Tổ Bịp
- 2219 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 2. Bị đám buôn người bán đi
Mặt trời sắp đứng bóng. Sau khi cơn đói cồn cào qua đi, tôi lại chẳng còn cảm giác thèm ăn nữa. Đồng không mông quạnh chẳng bóng người, tôi sợ lũ sói phía sau sẽ đánh hơi đuổi tới, đành lóp ngóp bò dậy đi tiếp.
Trước mắt hiện ra một con đường mòn trắng xóa. Vì nắng hạn đã lâu, mặt đường phủ một lớp bụi dày tới vài tấc. Đôi bàn chân vừa giẫm xuống, bụi đã tung mù mịt, xộc thẳng vào mũi khiến tôi ngứa ngáy, hắt hơi liên hồi.
Tôi cứ thế lầm lũi đi dọc con đường, thầm nghĩ phía trước ắt sẽ có xóm làng. Suy nghĩ ấy chẳng sai, nhưng trong hoàn cảnh đó, tôi tuyệt đối không được lộ diện trên đường cái, bởi tôi là kẻ trốn chạy. Mãi về sau này tôi mới hiểu được điều ấy.
Nghĩ lại thật chẳng có cái dại nào bằng, bước chân này đã lầm, thì những bước sau đều sẽ lỡ. Đời người dẫu dài dằng dặc, nhưng mấu chốt lại chỉ nằm ở vài bước chân. Sai một ly, là cuộc đời rẽ sang một hướng khác ngay.
Phía trước xuất hiện một cỗ xe ngựa không mui. Trên xe có hai người, kẻ cầm cương nhìn về phía trước, kẻ còn lại ngồi trong thùng xe, lưng quay về phía tôi.
Lẽ ra lúc đó tôi phải nảy sinh nghi ngờ mới đúng. Chốn rừng hoang núi thẳm, không một bóng người, xe ngựa nhà ai lại dẫn xác đến đây? Khốn nỗi đầu óc tôi khi ấy mụ mẫm, chẳng kịp nghĩ ngợi gì.
Xe ngựa sầm sập tiến tới rồi dừng khựng lại. Tôi hớn hở chạy ra đón đầu, chưa kịp mở miệng thì kẻ ngồi trong thùng xe đã đứng phắt dậy. Vừa nhác thấy mặt hắn, chân tay tôi bỗng bủn rủn, đổ vật xuống đất. Đó chính là gã cao kều đã bắt cóc tôi.
Trong lòng tôi thét gào: "Chạy mau! Chạy mau!". Thế nhưng đôi chân tôi lúc ấy nhũn ra như sợi bún, chẳng nhấc nổi nửa bước.
Gã cao kều nhảy xuống, xách ngược tôi lên như xách một con gà, rồi quẳng vào thùng xe.
Tôi vừa thoát khỏi hang sói, lại sa ngay vào miệng cọp.
Gã gằn giọng hỏi tôi trốn ra bằng cách nào. Tôi run rẩy kể lại toàn bộ đêm kinh hoàng vừa qua. Nghe xong, gã vả thẳng vào mặt tôi một cái cháy má, không tin những lời tôi nói. Gã đánh xe ngoái đầu lại bảo:
"Chắc là thật đấy. Một thằng ranh con, lại có hai người lớn canh chừng, không có biến cố thì sao nó thoát khỏi hang được?"
Gã cao kều không đánh tôi nữa, hất hàm bảo gã đánh xe:
"Thôi, quay về đi."
Gã đánh xe giật dây cương cho xe quay đầu trở về đường cũ.
Xe ngựa lộc cộc đi chừng một canh giờ thì tới một ngôi làng nhỏ chỉ có ba hộ dân. Ngôi làng ẩn mình trong hốc núi, quanh làng trồng đầy những cây hòe lớn. Tán lá rậm rạp che khuất tầm mắt, nếu không để ý kỹ, khách qua đường chẳng thể biết nơi này có người ở.
Tôi bị lôi vào nhà. Bên trong có hai mụ đàn bà, một mụ đưa cho tôi cái bánh màn thầu. Tôi vồ lấy, ăn ngấu nghiến, đến cả mảnh vụn cuối cùng cũng chẳng sót lại. Vì ăn quá nhanh, tôi bị nghẹn đến mức nấc cụt liên hồi.
Sau khi ăn no nê, tôi lăn ra đống rơm trong góc nhà mà ngủ. Một giấc ngủ sâu không mộng mị.
Khi tỉnh dậy, mặt trời đã sắp khuất núi. Trong phòng có mấy người đang ngồi tụm lại bàn tán về tôi. Tôi vội nhắm mắt, vờ như vẫn còn say giấc.
Tôi nghe thấy bọn họ nói với nhau rằng, họ đòi cha tôi – Vương Tế Quỷ – một ngàn đồng đại dương để chuộc người, nhưng ông nhất quyết không chịu. Họ hạ xuống năm trăm, rồi còn một trăm, ông vẫn khăng khăng không nhả một đồng. Vương Tế Quỷ coi mỗi đồng bạc trắng còn hơn mạng mình, đòi tiền của ông chẳng khác nào đòi mạng ông ấy.
Nghe đến đó, lòng tôi thắt lại, đau xót khôn cùng. Cha tôi chỉ yêu tiền, tịnh không có chút tình nghĩa nào với tôi cả.
Bọn họ bàn tính xem nên xử lý tôi thế nào. Kẻ thì đòi giết quách đi rồi đào hố chôn, kẻ lại bảo hay cứ thả ra cho tôi tự tìm đường về, kẻ khác lại hiến kế đem bán, được đồng nào hay đồng nấy.
Bàn tới bàn lui, cuối cùng chúng quyết định đem bán tôi.
Một gã tiến lại gần, dùng chân đá mạnh vào người tôi. Cơn đau nhói tận óc khiến tôi phải mở choàng mắt.
Trong phòng có bốn người, bao gồm cả gã cao kều đã lừa tôi lên xe ngựa, ba kẻ còn lại đều là những gương mặt lạ hoắc. Kẻ vừa đá tôi có đôi mắt lác, Mỗi khi hắn nhìn ai, vẻ mặt trông rất tếu. Nhìn cái bản mặt ấy, tôi suýt nữa đã phì cười, nhưng chợt nhớ mình đã xa nhà quá lâu, lại chẳng còn đường về, lòng tôi bỗng nguội lạnh.
Gã mắt lác bảo:
"Cha mày bỏ mày rồi, giờ mày chỉ là quân nợ đời thôi."
Đêm đó, tất cả nằm chung một phòng. Chúng trói nghiến tôi vào chân bàn. Tôi giả vờ ngủ say khiến chúng mất cảnh giác, mới yên tâm lăn ra giường gỗ mà ngủ.
Chừng nửa đêm, có lẽ vậy, vì tôi thấy trăng đã chếch về tây. Ánh trăng xuyên qua ô cửa sổ áp mái, rọi xuống loang lổ khiến mọi vật trong phòng hiện lên chập chờn, ma mị. Tôi quyết định phải thoát thân.
Tôi giẫy giụa, cố nới lỏng sợi dây thừng đang thắt chặt vào da thịt. Nhưng dây trói quá chặt, hai tay tôi đau rát, còn sợi dây buộc vào chân bàn thì vẫn trơ trơ. Sau một hồi, tôi nghĩ ra một cách, cố gập cổ xuống, đưa miệng lại gần sợi dây dưới nách rồi dùng răng nghiến mạnh.
Sợi dây vì bị kéo căng nên rất cứng. Tôi cắn đến mỏi nhừ cả quai hàm, mắt hoa lên, cổ tưởng chừng như sắp gãy mới đứt được một sợi. Một sợi đứt, những sợi còn lại cũng theo đó mà tuột xuống đất.
Tôi rón rén bò dậy, rút then cửa, bò ra ngoài. Bọn chúng vẫn chẳng hay biết gì. Đằng xa vang lên tiếng sói tru, tôi rùng mình kinh hãi, nhưng rồi nghĩ lại, thà bị sói xé xác còn hơn bị chúng đem bán. Tôi đánh liều đi tới cổng sau.
Cạnh cổng có dựng một chiếc xẻng sắt, tôi cầm chắc trong tay để phòng thân, ngộ nhỡ gặp sói thì còn có cái mà chống đỡ.
Cổng nhà có hai then cài trên và dưới. Tôi nhẹ nhàng rút then, vừa mới đẩy cửa thì cái chuông đồng treo bên trên bỗng vang lên những tiếng leng keng, xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Trong phòng vang lên tiếng quát lớn của một gã đàn ông:
"Ai đấy? Làm cái gì thế?"
Tôi chẳng dám hé răng nửa lời, vác xẻng lên vai, cắm đầu chạy trối chết.
Nhưng mới chạy được mươi trượng, tôi đã bị kẻ phía sau đuổi kịp. Chúng xách cổ tôi quăng ngược vào sân. Tôi biết, chờ đợi mình phía trước là một trận đòn thừa sống thiếu chết.
Từ một tiểu thiếu gia phong lưu, tôi bỗng chốc hóa thành con cá nằm trên thớt, mặc cho người ta mổ xẻ làm thịt.
Đêm ấy, tôi sợ đến mức nằm bẹp dưới đất, không dám nhúc nhích, toàn thân run cầm cập. Một kẻ nào đó bồi thêm hai cú đá vào lưng tôi, quát tháo:
"Này thì chạy này! Này thì chạy này! Sao giờ không chạy nữa đi?"
Thế rồi, vô số bàn chân giẫm đạp lên người tôi. Những cú đòn đau điếng khiến tôi suýt chút nữa thì ngất lịm.
Mãi sau, tôi nghe thấy một giọng nói can ngăn:
"Thôi đừng đánh nữa, đánh hỏng người nó lại chẳng bán được đồng nào."
Từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi chưa từng bị ai đụng đến một ngón tay. Vương Tế Quỷ dẫu keo kiệt nhưng ông không phải hạng ác ôn, chẳng bao giờ đánh tôi. Những người khác trong nhà đều gọi tôi là tiểu thiếu gia, ai dám động vào? Vậy mà từ khi rơi vào tay bọn buôn người, tôi đã bị chúng đánh đập không biết bao nhiêu lần. Nước mắt tôi giàn giụa, nhưng chẳng dám khóc thành tiếng vì sợ lại rước thêm đòn roi.
Ba ngày sau, chúng đưa tôi đến một nơi gọi là Lưu Gia Trang. Ngôi làng này nằm dưới một khe núi, bốn bề núi cao sừng sững. Tôi không biết mình bán được bao nhiêu tiền, chỉ biết người mua tôi là một cặp vợ chồng trung niên, người chồng tên Lưu Căn Hòa, vợ là Lôi Thải Phượng. Họ sống hơn nửa đời người mà vẫn chưa có mụn con nào.
Lưu Căn Hòa là gã đàn ông cực kỳ nhu nhược, trong nhà đến cái rắm cũng chẳng dám đánh. Có đêm chẳng rõ vì chuyện gì làm mụ vợ phật ý, Lôi Thải Phượng thẳng chân đạp gã xuống gầm giường. Lưu Căn Hòa im thin thít, cứ thế ngồi dưới gầm giường suốt cả đêm.
Mỗi khi nói chuyện với vợ, gã luôn khép nép, chỉ cần mụ đổi sắc mặt là gã câm như hến. Ngược lại, Lôi Thải Phượng đối với chồng lúc nào cũng trợn mắt quát tháo, mở miệng ra là chửi bới chì chiết. Nghe đâu mụ là kẻ chua ngoa nhất vùng này. Có lần cãi nhau với một gã đàn ông trong làng, mụ lao vào bóp chặt "của quý" của gã kia khiến gã ngất xỉu tại chỗ.
Rơi vào tay một gia đình như thế, đời tôi coi như tàn.
Ở nông thôn vốn có tục lệ, nhà nào hiếm muộn thường tìm một đứa trẻ về làm "vật dẫn", hy vọng sang năm sẽ sinh được con. Và tôi chính là cái "vật dẫn" ấy.
Sống ở nhà đó được một năm thì Lôi Thải Phượng mang thai thật. Trước khi có bầu mụ đã chẳng tử tế gì với tôi, sau khi có thai, mụ lại càng quá quắt. Giữa mùa đông giá rét, mụ bắt tôi lên rừng kiếm củi. Đôi giày bông của tôi rách nát tả tơi, rơi cả xuống khe sâu. Một ông lão hàng xóm thấy tôi tội nghiệp quá, mới đem đôi giày bông cũ của cháu ông cho tôi. Giày đã thủng lỗ chỗ lộ cả ngón chân, nhưng có vẫn còn hơn không. Tôi cứ thế xỏ đôi giày rách đi trên tuyết, chân đau buốt như kim châm. Mùa đông ở nông thôn vốn là lúc nhàn rỗi, dân làng thấy tôi đi nhặt củi thì xì xào:
"Mụ Thải Phượng định ăn thịt đứa nhỏ hay sao mà trời rét thế này còn bắt nó đi kiếm củi."
Đôi bàn chân tôi nứt toác, đầy vết thương và mụn cóc vì rét cóng. Lúc về đến nhà, thấy Lôi Thải Phượng đang ngồi trong chăn ấm, tôi chẳng dám hé răng, lại tập tễnh đi làm việc nhà.
Đến khi đứa trẻ chào đời, Lôi Thải Phượng càng đối xử tệ bạc, động một chút là mụ thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Hễ tâm trạng không vui là mụ lại trút giận lên đầu tôi. Có lần mụ vớ lấy cái xẻng sắt, phang mạnh một nhát vào đùi tôi làm máu chảy lênh láng. Lưu Căn Hòa vội vơ một nắm tro bếp rịt vào vết thương cho tôi. Hàng xóm bất bình chạy sang can ngăn:
"Này Thải Phượng, cô đừng có đánh nó thế, dù gì cũng là một mạng người."
Lôi Thải Phượng liền xắn tay áo chửi bới:
"Mắc mớ gì đến các người? Tôi dạy con tôi, chứ có phải con nhà các người đâu!"
Vết sẹo do nhát xẻng năm ấy của mụ vẫn còn in hằn trên đùi tôi cho đến tận bây giờ.
Khi ấy, tôi chưa nghĩ đến chuyện bỏ trốn. Nhà họ Lưu chẳng tốt lành gì, nhưng dẫu sao cũng là nơi cho tôi tá túc, mà có muốn đi, tôi cũng chẳng biết phải đi đâu. Ba tôi, Vương Tế Quỷ, đã làm tôi quá thất vọng, tôi chẳng muốn gặp lại ông ấy nữa. Vả lại, dù tôi có muốn tìm đường về nhà, tôi cũng chẳng nhớ nổi đường nhà mình ở ngả nào.
Mãi đến năm mười tuổi, tôi mới rời khỏi Lưu Gia Trang. Năm ấy, trong làng có một gánh xiếc tới biểu diễn.