàn Phục Cừ cũng giống như Hắc Cốt Đầu, một chữ bẻ đôi không biết, vậy mà lại lấy được cháu gái của Cao Bộ Doanh – một cử nhân cuối thời Thanh, danh sĩ thời Dân quốc. Người đàn bà dòng dõi thư hương này đã mang lại cho gã không ít vận may.
Hàn Phục Cừ sớm đầu quân cho Phùng Ngọc Tường, nhờ quân công mà leo lên từng bước. Nghe nói gã tác chiến rất dũng mãnh, giết người như ngóe, nhưng đó toàn là nội chiến, người chết đều là đồng bào. Về sau trong kháng chiến chống Nhật, gã chưa thấy bóng quân địch đã sợ mất mật, quay đầu tháo chạy, dâng không Tế Nam cho giặc, cuối cùng bị Tưởng Giới Thạch xử tử.
Tính tình Hàn Phục Cừ thô lỗ nhưng lại thích học đòi văn vẻ. Dân gian truyền tụng rằng mỗi khi đi du ngoạn, gã lại ngứa ngáy muốn làm thơ để phô trương. Khi đi chơi núi Thái Sơn, thấy trên đá có thơ của người xưa để lại, gã cũng "vò đầu bứt tai" tức cảnh sinh tình làm một bài "Vịnh Thái Sơn": "Xanh xăm Thái Sơn đứng đằng xa, trên thì nhỏ xíu dưới to ra. Nếu đem Thái Sơn mà lộn ngược, dưới thì nhỏ xíu trên to ra." Lúc đi chơi hồ Đại Minh, thấy cảnh đẹp như tranh, gã không nén nổi lòng mình bèn làm bài "Hồ Đại Minh": "Hồ Đại Minh, hồ Minh Đại, hồ Đại Minh có hoa sen. Trên hoa sen có con cóc, chọc một cái nhảy một phát."
Cũng có người bảo hai bài thơ "con cóc" này là "kiệt tác" của quân phiệt Trương Tông Xương.
Dân gian hết lời chế nhạo gã "Tướng quân đậu phụ" này, nhưng Hàn Phục Cừ lại cực kỳ coi trọng giáo dục và không tiếc tiền chi cho trường học. Có năm, với tư cách Chủ tịch tỉnh Sơn Đông, gã đi thị sát đại học Sơn Đông, xem sinh viên thi đấu bóng rổ. Mới xem được lúc đầu gã đã nổi trận lôi đình. Người đi cùng vội hỏi nguyên do, Hàn Phục Cừ dõng dạc phán: "Ta cấp cho trường nhiều tiền thế, sao học trò còn nghèo đến mức không mua nổi quần áo, cứ mặc quần đùi mà tranh nhau có mỗi một quả bóng thế kia? Sao không phát cho mỗi đứa một quả? Ta thấy tiền chắc bị tên Trưởng phòng hậu cần tham ô hết rồi!"
Nghe danh Lăng Quang Tổ là thần toán thiên hạ, Hàn Phục Cừ cũng mời lão về xem cho mình một quẻ. Lúc này, Hàn Phục Cừ dẫu đang dưới trướng Phùng Ngọc Tường nhưng lại có ý "bắt cá hai tay", muốn đầu quân cho Tưởng Giới Thạch. Mà Tưởng Giới Thạch cũng đang ra sức lôi kéo gã.
Hàn Phục Cừ đang phân vân không biết nên làm thế nào.
Hàn Phục Cừ đã mời, Lăng Quang Tổ dù muốn hay không cũng phải đi. Hàn Phục Cừ nhờ chỉ điểm mê tân, Lăng Quang Tổ dẫu biết hay không cũng phải phán.
Leo lên con thuyền của Hàn Phục Cừ rồi, Lăng Quang Tổ không còn tự chủ được nữa. Thuyền chưa cập bến thì lão không thể lên bờ. Nhưng bao giờ thuyền mới cập bến thì lão lại chẳng hề hay biết.
Lăng Quang Tổ chẳng hiểu gì về Hàn Phục Cừ cả. Lão am tường giang hồ như lòng bàn tay, nhưng với chốn quan trường thì mù tịt. Thậm chí trước đây lão còn chưa nghe danh Hàn Phục Cừ bao giờ, bởi lão đã ẩn cư quá lâu trong rặng Đại Biệt Sơn.
Thế nhưng, Lăng Quang Tổ rất giỏi cái món "làm màu".
Tại phủ đệ của Hàn Phục Cừ, gã chủ nhà tươi cười đón tiếp, còn Lăng Quang Tổ thì cố tỏ ra điềm tĩnh, ung dung.
Hàn Phục Cừ khen: "Nghe danh cao tăng đã lâu, như sấm bên tai." Lăng Quang Tổ đáp lễ: "Nghe danh hổ uy của tướng quân bấy lâu, thật lấy làm khâm phục." Thực tế thì đây là lần đầu tiên hai kẻ này nghe thấy tên nhau.
Hàn Phục Cừ vào thẳng vấn đề: "Ta có một chuyện chưa rõ, muốn xin cao tăng chỉ giáo."
Trong đầu Lăng Quang Tổ bắt đầu xoay chuyển kịch liệt, lão không đoán nổi Hàn Phục Cừ định hỏi chuyện gì. Cuốn "Anh Diệu Thiên" cũng chẳng hề đề cập đến việc những gã đại quân phiệt như Hàn Phục Cừ thường hỏi về vấn đề gì. Nghe đâu hạng quan to này việc quân việc nước ngập đầu, tốt nhất là không nên nói bừa, tránh rước nhục vào thân.
Lăng Quang Tổ hỏi: "Dám hỏi tướng quân muốn hỏi chuyện chi?"
Lúc đó, Tưởng Giới Thạch thế lực mạnh nhất đang lôi kéo Hàn Phục Cừ, trong khi Phùng Ngọc Tường và Diêm Tích Sơn cũng đối đãi với gã chẳng bạc. Đại chiến giữa Tưởng – Phùng – Diêm sắp nổ ra, Hàn Phục Cừ không biết chọn phe nào. Trong mật thất, gã đem hết bí mật ruột gan kể cho Lăng Quang Tổ nghe.
Lăng Quang Tổ lim dim đôi mắt, miệng lẩm nhẩm khấn vái, rồi lão phán: "Tưởng ở vị Càn, Phùng ở vị Chấn, Diêm ở vị Khảm, tướng quân đứng ở vị chính giữa. Vị Càn tạm chiếm thế thượng phong, vị Chấn đang ở thế hạ phong, vị Khảm thì lay lắt không định. Càn là lớn, Chấn là không vững, Khảm là sóng gió. Tướng quân tạm thời nương nhờ vị Càn, sau này ắt sẽ thay thế được."
Mấy lời lý luận phương hướng mù mịt cao siêu của Lăng Quang Tổ đã khiến gã quân phiệt thất học Hàn Phục Cừ sướng rơn cả người. Hàn Phục Cừ vốn đã muốn theo Tưởng Giới Thạch, bởi Tưởng là kẻ mạnh nhất lúc bấy giờ. Đầu cơ trục lợi vốn là đặc điểm nổi bật nhất của đám quân phiệt lớn nhỏ thời ấy.
Hàn Phục Cừ tặng Lăng Quang Tổ mười thỏi vàng ròng để tạ lễ.
Lúc tiễn khách, Lăng Quang Tổ còn bồi thêm một câu: "Kẻ nào mạnh thì theo kẻ đó." Hàn Phục Cừ gật đầu lia lịa. Tám năm sau, chính câu nói này đã hại chết Hàn Phục Cừ.
Ngay khi Lăng Quang Tổ vừa hiên ngang bước ra khỏi phủ đệ, Hàn Phục Cừ đã gọi ngay Vệ sĩ trưởng vào: "Theo sát tên hòa thượng đó, đến chỗ vắng vẻ thì khử gã đi. Bí mật quân sự của lão tử sao có thể để gã mang đi cho được!"
Đêm hôm đó, tôi vì bị đau bụng nên phải chạy ra nhà vệ sinh. Phía ngoài nhà vệ sinh là vách đá dựng đứng sau lưng chùa. Cạnh vách đá có một con đường nhỏ, chính là nơi tôi và gã lùn béo từng giằng co với con mụ nọ.
Đang ngồi trong nhà vệ sinh, tôi bỗng thấy lửa cháy ngùn ngụt bốc lên tận trời xanh, Hương Dũng tự chìm trong biển lửa. Tôi chẳng kịp thắt thắt lưng, định lao ra cứu hỏa thì thấy giữa đám lửa có rất nhiều bóng người đang lảng vảng, bọn họ đang vẩy thứ gì đó khắp các ngóc ngách của chùa. Thứ đó có mùi cực kỳ hăng hắc.
Có kẻ đang phóng hỏa giết người! Tôi kinh hồn bạt vía, lại chui tọt vào nhà vệ sinh, chịu đựng mùi hôi thối nồng nặc mà chui qua hố phân trốn ra ngoài.
Tôi đã dùng một thân đầy phân để đổi lấy mạng sống của chính mình. Còn sư phụ, Nhị sư thúc và gã lùn béo đều đã bị ngọn lửa đêm đó thiêu thành tro bụi.
Lời tiên tri của lão hòa thượng kia đã ứng nghiệm.
Sư phụ tôi không phải là đại sư tướng thuật, lão hòa thượng đó mới thực sự là bậc đại sư.
Giang hồ tướng thuật quá đỗi hiểm ác. Ngay cả hạng thông minh tuyệt đỉnh như sư phụ và Nhị sư thúc tôi còn khó tránh khỏi cái chết thảm khốc, huống hồ là hạng ngu đần như tôi.
Tôi quyết định đời này kiếp này sẽ không bao giờ dấn thân vào cái nghề tướng thuật này nữa.

(Tổng: 5001 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0