Tổ Bịp

  • 9329 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 11. Kinh hồn nơi miếu cổ.
Đêm ấy, tôi bước vào huyện thành. Thấy ngọn lửa trước cửa một tiệm cơm vẫn chưa tắt hẳn, bên trên phủ một lớp than cám dày đỏ rực. Tôi định nhờ chút hơi ấm này để qua một đêm giá lạnh. Nhưng vừa mới sưởi ấm được chút thì từ phía đầu phố đã kéo đến một lũ ăn mày. Đứa nào đứa nấy lôi thôi lếch thếch, tay gậy tay bị. Thấy tôi đứng bên lò lửa, chúng nó liền vung gậy xua đuổi. Sợ ăn đòn, tôi đành vội vã bỏ đi.
Một gã trong đám ấy quát lớn: "Đây là địa bàn của bọn tao, cút ngay!"
Tôi chỉ còn biết quấn chặt lấy chiếc áo bông, lầm lũi đi vào cơn gió lạnh dọc đường. Sau một hồi loanh quanh, tôi dừng chân trước cửa miếu Thành Hoàng. Nghĩ bụng nơi đây chắc chẳng có ai, tôi bèn đẩy cửa bước vào.
Đêm hôm trước vừa tá túc trong miếu đã bị tóm sống, đêm nay lại vào miếu, lòng tôi phập phồng lo sợ chuyện cũ lặp lại. Tôi bèn dùng chiếc ghế đá ngoài cửa chèn chặt cửa miếu cho yên tâm.
Tôi lại leo lên bệ thờ nằm, duỗi hết tay chân ra cho thoải mái, định đánh một giấc thật ngon. Chẳng ngờ, bỗng nhiên bức tượng Phật cất tiếng hỏi: "Tiểu thí chủ, cớ sao ngươi lại nằm ngủ ngay trước mặt ta?"
Tôi nghe mà thất kinh hồn vía, muốn đâm đầu chạy ra ngoài nhưng cửa miếu đã bị ghế đá chặn cứng.
Tôi quỳ sụp xuống đất, người run như cầy sấy. Lúc này, trong ngôi miếu Thành Hoàng đầy mùi nhang khói cũ kỹ, chỉ có tôi và một bức tượng biết nói. Nỗi sợ hãi tựa như cái giá lạnh bao trùm lấy toàn thân. Phải chăng tôi đã làm quá nhiều việc xấu nên kinh động đến thần linh? Tôi muốn hét thật to để cầu cứu nhưng cổ họng như nghẹn lại, chẳng thốt được nên lời. Thực ra, dẫu có gào lên đi chăng nữa thì cũng chẳng ai nghe thấy. Miếu Thành Hoàng nơi nào cũng được xây cất bề thế, rộng rãi nhưng thường nằm ở chốn hiu quạnh, ít người qua lại. Bởi lẽ vào những dịp đại lễ như Tết Nguyên đán hay Thanh minh, người đi lễ đông như trẩy hội, xây giữa nơi phố xá sầm uất sẽ gây tắc nghẽn, lại thêm nỗi lo hỏa hoạn khó lường.
Tượng Phật lại lên tiếng: "Ta nhìn thấy hết rồi, ngươi đã làm nhiều chuyện khuất tất, đúng không?"
Nghĩ lại những ngày tháng ở đoàn xiếc, tôi chỉ biết gật đầu lia lịa.
Tượng Phật nói tiếp: "Giờ ta hỏi gì ngươi phải trả lời nấy. Dám thốt ra nửa lời gian dối, thất khiếu sẽ lập tức chảy máu mà chết."
Tôi mếu máo nhận lời.
"Ngươi từ đâu đến?"
"Con cũng chẳng rõ, con bị bọn buôn người bán đi, tên quê quán xưa kia giờ chẳng còn nhớ nữa."
"Tên gọi là gì?"
"Con tên Ngai Cẩu."
"Hừm, Ngai Cẩu à? Mọi việc Ngai Cẩu làm, ta đây đều ghi chép rạch ròi. Nói đi, ngươi đã làm những chuyện xấu xa gì rồi?"
Tôi vắt óc nghĩ ngợi, thấy mình quả thật đã làm không ít chuyện chẳng mấy hay ho, nói ra thì thật xấu hổ. Nhưng tượng Phật đã hỏi, lại còn nắm rõ mọi chuyện, tôi chẳng dám giấu giếm nữa. Tôi kể từ lúc làm tai mắt cho đoàn xiếc, rồi kể đến cả chuyện từng chạm vào ti của Thúy Nhi...
"Thúy Nhi có đẹp không?"
Tôi đáp: "Chị ấy đẹp lắm ạ, con chưa từng thấy ai đẹp hơn chị ấy trên đời này."
Bức tượng Phật bỗng cười khà khà: "Tuổi còn nhỏ mà đã dám phạm dâm giới, trong vòng ba ngày tới ngươi ắt gặp họa đổ máu. Đến lúc đó, thân xác này sẽ bị lũ chó hoang xé xác mà ăn thịt."
Nghe đến chuyện bị chó ăn thịt, tôi kinh hãi tột độ. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng ấy rồi. Những kẻ tha hương chết nơi đất khách, người địa phương chôn cất vội vàng, hôm sau đã bị lũ chó rừng đào lên rỉa rói. Những con chó ăn thịt người mắt đỏ sòng sọc, thấy người sống là lao vào tấn công.
Tôi rập đầu bôm bốp, gào lên: "Con không muốn, con không muốn bị chó ăn thịt đâu!"
Bức tượng Phật phán: "Muốn thoát nạn cũng được thôi. Có bao nhiêu tiền trong người thì mang ra hết, đặt lên hương án rồi mau chóng rời khỏi đây, tuyệt đối không được ngoảnh đầu lại. Trong vòng một năm không được bén mảng đến chốn này. Nếu ngươi quay đầu, hoặc dám quay lại, báo ứng sẽ ứng nghiệm ngay lập tức."
Tôi khóc lóc thảm thiết: "Con chẳng có đồng nào cả."
Tượng Phật có vẻ giận dữ: "Thế ngươi có cái gì?"
Tôi mếu máo: "Con chẳng có gì hết, ngoài cái áo bông này ra thì trên người chẳng còn vật gì giá trị nữa."
Bức tượng im lặng một lúc rồi bảo: "Thôi được, ngươi xoay người lại, mặt hướng về phía cửa miếu, ta đá cho ba phát là tiêu trừ tai họa ngay."
Tôi ngoan ngoãn quay đi, đứng chờ ăn đòn. Tượng Phật cao lớn thế kia, chân tay thô kệch, lão mà tung ba cước thì xương cốt tôi chắc tan nát mất? Nhưng vì không có tiền dâng nộp, tôi đành phải cắn răng chịu trận.
Phía sau vang lên tiếng bước chân rồi dừng lại ngay sát lưng tôi. Ngay sau đó, mông tôi hứng trọn một cú đá trời giáng. Đau điếng người, tôi định kêu lên nhưng lại không dám.
Sau ba phát đá, giọng nói kia lại vang lên: "Xoay lại đây."
Tôi vừa quay người lại thì thấy một bóng đen cao gầy đứng ngay trước mặt.
Trong lúc tôi còn đang hoang mang, bóng đen kia bỗng cười sằng sặc. Lăng Quang Tổ bảo tôi: "Thế nào, chiêu lừa này của ta ra sao? Mi mắc lỡm rồi nhé?"
Nhận ra trước mắt là một con người bằng xương bằng thịt, tôi chẳng còn sợ hãi nữa. Tôi bực bội hỏi: "Sao ông lại trêu chọc tôi?"
Lăng Quang Tổ kiêu ngạo đáp: "Trêu chọc mày á? Lão tử muốn trêu chọc cả thiên hạ này, từ quan lại quyền quý đến hạng thảo dân thấp hèn. Mày có biết tao là ai không?"
Tôi hỏi: "Ông là ai?"
Lăng Quang Tổ đắc ý nói: "Tao là đại sư tướng số. Chỉ cần dùng chút mẹo vặt là mày đã chui tọt vào rổ rồi. Đêm nay mà gặp phải thằng công tử bột nào đó, chắc nó phải lột sạch đồ đạc trên người cho tao ấy chứ."
Tôi đã từng nghe nói về thuật xem tướng. Nói nôm na thì đó là hạng thầy bói, đoán định vận mệnh đời người, giúp kẻ khác tránh họa cầu phúc. Hạng người này thường lảng vảng trên những con đường làng, bước chân thoăn thoắt như gió, người thường khó lòng mà bắt chuyện được. Lúc nào họ cũng giữ vẻ mặt thâm sâu khó lường, như thể tiên nhân không vướng bụi trần. Mà thực ra họ cũng bí ẩn thật, chẳng ai biết trong đầu họ đang tính toán điều gì.
Tôi lâm vào đường cùng mới phải tìm đến miếu Thành Hoàng trú chân, chẳng hiểu sao một vị đại sư tướng số cũng mò đến đây. Tôi lấy làm lạ, bèn hỏi: "Đêm hôm khuya khoắt ông đến đây làm gì?"
Lăng Quang Tổ bảo: "Đêm nay chúng ta gặp nhau cũng xem như là có duyên. Mày lang thang vất vưởng, tao cũng chẳng có nhà cửa, hay là từ nay về sau cùng nhau bôn ba giang hồ. Thấy sao hả?"
Tôi sướng rơn cả người. Được đi cùng một đại sư tướng số là điều mà tôi có nằm mơ cũng chẳng dám nghĩ tới. Tôi vội vã gật đầu: "Được, được chứ ạ!"
Lăng Quang Tổ nói: "Mày đã kể hết chuyện của mình rồi, tao cũng chẳng giấu làm gì. Tao lỡ phải lòng một mụ đàn bà, đêm kia đương ngủ ở nhà mụ thì nửa đêm lão chồng đi buôn xa đột ngột trở về, bắt quả tang ngay tại trận. Tao phải cúng hết tiền bạc của nả trên người lão mới chịu tha mạng. Chỗ ấy chẳng ở nổi nữa, tao mới dạt về đây."
Hóa ra lão cũng là hạng kiết xác, tôi thấy cái lưng mình bỗng dưng thẳng hẳn lên, cố tình hỏi đểu: "Ông nghèo rớt mùng tơi thế này thì sống sao nổi?"
Lăng Quang Tổ cười ha hả, khinh khỉnh đáp: "Mày mà cũng dám khinh thường tao sao? Được lắm, trước giờ Ngọ hôm nay, lão tử sẽ mang về đây một trăm đồng bạc trắng cho mà xem."
Tôi cũng cười lớn: "Tôi đã thấy nhiều kẻ khoác lác, nhưng chưa thấy ai khoác lác như ông."
Lăng Quang Tổ nói: "Dám coi thường đại sư tướng số à? Khá lắm, trời sáng rồi cứ đi theo tao, tuyệt đối không được hé răng nửa lời, xem một trăm đồng bạc chui vào túi lão tử trước giờ Ngọ thế nào."
Người này tên là Lăng Quang Tổ. Lúc lão ra đời, cha đặt tên là Quang Tổ, cốt để lão làm rạng danh tổ tiên, ngờ đâu lão lại trở thành một đại sư tướng số chuyên nghề lừa lọc. Tổ tiên nhà lão chắc cũng "nở mày nở mặt" lắm đây.
Bồ Đề rất kỵ nói chữ "trộm", y gọi đó là "lấy". Y bảo tiền bạc trong thiên hạ nhiều vô kể, cứ luân chuyển từ tay người này sang tay người khác. Ngươi "lấy" được từ kẻ khác, ta cũng "lấy" được từ ngươi. Tiền tài vốn chẳng phải do cha mẹ ai sinh ra, nên ta lấy từ tay kẻ khác cũng là lẽ thường tình, vì chính kẻ đó cũng lấy nó từ tay người khác đấy thôi.
Lăng Quang Tổ chẳng thèm giấu giếm thủ đoạn lừa gạt của mình. Lăng Quang Tổ thừa nhận tiền lão có được đều là nhờ lừa đảo mà ra. Lăng Quang Tổ cho rằng mọi sự trên đời này cốt yếu cũng chỉ nằm ở một chữ "lừa". Hôn nhân là lừa dối, trước khi cưới thì che đậy mọi thói hư tật xấu, cưới xong rồi thì lộ ra chẳng sót thứ gì; còn cái hạng hôn nhân gả bán thì đúng là lừa lọc từ đầu chí cuối. Tình bạn cũng là lừa dối, vợ chồng thì "hết cơm hết gạo thì tan", bạn bè thì "chén chú chén anh", lúc hết mồi hết rượu, chẳng còn giá trị lợi dụng thì ai thèm làm bạn với nhau nữa? Tình thân cũng lại là lừa dối nốt, cha trước mặt con thì giả làm bậc chính nhân quân tử, con trước mặt cha thì vờ làm đứa trẻ ngoan hiền. Còn việc giao du với kẻ khác thì lừa lọc nhan nhản khắp nơi. Quan lại mượn việc công để tư lợi, ngấm ngầm vơ vét cho đầy túi riêng, ấy là lừa dối; tướng lĩnh muốn thăng quan tiến chức thì đẩy lính tráng vào chỗ chết làm bia đỡ đạn, ấy cũng là lừa dối... Vạn vật trên đời đều là lừa dối; người đời ai nấy đều là kẻ lừa đảo. Kẻ lừa đảo lớn thì ngồi chễm chệ nơi công đường, ra vẻ đạo mạo nhận sự sùng bái của thiên hạ; kẻ lừa đảo nhỏ thì cả đời tất bật, cúi đầu khom lưng cũng chỉ vì bát cơm manh áo mà thôi.
Lăng Quang Tổ hỏi tôi: "Giờ mày nói xem, thế gian này có ai là không lừa lọc?"
Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp: "Vâng, toàn một giuộc hết."
Lăng Quang Tổ nói: "Ai cũng là kẻ lừa đảo nhưng chẳng ai dám thừa nhận. Chỉ có tao dám nhận mình là kẻ lừa đảo, thế nên tao mới là kẻ quang minh lỗi lạc nhất thế gian này."
Tôi bảo: "Con cũng muốn học nghề lừa đảo, nhưng chẳng biết phải làm thế nào."
Lăng Quang Tổ nói: "Trước kia mày từng làm tai mắt, sau này cứ tiếp tục làm tai mắt. Cứ theo tao, đảm bảo mày sẽ được ăn ngon mặc đẹp."
Tôi mừng rỡ: "Thế thì còn gì bằng."
Đêm đó, chúng tôi chuyện trò trong miếu đến tận khuya, mãi gần sáng mới chợp mắt được một tí.
Lúc tôi tỉnh giấc thì mặt trời đã lên cao tít. Nhớ tới lời Lăng Quang Tổ nói đêm qua, rằng lão sẽ kiếm được một trăm đồng bạc trước giờ Ngọ, mà giờ sắp đến lúc đó rồi, lão định làm cách nào đây?
Lăng Quang Tổ thấy tôi đã dậy, lão từ ngoài cửa miếu ung dung bước vào, miệng lẩm bẩm như một thi sĩ dở hơi: "Phương Đông rực rỡ, phương Tây u ám, mây đen vần vũ, tai họa sắp giáng xuống đầu rồi."
Tôi chẳng buồn phụ họa, chỉ hỏi kháy: "Sắp đến giờ Ngọ rồi đấy, ông tính sao?"
Lăng Quang Tổ bảo: "Cứ thong thả, tao biết mày muốn nói gì rồi, chẳng phải là chuyện một trăm đồng bạc đó sao? Mày không tin tao à?"
Tôi hỏi: "Ông lấy bạc ở đâu ra?"
Lăng Quang Tổ đáp: "Thiên cơ bất khả lộ."
Tôi bò dậy khỏi hương án, cứ ngỡ lão sẽ giục tôi lên đường, ai dè lão lại bảo: "Trước miếu có lư hương, sau miếu có giếng nước. Mau đem rửa sạch lư hương rồi múc nước vào, nhóm lửa đun sôi lên, uống cho no bụng rồi hẵng đi."
Tôi than: "Con đói lắm, chẳng muốn uống nước đâu, con muốn ăn cái gì đó kia."
Lăng Quang Tổ nói: "Tao cũng muốn ăn chứ bộ, nhưng cứ đợi qua giờ Ngọ đi, đảm bảo cho mày ăn ngập mặt, muốn gì được nấy. Giờ thì cứ dùng nước nóng mà lót dạ cho đầy bụng đi."
Để được ăn một bữa ra trò sau giờ Ngọ, tôi đành lật đật đi làm theo lời lão, đun sôi được nửa lư hương nước nóng.
Sau khi dùng nước nóng lấp đầy cái bụng rỗng, chúng tôi mới rời miếu. Đi đến một con hẻm, Lăng Quang Tổ bảo tôi đứng đợi ở đầu hẻm. Sợ lão chuồn mất, tôi cứ khăng khăng đòi theo, lão phải gắt lên: "Tao vào nhà quyền quý, mày nhìn lại bộ dạng mình xem, ngó qua đã thấy rặt một thằng ăn mày, người ta có cho vào cửa không?"
Tôi nhìn lại bộ áo bông mới cáu của Lăng Quang Tổ, rồi nhìn mái tóc được lão vuốt ve gọn gàng bằng nước, bỗng thấy tự ti ghê gớm. Tôi dặn: "Ông đừng có bỏ con lại mà đi mất đấy nhé."
Lăng Quang Tổ khinh khỉnh: "Một trăm đồng bạc, một đống nặng trịch, lão tử còn đang đợi mày cõng giúp đây này."
Lăng Quang Tổ chui vào con ngõ, tôi đứng ở đầu ngõ ngóng theo.
Con ngõ ấy ngoằn ngoèo khúc khuỷu, tôi nhìn theo một lát đã chẳng thấy bóng dáng Lăng Quang Tổ đâu nữa. Từ trong ngõ có mấy đứa trẻ trạc tuổi tôi đi ra. Thấy tôi, chúng liền ném đá túi bụi, miệng không ngừng chửi tôi là thằng ăn mày. Tôi cũng ném lại, nhưng chúng đông quá, tôi chống không nổi, bị chúng đuổi chạy khắp nơi.
Một lúc sau, chắc là lũ trẻ đã đi xa, tôi mới mon men quay lại đầu hẻm. Vừa tới nơi đã thấy Lăng Quang Tổ đứng đó rồi, lão quẳng cho tôi một cái túi vải trắng, khí thế hừng hực: "Một trăm đồng bạc, không thiếu một xu, cõng lên cho lão tử!"
Tôi ngẩng đầu nhìn mặt trời, vẫn chưa lên tới đỉnh đầu, nghĩa là vẫn chưa đến giờ Ngọ.
Tôi mở túi vải trắng ra, bên trong quả thực là những đồng bạc trắng lấp lánh. Tôi kinh ngạc hỏi: "Ai cho vậy?"
Lăng Quang Tổ nói: "Chốn này không tiện nói nhiều, đi ăn trước đã, vào tiệm nào sang nhất ở đây!"
Tiệm cơm sang nhất huyện thành thực ra là một ngôi nhà gỗ hai tầng nằm ngay mặt phố. Thời đó người dân trong huyện mỗi ngày chỉ ăn hai bữa, giờ Ngọ chưa phải lúc dùng bữa nên khi chúng tôi bước vào, trong tiệm vắng ngắt không một bóng người.
Chúng tôi chọn một bàn cạnh cửa sổ trông ra phố. Ngồi đây có thể bao quát được người qua kẻ lại tấp nập bên dưới, lại thấy được cả những công trình xa xa, bao gồm cả mái miếu Thành Hoàng nơi chúng tôi ngủ đêm qua.
Vừa mới ngồi xuống, tôi đã sốt sắng hỏi: "Ai cho ông nhiều bạc thế? Có phải người thân nhà ông không?"
Lăng Quang Tổ cười khì: "Người thân á? Thân thích trên đời này cũng chỉ là lợi dụng lẫn nhau mà thôi. Dùng được thì là người thân, không dùng được thì là người dưng nước lã. Thân thích chính là loại người thực dụng nhất trần đời."
Tôi lại hỏi: "Thế ai cho chứ?"
Lăng Quang Tổ nói: "Chuyện dài lắm."
Tiểu nhị bưng lên bàn một đĩa hoa quả nhỏ và một đĩa hạt hướng dương. Vừa thấy mấy viên bánh bột, mắt tôi đã sáng rỡ, vốc ngay một nắm tọng vào miệng. Đó là những viên bột mì nhỏ xíu, bé hơn cả móng tay, đem chiên chín rồi tẩm vừng trắng rang thơm phức, ăn vào thấy bùi béo vô cùng.
Lăng Quang Tổ mắng: "Đây là quán sang nhất huyện thành, mày nhìn cái bộ dạng chết đói của mình xem, không sợ người ta cười cho thối mũi à?"
Tôi liếc mắt nhìn quanh, thấy hai gã tiểu nhị đương chỉ trỏ về phía này rồi che miệng cười trộm, chắc chắn là đang cười nhạo tôi rồi, mặt tôi bỗng chốc đỏ bừng lên.
Lăng Quang Tổ cũng giống tôi, cả đêm lẫn nửa ngày trời chưa có gì vào bụng, nhưng lão tỏ ra rất điềm tĩnh, vắt chân chữ ngũ, thỉnh thoảng mới dùng đũa gắp một viên bánh bỏ vào miệng, đôi mắt liếc xéo lũ tiểu nhị. Lăng Quang Tổ bảo: "Nhớ kỹ, từ nay về sau mày đã là người có tiền rồi, phải ra dáng người có tiền một tí. Ăn xong tao sẽ mua cho mày một bộ đồ mới, vứt cái bộ rách nát này đi." 
Tôi hớn hở gật đầu vâng dạ.
Tôi hỏi tiếp: "Ai cho ông nhiều tiền thế?"
Lăng Quang Tổ liếc nhìn xung quanh, thấy không có ai mới chậm rãi kể: "Trong huyện này có cái ngõ Nhân Đức, trong ngõ có lão Cao thái gia. Lão ta tiền bạc đầy kho nhưng lại có một nỗi khổ tâm, ấy là không có người nối dõi. Mãi đến năm năm mươi tuổi, lão mới cưới thêm một bà thiếp, cuối cùng cũng sinh được mụn con trai, ngặt nỗi thằng bé lại bị chứng động kinh."
Tiểu nhị bưng lên hai đĩa thức ăn, một đĩa thịt xào hành tây, một đĩa bắp cải chua cay, kèm theo một xửng bánh màn thầu. Lăng Quang Tổ cắn một miếng bánh nhỏ, gắp một miếng hành tây. Tôi cũng bắt chước lão. Mặc dù cái bụng tôi vừa thấy thịt là đã sôi sùng sục đòi ăn, nhưng tôi cũng chỉ dám gắp hành tây, vờ như chẳng mặn mà gì với thịt thà.
Lăng Quang Tổ kể tiếp: "Lão Cao vì muốn chữa khỏi bệnh cho thằng con quý tử mà đi khắp hang cùng ngõ hẻm, lên cả Bắc Kinh, xuống tận Nam Kinh, thuốc thang đủ kiểu mà vẫn chẳng ăn thua. Sau lão tuyên bố, ai chữa khỏi bệnh cho con lão, lão sẵn sàng tặng cho một nửa gia tài."
Nghe đến đây, tôi liền tỏ vẻ thông minh: "Con biết rồi, ông đã chữa khỏi bệnh cho con trai lão chứ gì."
Lăng Quang Tổ cười khẩy: "Nếu tao mà chữa khỏi được thì giờ chẳng ngồi đây ăn hành tây xào thịt với mày đâu."
Tôi ngẩn người: "Thế là sao? Có người chữa khỏi rồi à?"
Lăng Quang Tổ chỉ thong thả kể: "Tao đã biết nỗi khổ tâm này của lão Cao từ ba năm trước, nên từ dạo đó tao đã bắt đầu để mắt tới lão. Nhưng suốt ba năm qua tao vẫn im hơi lặng tiếng, mãi tới sáng nay mới tìm gặp lão."
Tôi hỏi: "Ông tìm lão thế nào? Sao lão lại đưa ông một trăm đồng bạc?"
Lăng Quang Tổ nói: "Sáng nay tao bước vào nhà lão Cao, gieo cho lão một quẻ, bảo rằng lão có một tâm bệnh mà tao biết rõ là gì. Lão bảo tao nói thử xem, tao phán ngay đó là chuyện con trai lão bị động kinh. Lão thừa nhận đúng là vậy nhưng chữa mãi chẳng khỏi. Tao bảo chứng bệnh này thuốc thang nào mà trị cho được, lão xem đã đi bao nơi, gặp bao thầy lang mà bệnh tình thằng bé có thuyên giảm tí nào đâu. Tao bảo tao có cách trừ tận gốc căn bệnh này. Lão hỏi cách gì, tao bảo con trai lão bị động kinh là do có kẻ đã yểm bùa chú trong nhà lão, thằng bé từ khi lọt lòng đã bị ám nên mới sinh bệnh. Lão hỏi bùa yểm ở đâu, tao bảo để tao đi tìm."
Tôi hỏi: "Có bùa thật không? Sao ông biết nó nằm ở đâu?"
Lăng Quang Tổ chẳng thèm giải thích, lão kể tiếp: "Tao đi trước, lão Cao lếch thếch theo sau, đi loanh quanh trong sân một vòng, cuối cùng dừng lại ở sau bức tường bao. Tao chỉ tay vào một chỗ cỏ úa mà phán: 'Chính là ở dưới này, bên dưới có chôn một cái đầu dê, nên con lão mới bị chứng giật kinh phong như dê vậy.' Lão Cao với đám người hầu ban đầu chẳng tin, vì chỗ ấy cỏ mọc um tùm, chẳng có dấu vết gì là từng bị đào bới cả. Tao bảo: 'Cứ đào xuống ba thước, ắt thấy đầu dê. Lấy được đầu dê, bệnh tật sẽ tiêu trừ.' Lão Cao bèn sai người hầu đào lên, quả nhiên thấy một cái đầu dê đã mục rữa từ đời nào rồi."
Tôi kinh ngạc: "Sao lại có đầu dê ở đấy được? Sao lại có được chứ?"
Lăng Quang Tổ vẫn điềm nhiên như không: "Đầu dê đó là do tao chôn từ ba năm trước đấy."
Tôi thắc mắc: "Sao phải đợi tận ba năm? Một năm không được à? Năm ngoái chôn năm nay đào có phải nhanh không?"
Lăng Quang Tổ nói: "Mày tưởng lão Cao là thằng ngốc chắc? Mày tưởng tiền của người giàu dễ nuốt thế sao? Phải biết rằng những kẻ giàu có đều là hạng tinh đời cả. Họ nếm trải nhiều, khôn ngoan hơn lũ dân đen gấp bội. Muốn lừa được họ, còn khó hơn lên trời. Tuy nhiên, chỉ cần 'bốc thuốc đúng bệnh', không để lộ sơ hở thì chẳng lo không lừa được."
Lăng Quang Tổ dừng lại một chút rồi tiếp: "Mày thử nghĩ xem, chôn cái đầu dê xuống hố sâu sau tường rồi lấp lại. Dù nói thế nào đi nữa, chỉ cần động chạm đến lớp đất là sẽ để lại dấu vết. Màu đất trên hố đào lúc nào cũng mới hơn xung quanh, nhìn cái là biết ngay, nên phải đợi. Sang năm thứ hai, trên hố sẽ mọc lên mấy ngọn cỏ non, lá rụng phủ lên, nhưng vẫn phải đợi, vì mấy ngọn cỏ đó nhìn thưa thớt hơn đám cỏ bên cạnh nhiều. Đến năm thứ ba, hố đất đã bị một lớp cỏ khô phủ kín, lại thêm lớp cỏ mới mọc lên xanh rì, bề mặt đất đã mọc một lớp rêu xanh y hệt xung quanh, rêu còn bám đầy những lá khô theo gió thổi tới. Lúc này, hố đất và mặt đất xung quanh chẳng còn chút khác biệt nào, có đào lên cũng chẳng ai nghi ngờ là do được sắp đặt từ trước."
Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo: "Đúng là nghề nào cũng có cái đạo của nó. Có điều ông mất tận ba năm mới lừa được một trăm đồng bạc, xem ra cũng mất khá nhiều thời gian nhỉ"
Lăng Quang Tổ nói: "Mày dám khinh thường tao à? Được, ngày mai tao sẽ lừa thêm một mẻ nữa cho mày xem."
Tôi hỏi: "Lừa bao nhiêu?"
Lăng Quang Tổ phán: "Khó mà đoán trước, nhưng bảo đảm sẽ là một món hời lớn, khiến mày phải tâm phục khẩu phục thì thôi."
Thấy lão tự đắc như vậy, tôi bèn khích tướng: "Nếu đến giờ này ngày mai mà ông lừa được một món lớn, tôi nguyện từ nay về sau nghe lời ông hết, ông bảo gì tôi làm nấy."
Lăng Quang Tổ cười: "Nhất ngôn cửu đỉnh, cấm có nuốt lời đấy nhé."
Tôi khẳng định: "Nhất ngôn cửu đỉnh!"
Ăn xong, chúng tôi dạo bước ra phố. Lăng Quang Tổ bảo muốn may cho tôi bộ đồ mới, chứ nhìn cái bộ dạng rách rưới này của tôi chỉ làm lão mất mặt thêm thôi.
Trong tiệm may lúc ấy có năm người: một bà lão đang may đồ cho con trai, một người vợ đi cùng chồng đến may áo, và một bà phu nhân quyền quý dẫn theo một con hầu.
Bà lão không ngừng khoe khoang về cậu con trai đang làm ăn lớn trên tỉnh; ông chồng thì nét mặt ngượng nghịu, cứ cố gồng mình lên mà nhìn thái độ của vợ; còn bà phu nhân kia thì vẻ mặt đầy khinh khỉnh, thỉnh thoảng lại bĩu môi nhìn bà lão.
Đợi đám người kia đi hết, mới đến lượt chúng tôi.
Thợ may hỏi: "May cho ai đây?"
Lăng Quang Tổ đáp: "May cho thằng em tôi, làm một bộ đồng phục học sinh, ra năm là nó vào trung học rồi."
Thợ may bảo: "Vậy thì may đồng phục, mặc bộ đồ tôi may vào, con người trông khác hẳn ngay."
Lăng Quang Tổ nói với tôi: "Em cứ đứng đây, anh ra ngoài một tí."
Thợ may vừa đo xong cho tôi thì Lăng Quang Tổ quay lại. Lăng Quang Tổ bảo: "Ngày mai chúng tôi qua lấy áo nhé."
Thợ may lắc đầu: "Mai không được đâu, phải ưu tiên làm xong cho bà lão kia đã, ngày mốt bà ấy phải gửi người mang lên tỉnh cho con trai rồi."
Lăng Quang Tổ nói: "Vậy thì ngày mốt chúng tôi qua lấy."
Vừa bước ra khỏi tiệm may, Lăng Quang Tổ đã nói với tôi: "Vụ làm ăn tiếp theo có manh mối rồi đây, chính là từ đám người trong tiệm may vừa rồi đấy."
Tôi tò mò: "Là ai thế?"
Lăng Quang Tổ nói: "Cặp vợ chồng kia, thằng chồng ra vẻ ta đây nhưng thực chất chỉ hạng tép riu nơi huyện nha, chẳng có đồng cắc nào, không đáng để bận tâm. Bà phu nhân cùng con hầu kia, chồng mụ chắc hẳn là quan to trong vùng, chưa biết chừng là huyện trưởng cũng nên, hạng ấy không thể manh động được, phải thả dây dài mới mong câu được cá lớn, giờ chúng ta chưa ra tay ngay được. Duy chỉ có bà lão kia là dễ cắn câu nhất."
Tôi hỏi: "Sao ông biết?"
Lăng Quang Tổ giải thích: "Cặp vợ chồng kia, chồng thì kiêu ngạo, vợ lại khúm núm, nghe bà lão khoe con trai làm ăn lớn trên tỉnh mà mặt mày nghệt ra, rõ ràng là hạng tiểu lại kiếm chẳng được bao nhiêu nhưng lại thích làm màu. Còn phu nhân kia, nghe chuyện con trai bà lão, con hầu thì chẳng có biểu cảm gì vì nó đi đây đi đó nhiều, hạng giàu sang phú quý nào mà nó chưa gặp? Còn mụ phu nhân thì lộ rõ vẻ khinh miệt, chứng tỏ gia sản nhà mụ còn hơn nhà bà lão kia nhiều. Ở cái huyện nhỏ này, gia sản mà vượt cả người làm ăn lớn trên tỉnh thì chỉ có thể là quan chức cấp cao thôi. Còn bà lão này lại thích khoe khoang, chỉ sợ thiên hạ không biết nhà mình có tiền, loại này chỉ cần giăng bẫy một tí là dính ngay."
Lăng Quang Tổ lại dặn tôi: "Thằng nhãi, cứ theo sư phụ mà học hỏi, cái môn 'trông mặt bắt hình dong' này chính là bước đầu tiên của thuật xem tướng đấy."
Tôi gật đầu lia lịa.
Chiều hôm đó, chúng tôi đến một quán trà, đối diện quán là một ngôi nhà tường gạch, cửa gỗ có vòng đồng, sơn đen viền đỏ, bên cửa còn có hai con sư tử đá cao bằng nửa người. Cạnh sư tử đá là mấy cái cột buộc ngựa. Nhìn qua là biết ngay đây là một đại hộ giàu có.
Bàn bên cạnh có một ông cụ đang hút thuốc lá cuốn bằng lá thuốc khô, nhìn qua là biết dân bản địa rồi. Vùng này trồng nhiều thuốc lá, người ta hái lá về phơi khô, sấy rồi vò nát thành thuốc vụn để bán. Nhưng nhiều người chê loại thuốc đó nhẹ quá, nên cứ để nguyên mà cuốn lại hút cho nó "đã", lại rẻ vì đỡ tốn công chế biến.
Lăng Quang Tổ thấy ông cụ chưa gọi trà, liền bước tới dặn tiểu nhị: "Tiền trà của cụ đây cứ tính cho tôi."
Tiểu nhị bưng trà lên, ông cụ định móc tiền thì hắn chỉ tay về phía Lăng Quang Tổ: "Vị tiên sinh đằng kia đã trả giúp cụ rồi."
Ông cụ cảm kích đứng dậy, Lăng Quang Tổ cười niềm nở bước sang: "Tôi thấy cụ có tướng mạo hiền từ nên muốn tới trò chuyện đôi câu, gặp nhau cũng là cái duyên."
Thế là hai người bắt đầu hàn huyên chuyện gia đình, từ thời tiết sang mùa màng, rồi chuyện phong tục tập quán. Đang nói dở thì cửa ngôi nhà đối diện mở ra, một cô gái bước ra ngoài. Cô nàng tóc thắt bím dài, vòng eo thon thả, dáng người thanh mảnh, nhìn là biết ngay con nhà khuê các. Lăng Quang Tổ vờ như vô tình liếc nhìn một cái rồi bảo lão già: "Nhà này chắc là giàu có nhất vùng mình cụ nhỉ."
Ông cụ gật đầu: "Chứ còn gì nữa, con trai người ta làm ăn lớn, tiền bạc nhiều vô kể, con bé vừa rồi là con gái lão đấy."
Lăng Quang Tổ hỏi: "Buôn bán gì mà giàu thế cụ?"
Ông cụ đáp: "Buôn gỗ."
Lăng Quang Tổ hỏi: "Lão có mấy mụn con?"
Ông cụ đáp: "Ba cô con gái, muốn sinh con trai mà đi bao nhiêu lang trung rồi vẫn chẳng được."
Lăng Quang Tổ hỏi: "Thế còn lão thái gia đâu?"
Ông cụ tặc lưỡi: "Chết từ năm kia rồi."
Lăng Quang Tổ hỏi: "Chết sao thế cụ?"
Ông cụ nói: "Bị sét đánh trúng. Trời mưa mà lại đứng trú dưới gốc cây, bị đánh cho đen thui cả người, thảm thương lắm."
Lăng Quang Tổ không hỏi thêm nữa, lão tiếp tục tán chuyện phiếm với lão già một lúc rồi chào từ biệt.
Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ tại một quán trọ sang nhất huyện. Trưa hôm sau, Lăng Quang Tổ dẫn tôi tới tiệm may hôm trước, lão dặn tôi tuyệt đối không được nói câu nào, cứ đứng xem lão giăng bẫy là được.
Một lúc sau, bà lão thích khoe khoang kia tới lấy áo.
Đợi bà lão cầm áo đi ra, Lăng Quang Tổ liền đuổi theo chặn đường. Lăng Quang Tổ dùng ánh mắt dò xét nhìn bà lão, định nói gì đó rồi lại thôi, sau đó né sang một bên nhường đường. Bà lão lườm lão một cái rồi đi tiếp. Đi được vài bước, bà lại bị Lăng Quang Tổ chặn lại, lão vẫn cái vẻ úp úp mở mở rồi lại tránh sang bên. Lần này bà lão bực mình lên tiếng: "Ô hay cái nhà ông này, chặn đường tôi làm gì? Ông là ai?"
Lăng Quang Tổ lầm bầm như tự nói với mình: "Ái chà, nghiêm trọng quá, nói ra thì lộ thiên cơ, mà không nói thì chẳng yên lòng."
Bà lão hỏi: "Cái gì nghiêm trọng? Hôm qua tôi thấy ông ở tiệm may rồi, chẳng phải ông cũng tới may đồ đó sao?"
Lăng Quang Tổ nói: "Chính vì hôm qua gặp bà nên mới thấy có duyên, thành ra tôi muốn nói cho bà biết. Đêm qua trằn trọc mãi, đến hôm nay tôi mới quyết định đi tìm bà đấy."
Bà lão bảo: "Tôi có quen biết gì ông đâu."
Lăng Quang Tổ nói: "Tôi cũng chẳng quen bà. Nhưng nhìn ấn đường bà sạm đen, hai mắt vô thần, rõ là điềm báo con trai bà sắp gặp hạn to."
Vừa nghe nhắc tới con trai, bà lão giật mình thon thót: "Con tôi đang yên đang lành, có hạn hiếc gì chứ?"
Lăng Quang Tổ phán: "Ba năm trước bà đã gặp một hạn, năm nay lại thêm một hạn nữa. Ba năm trước hạn rơi vào chồng, ba năm sau hạn vận vào con."
Sắc mặt bà lão biến đổi hẳn, thớ thịt trên mặt giần giật.
Lăng Quang Tổ bảo: "Tôi hỏi bà điều này, bà chỉ cần trả lời đúng hay không thôi. Tôi nói sai thì cứ bảo sai."
Bà lão run rẩy: "Được."
Lăng Quang Tổ phán: "Nhìn chân mày bà, tôi thấy ông nhà đã mất vì tai ương từ ba năm trước, rất có thể là bị thiên lôi đánh trúng."
Bà lão chết lặng.
Lăng Quang Tổ bồi thêm: "Con trai bà làm ăn trên tỉnh, nhưng là hạng phi pháp, kiếm được quá nhiều tiền nên ông nhà mới phải chịu báo ứng thay. Nhìn khóe miệng bà thì thấy báo ứng cũng đã vận vào con trai bà rồi. Nó chỉ sinh được ba đứa con gái chứ không có con trai. Bất hiếu có ba tội, không có người nối dõi là tội lớn nhất."
Gương mặt bà lão hiện rõ vẻ buồn bã.
Lăng Quang Tổ lại phán: "Trong vòng ba ngày tới, con trai bà ắt gặp họa sát thân, phải gánh chịu báo ứng y hệt như cha nó vậy."
Dứt lời, Lăng Quang Tổ quay lưng bỏ đi. Đi được mười mấy bước, bà lão thất thần đuổi theo níu tay lão lại, mếu máo hỏi: "Giờ phải làm sao? Phải làm sao đây?"
Lăng Quang Tổ giữ vẻ mặt thâm trầm, chậm rãi nói: "Muốn tránh kiếp nạn này chỉ có một cách duy nhất. Đem hết vàng bạc trong nhà đóng gói lại, mang ra phía ngoài cửa Bắc chừng hai dặm, đến khi thấy có cây bách cổ thụ thì chôn ngay dưới gốc cây. Sau ba ngày mới được quay lại lấy, đảm bảo con trai bà cả đời bình an vô sự."
Bà lão vâng vâng dạ dạ, gật đầu lia lịa.
Lăng Quang Tổ dặn thêm: "Nhớ kỹ, tuyệt đối không được hé môi với ai, nếu không bùa chú sẽ mất linh đấy."
Bà lão rối rít cảm ơn rồi rời đi. Lăng Quang Tổ dẫn tôi ra khỏi cửa Bắc, đi thẳng chừng hai dặm đường. Nơi này là một bãi tha ma hoang lạnh, những người chết đường chết chợ, không thân thích đều được vùi thây tại đây; cả những kẻ phạm tội bị hành quyết cũng nằm lại chốn này. Quả nhiên nơi đó có một cây bách già, thân cây to chừng một vòng tay ôm. Một cây bách mà lớn chừng này chắc cũng phải sống đến mấy trăm năm rồi. Loài bách lớn chậm vô cùng, mười năm trời chắc cũng chỉ to bằng cái đũa, đúng là đi ngược lại quy luật "mười năm trồng cây" thông thường.
Lăng Quang Tổ bảo tôi nấp sau gò mộ, quan sát cây bách qua kẽ cỏ khô, còn lão thì nấp ở một bức tường đổ xa hơn. Lăng Quang Tổ dặn: "Đợi bà lão chôn xong vàng bạc rồi rời đi hẳn, mày hãy ra hiệu cho tao, cứ giơ tay lên là tao sẽ qua ngay."
Tôi thắc mắc hỏi: "Sao ông chắc chắn là bà lão sẽ tới?"
Lăng Quang Tổ khẳng định: "Bà ta mà không tới, lão tử tình nguyện chặt cái đầu này cho mày."
Dẫu tôi có sùng bái Lăng Quang Tổ đến mức nào đi chăng nữa, tôi vẫn thấy chuyện này có phần khó tin. Bà lão ấy dựa vào đâu mà tin lời lão, rồi lại dại dột đem vàng bạc châu báu trong nhà đi chôn giữa chốn đồng hoang mông quạnh thế này.
Nhưng Lăng Quang Tổ lại tin chắc như đinh đóng cột rằng bà ta sẽ đến.
Chiều hôm đó, chúng tôi nấp bên bãi tha ma ngoài cửa Bắc, lặng lẽ chờ đợi bà lão tìm đến, lén lút chôn giấu của cải dưới gốc bách già, để rồi khi bà ta đi khỏi, chúng tôi sẽ nẫng tay trên.
Vậy mà, chúng tôi đợi mãi cho đến tận lúc hoàng hôn buông xuống cũng chẳng thấy bóng dáng bà lão đâu.
Bãi tha ma vắng lặng không một bóng người, chỉ có những tàn cây cô độc và đám cỏ úa bầu bạn, chỉ có gió hoang và những hạt tuyết rơi rải rác ghé thăm. Hoàng hôn nơi bãi tha ma mang theo nỗi khiếp đảm khôn cùng, tưởng như có hàng vạn oan hồn đang âm thầm bò ra khỏi mộ, lặng lẽ bước đi giữa những nấm mồ hoang phế chẳng người nhang khói. Tôi chẳng dám nán lại thêm nữa, một nỗi sợ hãi không tên bủa vây lấy toàn thân.
Tôi quay trở lại cửa Bắc, Lăng Quang Tổ lầm lũi đi phía sau, trông lão có vẻ rầu rĩ lắm. Đợi lão đi lên, tôi mới mỉa mai: "Đêm nay ông chuẩn bị mà chặt đầu đi là vừa."
Lăng Quang Tổ lập tức lấy lại vẻ đắc thắng thường ngày, lão phán: "Đây là cái đầu của vị đại sư tướng số vĩ đại nhất trần đời, sao có thể tùy tiện chặt bỏ được?"
Vừa bước chân vào cửa Bắc, chúng tôi đã nghe người ta bàn tán về một vụ tai nạn vừa xảy ra lúc xế chiều. Có bà lão ôm bọc đồ đi ra cửa Bắc, chẳng may bị một con ngựa lồng lên dẫm chết, bọc đồ văng ra, vàng bạc châu báu rơi vãi khắp mặt đất.
Đến giờ tôi cũng chẳng nhớ rõ mình đã ở lại cái huyện thành đó bao lâu, chắc chừng năm ngày hay một tuần gì đó, nhưng tuyệt nhiên không lâu hơn. Bởi Lăng Quang Tổ đã nói, nếu còn nán lại lâu hơn sẽ có họa sát thân hoặc lao tù bủa vây. Lão Cao thái gia một khi tỉnh ngộ chắc chắn sẽ tìm chúng tôi tính sổ.
Trong những ngày ở đó, chúng tôi đã làm ba việc. Việc thứ nhất là lừa của Cao thái gia một trăm đồng bạc, việc thứ hai là vô tình đưa bà lão thích khoe khoang kia xuống âm phủ, và việc thứ ba là yểm bùa cho một gia đình nọ.
Cái gọi là yểm bùa, nói nôm na chính là "giăng bẫy".
Từ nhỏ tôi đã thích chạm khắc, có lẽ tôi cũng có khiếu về môn này. Nếu năm xưa tôi không bị bắt cóc, hoặc nếu bị bắt rồi mà Vương Tế Quỷ chịu bỏ tiền chuộc tôi về, thì đời tôi chắc đã rẽ sang một hướng khác, lớn lên có khi đã trở thành một nhà điêu khắc không chừng. Dẫu không thành danh thì ít ra cũng sống một đời vinh hoa phú quý.
Thuở nhỏ tôi thích chạm khắc nhưng lúc đó chẳng biết gọi tên là gì. Người làng cứ bảo tôi vẽ vời vớ vẩn, chẳng lo làm việc chính. Tôi luôn giấu trong người một con dao nhỏ, hễ có dịp là lại lén vạch một đường. Dưới gầm mỗi chiếc ghế ở lớp học tư thục, tôi đều bí mật khắc hình lên đó. Dưới ghế của mình tôi khắc con chim én, dưới ghế của bạn học đứa thì con cua, đứa con nhện, đứa con cóc, riêng dưới ghế của thầy giáo, tôi khắc hẳn một con rùa. Mỗi lần lên lớp, nhìn thầy ngồi chễm chệ bên trên, vẻ mặt nghiêm nghị, tôi lại nghĩ đến cảnh ông ấy đang cưỡi trên lưng rùa mà buồn cười không chịu nổi. Có lần thầy ngồi không vững làm ghế đổ nhào, lúc ấy bí mật của tôi mới bại lộ. Thầy mở cuộc điều tra, cuối cùng cũng tóm được thủ phạm là tôi, kết quả là lòng bàn tay tôi bị thầy dùng thước gỗ đánh cho sưng vù như quả chuối.
Sau này vào gánh xiếc, tôi tất bật suốt ngày như những người thổi kèn ở đám ma đám cưới. Ở vùng chúng tôi, người ta gọi bọn họ là "Quy Tư". Mỗi khi có hỷ sự hay tang ma, đám “Quy Tư” cứ phải thổi hết bài này đến bài khác, người ta được ăn mà họ vẫn phải thổi, đúng là hạng bận rộn bậc nhất.
Giờ đây, đến cái huyện nhỏ này, hiếm hoi lắm mới có mấy ngày rảnh rỗi, niềm đam mê chạm khắc trong tôi lại trỗi dậy mạnh mẽ.
Trong huyện có một thợ khắc dấu còn khá trẻ, hễ rảnh là tôi lại mò tới xem gã làm việc. Gã khắc rất tập trung, tay trái giữ phôi, tay phải cầm dao, mỗi lần đưa dao xong lại thổi nhẹ một cái để bay đi lớp mạt gỗ. Tôi đứng bên cạnh mà nhìn đến ngây người, dáng vẻ tập trung của gã khiến tôi mê mẩn, và cả những con dấu gã khắc ra cũng khiến tôi không thể rời mắt. Có lần, tôi thấy một giọt nước mũi trong vắt treo lửng lơ nơi đầu mũi gã, chực rơi xuống mà gã cũng chẳng buồn lau. Tôi nghĩ, một người thợ mà tâm huyết với nghề đến mức ấy thì cái nghề đó ắt hẳn phải là một nghề cao quý lắm.
Trên sạp của gã có mấy con dao khắc hình trụ bốn cạnh, lưỡi dao ngắn nhưng sáng loáng, cán dao dài đen tuyền. Con dao trước đây của tôi chỉ là mảnh sắt vụn tự mài, sao mà sánh được với con dao chuyên dụng đẹp đẽ này cơ chứ?
Tôi hỏi gã thợ: "Anh cho em sờ thử con dao một tí được không?"
Gã khó chịu gắt: "Đi chỗ khác mà chơi, đồ nghề là sinh mạng của thợ, sao tùy tiện đụng chạm được? Mày thử cởi quần đứng giữa đường cho thiên hạ sờ chim xem có chịu được không?"
Tôi nghĩ bụng, gã nói cũng phải, nhưng vì quá khao khát có một con dao như thế, tôi liền bảo: "Vậy anh bán cho em một con nhé?"
Gã bảo: "Mày thấy ai bán đi nồi cơm của mình bao giờ chưa? Cút, cút ra chỗ khác."
Tôi vẫn chưa bỏ cuộc, cứ lỳ ra đó, hỏi: "Vậy anh chỉ cho em chỗ nào bán với?"
Gã hất hàm: "Ra phía cửa Nam, chỗ có tiệm rèn đấy, vào đó mà hỏi."
Muốn mua dao thì phải có tiền, mà tôi thì lấy đâu ra. Tôi tìm đến Lăng Quang Tổ nói muốn mua dao khắc. Lăng Quang Tổ suy nghĩ một lát rồi sảng khoái đưa cho tôi một đồng bạc, căn dặn: "Học cho giỏi vào, khắc cho khéo vào, sau này ắt có lúc dùng đến."
Tôi cầm đồng bạc chạy tót ra cửa Nam, quả nhiên tìm thấy một tiệm rèn trong con ngõ nhỏ. Lửa trong lò đang cháy hừng hực, bên trên phủ một mảnh ngói. Lão thợ rèn mang tạp dề da, cậu thợ nhỏ thì mải miết kéo bễ. Tiếng bễ kêu phì phò, lửa hắt lên hầm hập. Lão thợ tay trái cầm kìm kẹp một thanh sắt đỏ rực từ trong lò ra đặt lên đe, tay phải vung chiếc búa nhỏ. Cậu thợ nhỏ đứng khỏi ghế, vung chiếc búa lớn. Tiếng búa nhỏ đập xuống thanh sắt, búa lớn lập tức đập theo, búa nhỏ chỉ đâu búa lớn đập đó, búa nhỏ như gà mổ thóc, búa lớn như sấm sét nổ vang. Mỗi nhát búa nện xuống, tàn lửa và vảy sắt lại bắn tung tóe, từ màu đỏ chuyển sang đen, rơi trên tạp dề của lão thợ, vương vãi khắp mặt đe đen bóng và cả nền đất.
Thanh sắt đỏ rực ấy nguội dần, rồi cong lại thành hình dạng một cái cuốc.
Lão thợ và cậu thợ nhỏ mồ hôi nhễ nhại, mãi mới chịu dừng tay. Lão thợ nhìn tôi, quệt mồ hôi trên trán rồi hỏi: "Bé con, làm món gì đấy?"
Tôi bảo: "Cháu muốn mua dao khắc."
Lão hỏi: "Dao khắc gì?"
Tôi đáp: "Dạ, loại dao để khắc dấu ạ."
Lão bảo: "Không có sẵn đâu."
Tôi nói: "Vậy bác làm cho cháu một con đi, anh thợ khắc dấu chỗ miếu Thành Hoàng nói bác rèn khéo lắm."
Lão cười: "À, hóa ra là thằng khắc dấu. Được rồi, rèn cho mày một bộ, một bộ là phải có năm con đấy."
Tôi bảo: "Cháu không lấy cả bộ đâu, chỉ cần một con khắc được là tốt rồi."
Lão bảo: "Một con thì một con, ngồi đấy đợi tí là xong."
Lão thợ rèn bới trong đống đồ nát ra một thanh sắt nhỏ rồi ném vào lò lửa. Chẳng mấy chốc, lão đã gắp thanh sắt đỏ rực ra, gõ gõ đập đập thành hình lăng trụ bốn cạnh, mài vát một đầu rồi nói: "Xong rồi đấy."
Tôi đưa lão một đồng bạc, lão trả lại cho tôi một mớ tiền lẻ. Tôi giấu thanh sắt đã nguội vào người, chạy ra bờ sông, chọn một phiến đá phẳng mà mài giũa tỉ mỉ, cuối cùng cũng có được một con dao khắc sắc lẹm.
Con dao ấy trở thành vật báu của tôi, tôi luôn mang theo bên mình, hễ thấy cái gì cũng muốn khắc một nhát. Lăng Quang Tổ hỏi: "Mày biết khắc thật không đấy?"
Tôi vỗ ngực: "Chuyện nhỏ, ông bảo khắc gì con khắc nấy."
Lăng Quang Tổ nói: "Vậy mày khắc một chiếc xe kéo lên bậu cửa kia xem nào."
Tôi tháo tấm ván bậu cửa của lữ quán ra, ôm vào lòng, cầm dao khắc đưa vài đường, loáng một cái trên tấm ván đã hiện ra hình một chiếc xe kéo nhỏ xíu.
Lăng Quang Tổ vỗ tay cười lớn: "Tốt lắm, tốt lắm! Hôm nay chúng ta ra ngoài, tìm nhà nào đang làm nhà mà yểm cho chúng một mẻ."
Chúng tôi rời quán trọ, lững thững đi dọc phố phường. Tôi theo sau Lăng Quang Tổ, trông lão chẳng khác gì một tay buôn sành sỏi đương đi tìm mối làm ăn. Hễ gặp nhà nào cao cổng kín tường, lão lại dừng chân quan sát, ngẫm nghĩ hồi lâu. Thấy có người tò mò hỏi han, lão liền bảo: "Tôi đi tìm người thân mà quên mất nhà ở đâu rồi." Người ta nhiệt tình giúp đỡ: "Người thân ông tên gì, để tôi dẫn đi." Lăng Quang Tổ đáp: "Tôi chỉ biết tên hồi nhỏ của nó là Ngai Cẩu thôi, còn tên thật thì chịu." Người ta vò đầu bứt tai nghĩ xem ai tên Ngai Cẩu, tôi đứng sau nghe mà suýt phì cười, vì Ngai Cẩu chính là tên tôi chứ ai. Thấy người ta không nghĩ ra, Lăng Quang Tổ lại nói: "Thôi để tôi tự tìm vậy, không dám phiền bác." Thế là chúng tôi lại đi tiếp.
Đi hết nửa huyện thành, chúng tôi dừng lại trước một ngôi nhà đang khởi công, tường gạch đã xây xong, gỗ nằm la liệt một bên. Thời đó nhà cửa chưa có sàn bê tông, toàn là kiến trúc gạch gỗ. Dựng một căn nhà cần có xà ngang, rui mè, cột trụ, rồi nhào trộn vôi vữa để gắn kết những viên gạch lại với nhau tạo thành bức tường vững chãi. Giờ người ta dùng xi măng cát rồi, chứ hồi đó toàn là vôi trắng cả.
Tường gạch xây xong, thợ nề nghỉ ngơi để thợ mộc vào việc. Thợ mộc dựng cột sát tường, gác xà lên cột, rồi rải rui mè lên xà. Thế là khung nhà hiện ra.
Thợ mộc làm xong thì đến lượt thợ nề trát vữa. Họ trải lớp cót ép bằng sậy lên rui mè, phủ một lớp bùn trộn rơm rạ mỏng lên trên, rồi cứ thế xếp từng viên ngói san sát nhau. Vậy là xong một ngôi nhà.
Nhà giàu thì dùng gỗ tùng làm xà, làm rui, gỗ tùng lớn chậm nên giá đắt vô cùng. Nhà càng giàu thì xà cột càng to. Còn đám dân nghèo hèn chỉ dùng tường đất, gỗ dương, gỗ ngô đồng che đậy tạm bợ, hoặc là đào hầm trên vách núi, đắp cửa đất mà ở, chẳng khác gì loài chuột chui rúc dưới lòng đất cả.
Gia đình này chắc chắn là hạng lắm tiền nhiều của, vì mấy cây xà nằm trên đất to chừng một vòng tay ôm, đến cả rui mè cũng to bằng bắp đùi tôi. Nhìn mặt cắt của gỗ thấy những đường vân dày đặc, đủ biết là gỗ quý rồi.
Lúc ấy đám thợ đã đi ăn cơm cả, chỉ còn một lão già chừng năm mươi tuổi trông coi công trường. Lão già mắt đỏ hoe, dáng người nhỏ thó, áo quần rách rưới, rõ là dân lao động chân tay nghèo khổ.
Lăng Quang Tổ thì thầm vào tai tôi: "Tao ra đánh lạc hướng lão già, mày lẻn vào khắc một chiếc xe kéo lên cây xà kia cho tao. Nhớ nhé, khắc ngay chính giữa, thật nhỏ thôi, đừng để ai phát hiện ra."
Tôi tò mò hỏi: "Khắc cái đó làm gì thế?"
Lăng Quang Tổ gắt: "Bảo khắc thì cứ khắc đi, sao mà lắm lời thế."
Tôi dỗi: "Ông không nói thì con chẳng khắc đâu." Tôi thừa biết giờ lão đang cần đến tôi nên mới làm mình làm mẩy thế.
Lăng Quang Tổ cười xòa: "Thôi được rồi, khắc xong tao kể cho mà nghe. Chiếc xe kéo này đáng giá cả trăm đồng bạc đấy chứ chẳng chơi."
Lăng Quang Tổ bước tới chào hỏi rồi bắt chuyện với lão già, cố ý đứng xoay lưng về phía tôi. Nhân lúc lão già không để ý, tôi lẻn vào đống gỗ, rút dao khắc một chiếc xe kéo bé bằng con nhện ngay giữa cây xà thô nhất.
Khắc xong tôi tiến lại gần bọn họ, Lăng Quang Tổ vẫy tay chào lão già rồi chúng tôi cùng rời đi.
Đêm đó ở quán trọ, tôi lại gặng hỏi chuyện chiếc xe kéo ban chiều.
Lăng Quang Tổ không giải thích mà kể cho tôi nghe một câu chuyện. Lăng Quang Tổ nói, vào năm Quang Tự đời Thanh, có một gia đình nọ xây được ngôi nhà lớn, vốn là chuyện đại hỷ. Thế nhưng từ ngày dọn về nhà mới, tai họa cứ liên tiếp giáng xuống: con trai chết đuối, con gái bạo bệnh qua đời, rồi người cha ốm liệt giường, của nả trong nhà cứ không cánh mà bay, hỏa hoạn thì xảy ra như cơm bữa. Từ một gia đình giàu nứt đố đổ vách bỗng chốc khánh kiệt, cái gì bán được đều đem bán sạch. Cuối cùng chẳng còn gì để bán, họ đành dỡ nhà bán ngói. Lúc hạ cây xà xuống, người ta bàng hoàng thấy trên đó khắc hình một chiếc xe ngựa. Hóa ra bao năm qua, chính chiếc xe ấy đã chở gia sản nhà họ ra ngoài. Kẻ nào làm chuyện đó? Chính là gã thợ mộc. Lúc dựng nhà, chủ nhà tiếp đãi thợ mộc không chu đáo, gã liền giở trò trấn yểm, khiến gia tài của họ cứ thế mà tiêu tan theo mây khói.
Lăng Quang Tổ kể tiếp một chuyện nữa xảy ra vào năm Đạo Quang. Một nhà giàu nọ dựng nhà xong thì người con trai học hành đỗ đạt, đã trúng cử nhân, tương lai làm quan rộng mở bỗng dở chứng nghiện cờ bạc. Cờ bạc như cái hố không đáy, bao nhiêu tiền của đổ vào cũng chẳng đủ. Đời người sợ nhất năm thứ "ăn, uống, đĩ bợm, cờ bạc, hút xách", hai thứ đầu còn chưa đến nỗi trắng tay, chứ ba thứ sau thì đúng là sát nhân không dao, bao nhiêu nhà giàu đều lụn bại vì chúng cả. Thằng con trai nợ như chúa chổm, chủ nợ đến đòi, lão cha không có tiền trả đành phải dỡ nhà mà bán. Lúc phá bức tường sau nhà, người ta thấy giữa kẽ gạch có một viên gạch khắc hình xe kéo. Tiền của nhà này cũng bị xe kéo chở đi sạch. Ấy là do lúc xây nhà, chủ nhà không "biết điều" với thợ nề nên bị họ yểm bùa cho đấy thôi.
Tôi chợt hiểu ra, hóa ra cái xe ấy chính là một lời nguyền. Nhà giàu thường thích treo tranh sơn thủy, chim muông, hổ, ngựa, chứ chẳng ai treo tranh có hình cái xe bao giờ. Xe sẽ chở hết tiền bạc trong nhà đi, dù có giàu cỡ nào cũng có ngày trắng tay.
Lăng Quang Tổ nói: "Giờ thì mày đã hiểu vì sao phải khắc hình cái xe lên xà nhà của nhà kia chưa?"
Tôi hỏi: "Ông quen nhà đó à? Họ đắc tội gì với ông sao?"
Lăng Quang Tổ cười nhạt: "Chẳng quen, cũng chẳng thù oán gì. Nhưng vì nhà đó có tiền, mà người giàu thì đều là kẻ thù của lão tử cả. Tiền bạc trong thiên hạ vốn chia đều cho mỗi người một phần, nhưng lũ chúng nó lại cướp sạch phần của tao, của cả mày nữa, nên tao phải lấy lại cho bằng được."
Tôi hỏi: "Lấy bằng cách nào?"
Lăng Quang Tổ cười bí hiểm: "Ba năm sau quay lại đây, mày sẽ thấy kết cục của chúng nó."

(Tổng: 9329 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0