Tổ Bịp

  • 4313 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 84: Ai cũng có lần đầu tiên
Chúng tôi cứ thế đi về phía đông, tiết trời ngày một lạnh, lá cây dần ngả vàng rồi lả tả rụng rơi. Ban đầu trên bầu trời còn thấy bóng nhạn bay qua, về sau chẳng thấy đôi cánh chim nào nữa. Những cành cây trút hết lá co ro thành một túm, cỏ úa liền trời, nhìn hút tầm mắt khiến lòng người nảy sinh một nỗi thê lương vô hạn. 
Vì thiếu cỏ ăn, con ngựa tôi cưỡi từ Tây Vực về cũng gầy rộc đi nhanh chóng. Nó vốn chẳng phải chiến mã có thể phi nước đại mà chỉ là giống ngựa thường dùng để kéo xe. Cuối cùng cũng đến lúc con ngựa ấy ngã gục không dậy nổi nữa. Từ đó, tôi và Lệ Mã đành phải cuốc bộ. Cứ nghĩ bụng đến ngôi làng tiếp theo sẽ mua một con ngựa khác, nhưng mãi vẫn chưa mua được. Lũ ngựa ở đó toàn là giống máu lạnh, nếu đi cùng đám ngựa máu nóng của Thiết Trụ thì chỉ làm vướng chân họ.
Một đêm nọ, chúng tôi tá túc trong một cái nhà hầm bỏ hoang, gió từ bên ngoài cứ thốc vào ù ù. Tôi để Lệ Mã nằm phía trong còn mình nằm bên ngoài, dùng thân mình che chắn cho cô ấy khỏi cơn gió buốt giá đang gào thét. Sáng sớm tỉnh dậy, Lệ Mã bỗng thấy hoa mắt chóng mặt, miệng khô lưỡi đắng, đứng dậy cứ lảo đảo chực ngã, tôi đặt tay lên trán cô ấy thì thấy nóng hầm hập. Trời dần trở lạnh, mùa thu đã lặng lẽ ập đến, vậy mà Lệ Mã vẫn còn mặc tấm áo lụa mỏng manh ngày hè. Chúng tôi đều là kẻ da dày thịt béo, lăn lộn giang hồ bao năm, gió sương đã hun đúc nên lớp chai sần trên người, còn Lệ Mã một thân lá ngọc cành vàng sao có thể thích nghi với kiểu khí hậu thay đổi kịch liệt này.
Tôi nói đám Thiết Trụ cứ đi trước, đợi bệnh tình Lệ Mã thuyên giảm tôi sẽ đuổi theo. Nhưng Lệ Mã sốt li bì, mê sảng nói nhảm suốt. Nơi này trước không có thôn làng, sau chẳng có quán xá, phóng mắt nhìn quanh bốn bề chỉ toàn một màu vàng. Bầu trời âm u màu vàng, mặt đất vừa gặt xong trơ gốc rạ màu vàng, sườn núi trút sạch lá cũng màu vàng, lòng sông khô cạn cũng vàng nốt. Chẳng biết làm cách nào cho Lệ Mã khỏi bệnh, tôi đành ôm chặt lấy cô ấy, áp môi lên trán cô ấy, muốn cơn sốt cao kia truyền sang tôi để cơ thể cô ấy trở lại bình thường. Nhưng cũng vô ích.
Nghĩ đi nghĩ lại chẳng còn cách nào hay hơn, tôi đành để Lệ Mã nằm lại trong lò gạch, dùng mấy viên gạch vỡ chặn cửa lò lại rồi nói: "Em đợi anh. Anh đi mua thuốc, sẽ về ngay thôi". Lệ Mã nằm im lìm, chẳng biết có nghe thấy lời tôi nói hay không. Tôi men theo con đường mòn phủ đầy cát bụi, cắm đầu chạy như điên về phía trước mong tìm được tiệm thuốc, nhưng trước mặt chỉ là những triền đồi vàng úa, ngay cả một cái cây ra hồn cũng chẳng thấy. Tôi tiếp tục chạy, tôi tin rằng chỉ cần có đường ắt sẽ có làng mạc. Ở vùng Tây Bắc rộng lớn này, con đường chính là cầu nối giữa các thôn xóm, cứ bám theo đường mà đi, đi mãi kiểu gì cũng tìm thấy người.
Chạy đến tận giữa trưa, cuối cùng tôi cũng thấy một ngôi làng hiện ra phía trước. Tôi gõ cửa nhà đầu tiên hỏi xem trong làng có lang trung không. Người ta nói ngôi nhà có mái hiên giữa làng chính là nhà lang trung. Cái làng này chỉ có vài chục hộ, đa phần là nhà vách đất lợp rơm rạ, duy chỉ có nhà lang trung là tường gạch ngói xanh, bề thế huy hoàng, đủ thấy lão này hành nghề y kiếm chác được không ít.
Tôi đẩy cổng bước vào, thấy một bà già đang quét sân vườn. Trong sân trồng mấy cây đông thanh, mùa này chỉ có loại cây ấy là còn giữ được màu xanh, lá rụng cuộn tròn rải một lớp dưới đất. Tôi hỏi lang trung đâu, bà già không đáp mà chỉ tay về phía gian nhà sau. Khi tôi bước vào nhà sau thì thấy một gã đàn ông béo núc ních đang nằm sấp trên kháng, một cô bé chừng mười mấy tuổi mặc đồ lụa là đứng trên lưng gã, mỗi lần cô bé giẫm một cái là gã béo lại kêu "sướng quá", còn cô gái giẫm chân thì cười khanh khách. 
Tôi hỏi ai là lang trung, gã béo nằm đó không đáp, cô bé đang giẫm lưng cũng nín thinh. Tôi cao giọng hỏi lại lần nữa, cô bé mới bước xuống khỏi lưng gã. Gã béo ở trần đứng dậy, chân vừa duỗi ra đã xỏ ngay vào đôi giày dưới đất, giọng gã còn to hơn cả tôi: "Hò hét cái gì, không thấy ông đang bận à?". Tôi gặng hỏi có phải gã là lang trung không, gã hằn học thừa nhận. Tôi bảo có người sốt cao giục gã mau đi xem, gã xua tay bảo gã khám bệnh chưa bao giờ ra khỏi cửa, toàn là người nhà bệnh nhân đưa tới. 
Gã này đúng là loại giá áo túi cơm, tôi vừa nghe đã thấy sôi máu. Lệ Mã sốt đến mê sảng, tôi phải chạy hộc tốc xa thế này mới đến nơi mà gã lại bảo tôi quay về khiêng người tới, quả là hết sức ngang ngược, ức hiếp người bệnh quá đáng. Tôi trợn mắt hỏi: “Hôm nay ông có đi với tôi không?” Gã béo cũng nổi cáu, lớn tiếng quát lại: "Không đi đấy, làm gì được nhau? Mày đến mời tao chữa bệnh mà dám dùng cái giọng đó à. Hôm nay ông mày dứt khoát không đi” Nói đoạn gã tuột giày, nằm ịch xuống giường.  
Thấy cái bộ dạng ấy, cơn giận trong tôi bốc lên ngùn ngụt. Tôi dang hai tay, xốc ngược tấm thân phì nộn của gã lên vai, cứ thế lao ra cửa. 
Bên ngoài, mười mấy người già trẻ lớn bé nhà gã đứng chật sân, nhưng thấy mắt tôi đỏ ngầu, dáng vẻ liều mạng nên chẳng ai dám cản. Tôi vừa đi vừa gầm lên: "Hôm nay ông mà không chữa khỏi bệnh cho vợ tôi, tôi sẽ đập nát cái mạng già của ông".
Tôi bước ra khỏi cổng lớn, sải bước rầm rập về phía ngoài làng, chấn động cả mặt đất. Dân trong làng nghe tiếng ồn ào chạy ra xem, nhưng vừa thấy người tôi vác là gã lang trung kia thì chạy tọt vào nhà đóng chặt cửa nẻo, chỉ dám ghé mắt nhìn trộm. Xem ra gã lang băm này cũng chẳng có chút uy tín nào trong làng. Tôi vác gã như vác bao tải lúa mì. Gã nặng trình trịch, còn nặng hơn cả một con lợn tạ. 
Ra đến đầu làng, gã bỗng kêu lên: "Thả tôi xuống, thả tôi xuống, tôi chưa mang thuốc". Tôi nghĩ bụng cũng phải, gã đi tay không thế này, dù có vác đến lò gạch bắt mạch chuẩn đến đâu mà không có thuốc cũng bằng thừa. Sợ gã chạy mất, tôi lại vác gã quay lại. Trong lòng lo lắng cho Lệ Mã, lại sợ gã giở trò, tôi bèn vơ lấy mỗi loại dược liệu một nắm nhét vào túi thuốc, rồi đeo túi thuốc lên, vác gã tiếp tục đi. 
Ra khỏi làng chừng hai ba dặm, tôi thở không ra hơi, đành phải thả gã béo xuống. Định bụng nghỉ ngơi một lát rồi đi tiếp, nào ngờ chân vừa chạm đất gã đã bỏ chạy thục mạng. Hai cái chân ngắn tũn của gã guồng nhanh thoăn thoắt, cái mông phì nộn lắc lư trái phải trông đến là sinh động. Ở cái chốn đồng không mông quạnh này, sợ bị tôi tẩn cho một trận, gã cứ cắm đầu chạy trước dẫn đường.
Về đến lò gạch, Lệ Mã đã sốt đến mất cả tri giác. Tôi lao đến ôm cô ấy vào lòng gào thét khản cả giọng nhưng cô ấy chẳng có phản ứng, toàn thân nóng hầm hập như hòn than. Gã lang trung lôi từ trong túi ra mấy vị thuốc, bảo tôi đun nước sôi rồi thả vào sắc lên cho cô ấy uống. Lúc ấy tôi sinh nghi, sợ gã cố tình trả thù nên bảo gã uống trước rồi mới cho Lệ Mã uống. Gã lang trung kêu trời bảo gã có bệnh đâu mà uống thuốc, tôi bảo ai biết gã có giở trò hay không. Gã mới phân trần: "Khổ quá huynh đệ ơi, nhà cửa tôi cậu cũng biết rồi. Cậu sợ tôi cho thuốc giả, tôi còn sợ cậu đến nhà tôi quậy phá hơn ấy chứ. Bệnh của em dâu không sao đâu, chỉ là cảm mạo phong hàn thôi. Tôi bốc cho vài vị tô diệp, ma hoàng, cát cánh. Có ba thứ này là đủ rồi". Tôi biết màn quậy tưng bừng vừa nãy ở nhà gã đã khiến gã béo này khiếp vía. Gã lang trung lại hỏi ở đây không ấm sắc thuốc, không nước thì sắc kiểu gì. Tôi bảo chuyện đó cũng đơn giản, nói gã cứ về trước, nếu vợ tôi có mệnh hệ gì thì tôi quyết không tha cho gã. Gã rối rít cảm tạ rồi bước ra khỏi lò gạch, vừa quay người đã chạy nhanh hơn thỏ. Tôi đuổi theo ra ngoài, nhìn cái bóng lưng phì nộn mà chẳng chút oai phong của gã quát với theo: "Vợ tôi mà khỏi bệnh, tôi sẽ đến tận nhà trả tiền". Gã vội quay lại xua xua tay: "Thôi thôi huynh đệ ơi, khỏi tiền nong gì sất, tôi nhìn thấy cậu là đã sợ rồi", nói xong gã sải đôi chân ngắn cũn chạy như bay. Thật không ngờ một kẻ béo tốt như thế lại có thể chạy nhanh đến vậy, nhìn từ xa cứ như một quả bóng thịt đang lăn.
Tôi quay lại lò gạch, cầm ba vị thuốc kia mỗi thứ cắn một miếng nhai nát trong miệng. Vị thuốc đắng ngắt, làm tôi phải rùng mình, đầu óc choáng váng. Tôi nghiến răng ép lấy nước cốt từ đám lá thuốc đã nhai nát, mớm vào cái miệng nóng hổi của Lệ Mã. Đến khi răng đau nhức mất cả cảm giác tôi mới ngừng nhai. Chạy đôn chạy đáo hơn nửa ngày trời, toàn thân mệt mỏi rã rời, tôi cứ thế ôm Lệ Mã ngủ thiếp đi lúc nào không hay. 
Khi tỉnh dậy trời đã tối đen, tôi mở mắt nhìn qua lỗ hổng trên đỉnh lò gạch, thấy đầy trời sao lấp lánh. Ai từng thấy lò gạch đều biết trên đỉnh luôn có một lỗ tròn vuông vức chừng một thước dùng để tiếp củi và quan sát lửa. Ngày xưa đốt lò bằng củi, giờ thì dùng than đá. 
Lệ Mã cũng đã tỉnh, cơn sốt cao đã lui. Tôi sờ trán cô ấy không còn cảm giác nóng bỏng tay nữa. Lệ Mã nhẹ nhàng hôn tôi, nếm phải vị đắng nghét trong miệng tôi nên cô ấy hiểu ra tất cả. Má cô ấy áp chặt vào má tôi. Tôi cảm nhận được một dòng nước mát lạnh trượt qua mặt mình, đó là nước mắt của cô ấy.
Đêm ấy, nằm trong cái lò gạch phủ đầy bụi bặm, cô ấy thầm thì: "Thổ Ti Địch Ai Đao Nhượng". Tôi đáp lại: "Thổ Tư Địch Ai Đao Nhưỡng". Cô ấy nói: "Em yêu anh". Tôi cũng nói: "Anh yêu em".
Tay chân chúng tôi quấn lấy nhau, hơi thở hòa quyện vào nhau. Tay tôi luồn vào áo cô ấy, tay cô ấy cũng luồn vào áo tôi. Chúng tôi say đắm hôn nhau, say đắm ôm lấy nhau, quên trời quên đất. Chẳng biết từ lúc nào, quần áo trút xuống nhẹ tựa lông hồng. Dưới ánh trăng, tôi thấy cô ấy trắng ngần không tì vết, như một kiệt tác hoàn mỹ nhất thế gian. Sau đó, tôi bỗng cảm thấy thế giới tĩnh lặng như tờ, gió từ nơi xa thổi tới, nhẹ lướt qua đỉnh lò không tiếng động. Tôi như trượt từ nơi rất cao xuống, lướt qua ngọn cỏ, lướt qua dòng suối, hoa tươi và sóng nước cùng nở rộ bên mình rực rỡ muôn màu. Cuối cùng, tôi trượt vào lòng biển khơi bao la vô tận. Tôi nằm trên mặt biển êm đềm, phẳng lặng, mặc cho nước biển nâng niu như nâng một chiếc lông vũ. Ánh trăng từ tầng mây chiếu xuống, hòa quyện cùng tôi... 
Ngón tay Lệ Mã lướt trên da thịt tôi như gió biển lướt qua cánh buồm. Tôi ôm eo cô ấy như mạn thuyền buộc chặt mái chèo. Cái đêm trăng mờ ảo ấy, cái lò gạch tối tăm ấy đã trở thành khoảng thời gian và địa điểm hạnh phúc nhất trong hai mươi năm cuộc đời tôi. Nhiều năm về sau, tôi vẫn luôn cố gắng hồi tưởng lại đêm ấy và chốn ấy, cố nhớ lại từng chi tiết, nhưng gương mặt Lệ Mã cứ nhạt nhòa chẳng rõ, những chi tiết ấy tôi chẳng thể nhớ nổi. 
Thử tình khả đãi thành truy ức. Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên (Mối tình này vốn đã có thể trở thành những ký ức đẹp đẽ, chỉ tiếc ngay thuở ấy, lòng đã ngơ ngẩn mơ hồ)
Chúng tôi cứ ôm nhau như thế cho đến khi trời sáng. Một tia nắng chiếu xiên vào trong lò gạch, tôi biết một ngày mới lại đến. Chỉ có điều, mọi buổi sáng trước kia đều chẳng thể đẹp bằng buổi sáng hôm nay. Lệ Mã đã khỏi bệnh, tôi hưng phấn vô cùng. Chúng tôi rời khỏi lò gạch, quyết định đi vào ngôi làng kia để cảm tạ gã lang trung béo tốt, tiện thể mua một con ngựa. Chỉ dựa vào đôi chân này mà muốn đuổi kịp Báo Tử thì chẳng biết phải đợi đến năm nào tháng nào.
Giờ này chắc mọi người đã giao xong hàng ở Gia Dục Quan và đang trên đường quay về. Tôi vẫn canh cánh trong lòng về tờ ngân phiếu mười vạn kia, không biết đã lọt vào tay ai. Nếu biết được, tôi nói gì cũng phải trộm bằng được. Giờ tôi có đi trộm cũng chẳng liên quan gì đến Quang Đầu nữa. Của bất nghĩa thì ai cũng có thể lấy. Tôi chợt nghĩ, đám lão già râu ba chòm chắc đã thả chim ưng đi từ lâu, có khi lúc này đám Hưởng Mã gầy ốm và đám tiêu sư của Quang Đầu đã choảng nhau to rồi cũng nên. Nếu hai bên đánh nhau một mất một còn, tôi biết tìm ai mà hỏi tung tích tờ ngân phiếu mười vạn đây? Còn nữa, liệu Báo Tử và Quang Đầu có được an toàn không?
Tôi vừa đi vừa nghĩ ngợi, khi bước vào ngôi làng nọ, bỗng cảm thấy không khí có gì đó khác thường. Trên đường làng tụ tập rất đông người, ai nấy đều xì xào bàn tán, vẻ mặt đầy hứng thú. Mấy đứa trẻ choai choai đuổi bắt nhau trên đường cười đùa vui vẻ. Tôi quan sát mặt đất không phát hiện dấu vết khả nghi nào. Tôi dắt Lệ Mã đi vòng ra sau làng, đến lối vào phía đông. Chúng tôi đi từ đông sang tây, trên con dốc đầu làng phía đông in hằn mấy vệt bánh xe sâu hoắm và cả dấu móng lạc đà hình cánh hoa. Hèn gì cái làng này náo nhiệt như tết, hóa ra là có khách quý đến thăm. 
Tôi cũng tò mò muốn xem chuyện lạ, biết đâu nhà ai có đám cưới đám ma. ở quê chỉ có dịp hiếu hỉ mới có cảnh nhà nhà đổ ra đường xem như thế này. Nếu gặp đúng dịp ấy, tôi và Lệ Mã sẽ đóng giả làm họ hàng nhà gái vào đánh chén một bữa no nê. Họ hàng nhà gái thường rất đông, người quê gọi là "tân khách", có trà trộn vào cũng chẳng ai để ý.
Bước vào trong làng, thấy rất đông người tụ tập trước cửa ngôi nhà mái hiên che ban nãy. Cổng lớn mở toang, mười mấy con lạc đà buộc vào gốc cây trước cửa, một thiếu niên da dẻ thô ráp cầm roi đứng canh. Trong thôn có mấy thiếu niên khác đang trò chuyện rôm rả với cậu ta. Lúc ấy tôi nghĩ: Nhà gã này oách thật, khách khứa đến đông thế này, không biết nhà gã có chuyện gì nhỉ? Trông không giống chuyện hiếu hỉ cho lắm. 
Tôi không mạo muội bước vào mà chỉ kéo Lệ Mã đứng lẫn trong đám đông quan sát. Lệ Mã trùm khăn kín mặt, giống như bao phụ nữ ở đây nên chẳng ai để ý. Trong sân nhà gã lang trung có mấy cỗ xe lớn, trên xe chất hàng căng phồng, dây thừng chằng ngang buộc chéo, nhìn là biết hàng hóa. Bên cạnh xe lớn có mấy người ngồi quây lại đánh bài cẩu. Bài cẩu là một trò chơi bài lá cổ xưa, vốn đã rất thịnh hành từ trước khi bài tây du nhập, mãi sau này khi có những bộ bài tây in ấn đẹp hơn thì bài cẩu mới dần vắng bóng. Tôi tự hỏi đám người này làm nghề gì? Là thương nhân buôn hàng chuyến? Hay là dân hộ tiêu? Xe chở tiêu thường cắm cờ tiêu cục, nhưng mấy chiếc xe này lại không có. Đang còn thắc mắc thì thấy một người bước từ trong sân ra. Thoáng nhìn, tôi thấy người này quen quen nhưng nhất thời không nhớ ra là ai. Dung mạo và cử chỉ của gã dường như đã gặp ở đâu đó, nhưng lúc ấy tôi nghĩ mãi không ra.
Hắn nói với thiếu niên cầm roi: "Nói cái rắm gì với bọn khả lãng mã, toàn là bọn không tử cả". (Nói chuyện với đám nhà quê làm quái gì, bọn họ đếch hiểu gì đâu). Nghe thấy câu ám ngữ giang hồ này, đầu óc tôi bỗng lóe lên như tia chớp, lập tức hiểu ra. Cảnh tượng ban đêm tôi và Niệm Gia Thân ở khách điếm nọ hiện về rõ mồn một. Đêm đó tôi nghe trộm hai người nói chuyện, đây là một trong số đó. Trời sáng Niệm Gia Thân đi theo dõi hai người, đây chính là một tên. Đi mòn gót sắt tìm chẳng thấy, đến khi gặp được chẳng tốn công. Tôi vắt óc suy nghĩ tìm manh mối kẻ hại chết Niệm Gia Thân, không ngờ lại xuất hiện ở đây. Tôi lặng lẽ nắm chặt tay Lệ Mã, âm thầm rút lui khỏi làng, lo sợ bọn chúng nhận ra mình. Cánh tay tôi run lên nhè nhẹ.
Sau đêm qua, Lệ Mã cứ như biến thành người khác, khuôn mặt cô ấy ửng hồng, ánh mắt ướt át như quả đào mật, thỉnh thoảng lại liếc nhìn tôi đầy tình ý. Ánh mắt tôi vừa chạm phải mắt cô ấy là tóe lên những tia lửa rực rỡ. Cô ấy cúi đầu, cười khúc khích.
Tôi dẫn cô ấy ra khỏi cổng làng phía tây, thấy trước mặt là một bãi ngô. Bãi ngô đã bị bẻ hết bắp, trông xấu xí như lão già cởi trần nằm trên đất, lộ ra những rẻ sườn khẳng khiu. Tôi và Lệ Mã nấp trong bãi ngô, quan sát động tĩnh đầu làng. Lệ Mã nép sát vào tôi, hơi thở ướt át của cô ấy phả vào cổ khiến tôi mê mẩn tâm thần. Tôi xoay người ôm lấy cô ấy, cô ấy nhắm mắt lại, hàng mi dài như cánh bướm run rẩy.
Tôi đặt Lệ Mã xuống đất, ngón tay vừa chạm vào cái khuy áo đầu tiên thì chợt thấy đầu làng xuất hiện một đoàn người, chính là đám dắt lạc đà kéo xe hàng kia. Con lạc đà đi đầu vô cùng nổi bật vì trên bướu của nó có túm lông màu đỏ. 
Ngón tay tôi vội rời khỏi người Lệ Mã, nằm rạp xuống đất ngóng về đầu làng. Tôi thấy đám người kia nối đuôi nhau ra khỏi làng, đi về phía bãi ngô. Tôi quan sát kỹ thì thấy người còn lại. Hai kẻ trong quán trọ đêm đó dùng ám ngữ giang hồ bàn chuyện tiêu cục và hưởng mã đều có mặt ở đây. Nhưng rốt cuộc bọn chúng có lai lịch thế nào. Nếu nói là tiêu cục thì xe không cắm cờ hiệu, còn nói là thương nhân thì chở nhiều hàng hóa thế kia mà không có tiêu cục bảo vệ sao dám lên đường. Tiếng xe kêu cọt kẹt, tiếng chân lạc đà bước thình thịch qua trước mắt chúng tôi rồi dần đi xa, khuất dạng phía đường chân trời. Tôi kéo Lệ Mã bám theo. Đêm hôm ấy, chúng tôi theo dấu đoàn người ngựa đến một thị trấn nhỏ. 
Thị trấn rất bé, chỉ có một con phố, một quán cơm, một khách điếm, một tiệm tạp hóa và một tiệm đồ da. Đoàn người ngựa này không ở trọ mà tá túc tại một nhà dân. Ngoài sân nhà này có một cây vông cao lớn xum xuê, cành lá vươn cả ra ngoài tường rào. Vừa thấy cây vông này, tôi biết ngay có thể lợi dụng được.
Tôi thu xếp cho Lệ Mã ở trong khách điếm, vỗ vỗ vào bụng cô ấy rồi chỉ ra ngoài cửa. Cô ấy biết tôi sắp đi, biết không giữ được tôi nên đành lưu luyến nhìn tôi rời bước. Tôi lượn lờ trong khách điếm tìm kiếm đồ nghề dùng được, thấy trên tường treo một cuộn dây da bò bèn gỡ xuống, lặng lẽ chuồn ra ngoài. 
Tôi đến dưới gốc cây vông, quăng dây móc vào cành cây, rồi men theo dây leo lên đứng trên bờ tường bị cành lá che khuất. Nhiều người cứ tưởng tường cao là an toàn, chẳng chịu cắt tỉa cành cây vươn ra ngoài, vô tình tạo thuận lợi cho đám đạo chích như tôi. Trăng đêm ấy rất sáng, chiếu xuống mặt đất rõ như ban ngày. Tôi thấy bọn chúng chỉ cột các xe hàng lại với nhau, cử một tên ngủ ngay trên xe. Tiếng ngáy của hắn như dòng sông băng muốn chảy mà cứ tắc nghẽn, cứ khục khặc nghe mà rợn cả da đầu.
Tôi rón rén tuột từ trên cây xuống, nấp dưới bệ cửa sổ từng gian nhà dỏng tai nghe ngóng nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng nói chuyện nào. Đám người đi đường cả ngày mệt mỏi đều đã ngủ say như chết. Không nghe ngóng được gì, tôi bèn lần mò đến gần mấy cỗ xe, xem xét bên trong. Sờ soạng một hồi thấy chở toàn vải vóc. Bên ngoài vải bọc một lớp vải dầu, ngoài cùng buộc dây thừng, dưới dây thừng còn kẹp một mảnh vải. Tôi rút mảnh vải ra nhưng đúng lúc ấy mặt trăng lẩn vào mây, không nhìn rõ là thứ gì, đành nhét tạm vào túi.
Không tìm thêm được manh mối nào hữu dụng, tôi đành trèo tường trở ra. Bọn chúng canh gác lỏng lẻo như thế, hóa ra chỉ áp tải mấy thứ vải vóc tầm thường chẳng đáng bao tiền. Về đến nơi nghỉ trọ, quẹt diêm lên soi, tôi thấy thứ mình trộm được là một lá cờ nhỏ, bên trên thiêu bốn chữ: Gia Định Tiêu Cục. Thì ra đây cũng là một đám hộ tiêu. Nhưng Gia Định Tiêu Cục ở đâu thì tôi không biết. Trước đây tôi chỉ nghe Quang Đầu nói có một đội tiêu đi tuyến đường ngược lại với họ, từ Gia Dục Quan chở hàng da đến Trương Gia Khẩu, đây là tuyến chính, giống như nhóm Quang Đầu mang lụa trà từ Trương Gia Khẩu đến Gia Dụ Quan là tuyến chính vậy. Còn lúc quay về thì tiện đâu mang đó, gọi là đi kèm, có khi còn về tay không. 
Tiêu cục trong miệng Quang Đầu chẳng lẽ là là Gia Định Tiêu Cục này? Kẻ hại chết Niệm Gia Thân và con của gã gầy ốm, phải chăng là Gia Định Tiêu Cục? Tại sao bọn chúng phải ra tay tàn độc như vậy? Tại sao lại giá họa cho người khác? Nghĩ đến việc lúc về chúng chỉ mang theo vải vóc bình thường, tôi bỗng vỡ lẽ. Tuy nhiên, đến giờ phút này, tất cả cũng chỉ là phỏng đoán. Hai kẻ tôi đã nghe lén mặc dù đi cùng Gia Định Tiêu Cục, nhưng chưa chắc đã là người của tiêu cục ấy.
Tôi phải tiếp tục bám theo, cho đến khi làm sáng tỏ toàn bộ chân tướng sự việc.

 

 

(Tổng: 4313 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0